Nổi trôi

Nguyễn Văn Vang

Sống ở Mỹ hơn 30 năm, và trải dài quãng đường đời hơn nửa thế kỷ, bây giờ hồi tưởng lại mới thấy rằng cá nhân tôi và gia đình đã được nhiều may mắn, nói theo sự bình thường là trong cái rủi có cái may, nói theo niềm tin Tôn giáo là do Thiên Chúa đã an bài. Thật vậy, có nhiều điều và nhiều sự việc đến với tôi và gia đình tôi đã làm cho cá nhân tôi không hiểu nổi và đôi lúc vì không thể giải thích được hoặc không cưỡng lại được đành chấp nhận hay cứ để cho mọi chuyện nổi trôi tới đâu hay tới đó.

T rước năm 1954, Ðại gia đình nội ngoại tôi đều ở ngoài Bắc, làng Ðồng Xá, tỉnh Hải Dương. Làng tôi được chia làm hai, có thôn trên, hầu hết người dân ở đây họ theo đạo Ông bà hay đạo Phật, có đình có chùa, thôn dưới là một xứ đạo với nhà thờ to lớn so với một số làng quanh vùng, tuy cùng làng nhưng không có sư liên hệ máu mủ nào và do đó cũng có khác biệt về chính trị từ khi có phong trào Việt Minh, vì thế làng tôi thời gian sau này đã có hiện tượng, ban ngày là Tây, ban đêm là Việt Minh. Hàng đêm đã được hay bị Mẹ hoặc Bố tôi dắt đi tham dự những buổi họp gọi là mít tinh tại một nhà gia đình nào đó do các cán bộ Cộng sản nằm vùng tổ chức, tôi đã được nghe những đêm nói về kết quả của trận đánh Ðiện Biên Phủ và được dạy hát, nhảy múa điệu “son đố mì” qua bài ca:
“Ðêm hôm nay trăng sao,
Gió đưa về thôn làng,
Nhà Ông Bang Tá cháy,
Nhà Ông Bang Tá cháy…”.
Theo cha mẹ di cư vào miền Nam Việt Nam năm 1954, khi được 10 tuổi, cái tuổi chỉ biết nghịch, chẳng biết gì, tôi còn nhớ Mẹ đã căn dặn Bố tôi là gần trưa ngày hôm đó phải dắt 3 anh em chúng tôi ra chợ ở đầu làng, nếu có ai hỏi thì nói rằng dẫn các cháu ra chợ mua thức ăn trưa và gặp Mẹ các cháu, vì 2 đứa em tôi còn nhỏ, đứa lên 5, đứa 2 tuổi. Với cái tuổi ngây thơ đâu có hiểu tại sao Mẹ cứ căn dặn đi căn căn dặn lại Bố thật kỹ điều này, sau này tôi mới hiểu rằng đó chỉ là câu trả lời bình thường để tránh Việt Minh ngăn cản người bỏ làng nước ra đi di cư.
Chúng tôi ra đến chợ, gần bót đồn của Tây, coi như Bố con chúng tôi đã được an toàn không còn bị ai ngăn cản, leo lên chiếc xe đò để gặp Mẹ tôi thì cũng gặp được Bà Nội tôi đã ngồi trên xