TRÔNG VỜI CHIẾN HẠM TA ĐÂU

 
Nguyễn tấn Kiện

An Nam ta từ thời Trịnh, Nguyễn phân tranh cho đến ngày hôm nay, 07-07-2015 chưa bao giờ kiến trúc được chiến hạm. Các c/h mà HQ/VNCH dùng trong chiến tranh tự vệ chống Việt Cọng, do quân Pháp để lại một số, sau khi rút khỏi VN năm 1954, số còn lại do quân Mỹ cho mượn và gần cuối tháng 4 năm 1975, Mỹ đã phái 1 Adm. đến gặp Đ/Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư lệnh Hạm Đội để đòi lại (theo qui ước viện trợ quân sự giữa VN và Mỹ, nếu chiến hạm nào VN không xử dụng nữa, thì phải giao trả lại cho Mỹ). Hầu hết các c/h nầy, HQ/VNCH đã giao trả lại cho HQ Mỹ lúc 12:00 PM ngày 07 tháng 5 năm 1975, ngoài khơi vịnh Subic, Philippine.

Trong thời gian từ 1954-70 hải phận VNCH được bảo vệ bởi Hải đội 1 Duyên phòng, tổng số c/h của Hải đội 1 gồm 35 chiếc : 2 Trục lôi đỉnh (HQ115, HQ116), 19 Tuần duyên hạm PGM (HQ601, 602, 603 …HQ619), và 14 Hộ tống hạm PC, PCE (HQ 01, 02 …HQ 14). Bờ biển N. VN từ ranh giới Cao Mên đến Vỹ tuyến 17 dài chừng hơn 1000 Hải lý ( =1,852 Km). Hàng ngày có hơn 50% số c/h nầy phải nghỉ bến, sửa chửa, tham gia huấn luyện … HQ115 & HQ116, HQVN đã phế thải từ 1968, HQ06 được viện trợ cho HQ Cao Mên 1969, do đó hang ngày chỉ có chừng 12 c/h củ kỉ, lỗi thời, thực sự đang thi hành công tác bảo vệ hải phận N.VN. Từ 1970-75, Hải đội 1 được Mỹ cho mượn thêm 2 chiếc DD (HQ1, HQ4) và 7 chiếc WHEC (HQ2, HQ3, HQ5, HQ6, HQ15, HQ16 và HQ17). Hầu hết các chiến hạm nầy HQ Mỹ đã phế thải từ sau Đệ nhị thế chiến vì đã lỗi thời nên có hỏa lực kém cỏi và vận tốc chậm chạp, đã vậy khi bàn giao cho VN, Mỹ đã không giao các c/h nầy với cơ phận và vũ khí khiển dụng tốt như HQ1, HQ4 các giàn phóng hỏa tiển chỉ có dàn phóng, mà không có tên lửa, các nòng súng 5.38″ (127 ly) trên mấy chiếc WHEC đã dùng quá độ, suốt các năm 1969-70 trong chiến dịch Market Time, Hạm trưởng chiếc WHEC380 là Cap. W.F. Barlett có nói với tôi: “sau khi bàn giao cho VN, c/h nầy sẽ có chương trình sửa chửa toàn diện các cơ phận tai Guam, anh là SQ hải pháo, nhớ nhắc nhỡ Cap. Nguyen Tam (K5), thay nòng súng 5.38″, vì súng nầy đã tác xạ hơn mấy trăm lần rồi”, (tháng 4 năm 1970 sau 2 tuần c/h nầy về VN, thì tôi được lệnh thuyên chuyển đến HQ472, nên không biết nòng súng nầy có được thay?). Chiến hạm tốt là c/h có vũ khí tối tân, tốc độ cao, và nhất là có 1 thủy thủ đoàn ưu tú. Các SQ và đoàn viên phải được huấn luyện hàng ngày về các nhiệm sở quan trọng như hải hành, phòng tai, tác chiến, đào thoát … Đoàn viên trên c/h cần có sức khỏe thật tốt mới chịu đựng được công việc nặng nhọc,sóng gió và nỗi buồn xa vắng vợ con, người tình… Cho nên vấn đề ẩm thực rất quan trọng đối với người thủy thủ, so sánh khẩu phần của người th/thủ VN với th/thủ Mỹ trên chiếc WHEC380, tôi thấy sự cách biệt về phẩm và lượng quá sức tưởng tượng, để có khái niệm về sự so sánh nầy, tôi nhớ sau khi HQ Mỹ bàn giao c/h nầy cho HQVN đầu tháng 4,1970, (USCG Cutter Yakutat WHEC 380 đổi tên thành Tuần Dương Hạm Trần Nhật Duật HQ3), khoản chừng đầu năm 71, HQ3 có dịp cặp cầu Cam Ranh thăm viếng, Hạm phó là Trung Tá Trần Đình Trụ (K8), người đã chỉ huy chiếc Thương thuyền VN Thương Tín, từ Guam về VN năm 1975, đã mời vợ chồng tôi ăn cơm chiều trên HQ3, tôi nhận ra các món ăn rất quen thuộc như T-bond steak, potato crush cod fillets, soup măng cua, bánh ngọt…Số thực phẩm mà tàu WHEC380 nhận t/tế lần sau cùng cho th/thủ đoàn chừng 30 lính Mỹ và chừng 100 lính VN, để dùng trong thời gian chừng 3 tháng, mà nay vẫn còn, sau gần cả năm!

 

Trong thời gian phực vụ trên các c/h từ 1967 đến 1972 (HQ602, HQ613, HQ226, WHEC380, HQ472), và Trường CH Cam Ranh (72-74), tôi đã có dịp hải hành khắp 4 Vùng duyên hải, các hải đảo xa xôi, ghé thăm hầu hết các hải cảng trong vùng Đ.N. Á (Hồng Kông, Cao Shung (Đài Loan), Bang Kok, Singapore và Subic bay những 4 lần), thế mà rất it khi tôi găp 1 c/h nào của HQ/VN, còn chiến hạm Mỹ thì tôi đã gặp vô số, đôi khi c/h Mỹ còn vận chuyển với tư thế đe dọa c/h tôi, và còn hỏi c/h tôi những câu thật vô lễ như: “cô từ đâu đến, cô đang làm gì ở đây?” ngay cả trong hải phận VNCH. Khi c/h tôi có việc cần vào Chu Lai hay Cam Ranh thì HQ mỹ cho những khinh tốc đỉnh vận chuyển với tư thế ngăn chặn, đe dọa… làm như nước VN ta đã bi chúng đô hộ rồi !

Dưới triều đại vua Tự Đức (1847-1883), quân Pháp chỉ dăm, ba CH và trên dưới 5000 quân mà chúng đã xâm chiếm An Nam ta 1 cách dễ dàng (chiếm Đà Nẳng 1858, chiếm Sài Gòn 1862, chiếm kinh đô Huế 1885). Cũng dưới triều đại nầy, giặc dã nổi lên khắp nơi, các thương thuyền trên hải trình từ Nam ra Bắc và ngược lại, thường bị hải tặc cướp phá. Vua Tự Đức đã phái 1 tướng lãnh đi tuần tra vụ, việc (tôi đã quên tên vị tướng nầy!), Vị tướng nầy đã b/c về sự yếu kém, phôi thai của HQ ta thời đó, và đề nghị với vua Tự Đức cần phải khẩn cấp canh tân quân đội, để theo kịp các nước trên thế giới, tiếc thay vua TĐ và đám quan lại tối nước, vô dụng, chỉ ham chuộng hư văn, thi phú, tự cao, tự đại “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán, Thi đến Tùng, Tuy thất thịnh Đường”. Vị Tướng nầy đã kết thúc bảng điều trần nầy với 2 câu thơ:

“Trông vời chiến hạm ta đâu?
Đèn chài le lói, thuyền câu một vài!”

Tuan duong ham Tran Binh Trong HQ5, Tran Nhat Duat HQ3 tai Subic Bay .jpg

Tài Liệu của Ðại Úy Vĩnh, Hùng, Trung Úy Son, Hợi, Thiếu Úy Khuyến, Ðảo.. và Mường Giang

</div>
<p><span style="font-size:medium;">Liên Đoàn 925 Lưu Động Ðịa phương, gồm có 3 Tiểu Đoàn (212, 229, 248) và 1 trung đội Pháo Binh (2 khẩu 105 ly) thuộc quyền sử dụng thông qua 1 sĩ quan liên lạc Pháo Binh. BCH Liên Đoàn (liên đoàn trưởng là Ðại Tá Lại Văn Khuy), nguyên trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42/SÐ22BB, mới về nhậm chức, chịu trách nhiệm an ninh lãnh thổ với BCH Tiểu Khu, tại bốn quận miền Bắc gồm Hòa Ða, Hải Ninh, Phan Lý Chàm và Tuy Phong.</span></p>
<p>Chiều ngày 16 4 1975, tiền đồn Ðá Chẹt (Ðại Ðội 4/TÐ248 ÐP, đơn vị tuyến đầu của Tiểu Khu Bình Thuận giáp ranh với Ninh Thuận), do Trung Úy Nguyễn Tấn Hợi chỉ huy, báo cáo có 1 đoàn xe với chiến xa PT 76 và T54 yểm trợ đang di chuyển về hướng Nam trên Quốc Lộ 1 và dừng lại bên kia ranh giới thuộc lãnh thổ Ninh Thuận vì lúc đó có rất nhiều chiến hạm của Việt Nam Cộng Hòa đang hiện diện tại vịnh Cà Ná. Liên Đoàn báo về Tiểu Khu nhưng nhiều lần Tiểu Khu vẫn khẳng định “Ðó là đoàn xe di tản của Ninh Thuận…?” Hải Quân có pháo vào vài quả nhưng đoàn xe địch vô sự.</p>

Ðầu tháng 4 1975, Tiểu Đoàn 229 (tiểu đoàn trưởng là Thiếu Tá Tiến) được điều động từ phía Bắc đồn Lương Sơn (trên lãnh thổ quận Hòa Đa) về bảo vệ thành phố Phan Thiết theo lệnh của Tiểu Khu. Tiểu Đoàn 248 (tiểu đoàn trưởng là Thiếu Tá Xuân) chịu trách nhiệm tuyến đầu trên lãnh thổ quận Tuy Phong và đặt BCH/TÐ tại cầu Ðại Hòa (trên Quốc Lộ 1). Tiểu Đoàn 212 (tiểu đoàn trưởng là Thiếu Tá Quân) chịu trách nhiệm tuyến 2 phía Nam đồn Lương Sơn cũng thuộc lãnh thổ quận Hòa Đa. Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn và BCH/TÐ212 cùng đồn trú tại đồn Lương Sơn. Ðoàn xe của địch quân vẫn ở nguyên vị trí cho đến ngày 16 tháng 4 bên kia tiền đồn Ðá Chẹt.

<p>Khoảng 4 giờ chiều ngày 16 tháng 4, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 925 Lưu Động Ðịa Phương mất hẳn liên lạc truyền tin với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Thuận, lúc đó gồm 3 bộ phận: BCH Tiền Phương của Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa đóng tại Lầu Ông Hoàng, BCH Nhẹ do Trung Tá Ðỗ Trọng Trí, tiểu khu phó kiêm tham mưu trưởng + Phòng 3/TK chỉ huy, đóng tại Trung Tâm Chiêu Hồi ở Vĩnh Phú và Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu do Thiếu Tá Phạm Minh, Tham Mưu Phó Hành Quân & Tiếp Vận chỉ huy (không biết vì lý do kỹ thuật hay đài tiếp vận Tà Dôn đã di tản), Tiểu Đoàn 248 và 4 Chi Khu Bắc Bình Thuận) (?). Nhưng căn cứ theo tài liệu của các sĩ quan chỉ huy lúc đó thì máy truyền tin của ba BCH/TK Bình Thuận vẫn hoạt động ngày đêm, hơn nữa qua PRC25 có thể liên lạc trực tiếp với TD249/DP của Ðại Úy Huỳnh Văn Quý .. đang chiến đấu tại Phú Long, không xa Lương Sơn là mấy).</p>
<p>Lúc đó BCH Liên Ðoàn 925 đã dời từ Sông Mao về Lương Sơn, do TÐ212/ÐP bảo vệ nên Ðại Tá Khuy ra lệnh cho Tiểu Đoàn này phải tháo gỡ một số mìn chống chiến xa ở một vài vị trí không cần thiết và gài đặt lại ở những vị trí mới như cầu Phan Rí Cửa, cửa dốc Bà Chá để cản bước tiến của địch quân và vài nơi khác, bảo vệ đồn Lương Sơn. Ðồng thời cho mở kho phát hết súng chống chiến xa M72 cho binh sĩ.</p>
<p>+ Ðại Ðội 1, Tiểu Ðoàn 212 /Liên Ðoàn 925 ÐP/Bình Thuận Bắn Cháy Xe Tăng CSBV:</p>
<p>Theo Thiếu Úy Ðỗ Văn Khuyến (đại đội phó ÐÐ4/Tiểu Ðoàn 212 ÐP) và Thiếu Úy Bùi Ðảo (đại đội phó/ÐÐ3/TÐ212) đã xác nhận các sự kiện lịch sử có liên quân tới “Trận Phục Kích Bắn Cháy Chiến Xa Của CSBV tại Lương Sơn” vào đêm 16 4 1975 Lúc đó Tiểu Ðoàn 212 ÐP được phối trí như sau:</p>
<p>Ðại Ðội 1 do Ðại Úy Vĩnh (hiện ở Hoa Kỳ) chỉ huy, bố trí tại đồi Cát Ðỏ trước mặt xóm Nùng. Vị trí này nằm gần dốc Bà Chá và xóm Ruộng, có một bến phà vượt sông Lũy ra QL1 (đoạn đường sông Lũy, suối Nhum, Lương Sơn). Do trên Ðại Úy Vĩnh đã cho đặt một hàng rào Mìn Chống Chiến Xa từ xóm Nùng tới xóm Ruộng để phòng thủ vị trí đóng quân.</p>
<p>Ðêm 16 rạng ngày 17/4/1975, quân CS Bắc Việt sau khi vượt qua các quận Tuy Phong, Hòa Ða, Phan Lý Chàm … tiến tới xóm Nùng Lương Sơn (không phải xóm Nùng tại suối Nhum sông Lũy) thì vướng Bãi Mìn Chống Chiến Xa của Ðại Ðội 1/TÐ229 ÐP khiến nhiều chiếc bốc cháy. Những xe tăng còn lại bắn trả dữ dội tứ phía. Do đó Ðại Ðội I phải nằm yên tại vị trí cũ ở trên đồi cát nên dù VC pha đèn sáng trưng tìm kiếm vẫn không phát giác được tung tích của ta. Cuối cùng chúng cho một bộ phận nhỏ tiếp tục tiến về hướng Lương Sơn. Số còn lại quay về hướng Phan Rí.</p>

<p>BCH Tiểu Ðoàn 212 đóng chung với BCH Liên Ðoàn 925 ÐP của Ðại Tá Khuy trong căn cứ Lương Sơn, có Ðại Ðội 2 và 3 /212 do Thiếu Tá Quân chỉ huy. Khi nhận được báo cáo của ÐÐ1/212 ÐP phát hiện xe tăng CSBV đang di chuyển trên Quốc Lộ 1 gần Lương Sơn, nên các đơn vị trú đóng tại các căn cứ, được lệnh phải di tản ra khỏi đồn để tránh pháo rồi sáng trở về chỉ để lại một bộ phận nhỏ phòng thủ đồn mà thôi. Ðoàn quân di chuyển về hướng Bắc kéo theo 2 khẩu đại bác 105 ly và toàn bộ đạn pháo vượt sông Lũy đến vị trí mới (đồn Lương Sơn cũ) bố trí quân chờ trời sáng.</p>
<p>Tiếng nổ vang trời bùng lên một vùng sáng chói đồng thời tiếng xích tiếng xe ngưng bặt. Bảy chiếc T54 trong đoàn xe của chúng đã cán phải bãi mìn chống chiến xa của ÐÐ1/212 và bốc cháy tại cửa dốc Bà Chá. Lúc đó đồng hồ đúng 3 giờ sáng rạng ngày 17 tháng 4 1975. Do tổn thất quá nặng nên CSBV phải mất một thời gian khá dài để tải thương dọn xác và ổn định lại hàng ngũ mới tiếp tục lên đường. Chiếc T54 khác dẫn đường. Đoàn xe đến trước đồn Lương Sơn lúc trời chưa sáng.</p>
<p>Tối 17/4/1975, các cánh quân còn lại của Liên Ðoàn 925 có Ðại Ðội 1/212 của Ðại Uý Vĩnh qua sông Lũy tới suối Nhum, băng qua mật khu Lê Hồng Phong ngang Bàu Trắng để ra bãi biển chờ chiến hạm HQ tới cứu. Sáng ngày 18/4 quân ta tới hòn Rơm thì đụng trận với VC dữ dội nên mãi tới chiều 18/4 mới tới được hòn Hồng, hòn Nghệ gần Mũi Né và bố trí quân trong đêm. Trong cuộc đụng độ này, tuy ÐÐ3/212 mở đường nhưng ÐÐ2/212 lại chạm địch nặng. Ngoài ra Ðại Úy Bá (tiểu đoàn phó TÐ212/ÐP) đã dẫn một cánh quân đi ngược đường về Lương Sơn và mất tích luôn từ đó đến nay.</p>
<p>Sáng ngày 19 4 1975 tại bờ biển hòn Rơm, Ðại Úy Vĩnh đi với một hiệu thính viên trên một chiếc thuyền nhỏ ra biển và tìm được 3 thuyền đánh cá lớn. Nhờ vậy đã chuyển được số quân nhân còn lại của TD212 vào Vũng Tàu. Trên biển khi đoàn ghe tới Bình Tuy thì gặp được Chiến Hạm HQ nên tất cả chuyển qua tàu lớn về Nam.</p>
<p><br /></p>
<p>Còn Ðại Ðội 4/212 của Trung Úy Thê lúc đó đang đóng tại Cây Táo. Sau khi nhận được tin tiểu đoàn đã rút ra hòn Rơm nên cũng bỏ vị trí rút theo. Sau đó đại đội này liên lạc được với Chi Khu Hải Long, cho biết vào lúc 9 giờ sáng ngày 18 4 1975, Thiếu Tá Hàng Phong Cao sẽ di tản. Nhờ vậy đơn vị này cũng tháp tùng theo Chi Khu về Vũng Tàu.</p>
<p>Trong cuộc lui quân của BCH Liên Ðoàn 925 và TÐ212/ÐP, theo lời kể của các quân nhân dưới quyền, thì chính Ðại Úy Vĩnh ngoài việc chỉ huy Trận Phục Kích Bắn Cháy Xe Tăng của CSBV tại Lương Sơn, ông còn đưa đưọc tiểu đoàn vào Vũng Tàu an toàn. Theo tất cả nhân chứng có mặt tại chiến trường trong đêm 16 rạng ngày 17/4/1975, thì Ðại Ðội 1 thuộc Tiểu Ðoàn 212, Liên Ðoàn 925 ÐP, dưới quyền chỉ huy của Ðại Uý Vĩnh, đã dùng Mìn Chống Chiến Xa làm cháy 7 xe tăng của CSBV tại dốc Bà Chá, nằm giữa hai xóm Ruộng và xóm Nùng gần Lương Sơn, trên Quốc Lộ 1, đoạn từ suối Nhum đi Lương Sơn (Hòa Ða, Bình Thuận).</p>
<p>Sau ngày 1/5/1975, các sĩ quan thuộc Tiểu Khu Bình Thuận, khi di chuyển từ trại tù Kà Tót về Tổng Trại 8 Sông Mao, đi lao tác tại nông trường Bông Vải gần đập Ðồng Mới (Lương Sơn), vẫn còn thấy xác 3 chiếc xe tăng của CSBV bị cháy gồm 2 PT76 và T54. Còn 4 chiếc khác có lẽ sửa chữa được nên chúng đã kéo đi mất dạng.</p>
<p>Ðó là tất cả những chiến tích oai hùng của các chiến sĩ Ðịa Phương Quân & Nghĩa Quân thuộc Tiểu Khu Bình Thuận, đến giờ phút cuối cùng, từ binh sĩ tới các cấp chỉ huy đơn vị vẫn ở lại chiến đấu với kẻ thù tại mặt trận.</p>
<p>Nhân chứng còn đó, lịch sử tuy sang trang nhưng cũng không thể nào bôi xóa được sự thật, dù Việt Cộng hay bất cứ ai cứ ngậm máu phun người. Phải sống hay được sống thêm 34 năm để khóc cho những người đã nằm xuống, xin hãy tội nghiệp cho Họ mà “thức tỉnh lương tri “ để sám hối trong những ngày tàn của kiếp người.</p>
<p>Xóm Cồn Hạ Uy Di</p>
<p>http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?67484</p&gt;
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

Hai câu thơ nầy đã làm tôi cảm nhận một nỗi buốn mênh mang, cô đơn vô hạn, trên các vùng biển vắng tanh của VNCH.

DC2 Nguyễn tấn Kiện​,
cựu HT Trường Chiến Hạm CR 71-73)​

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s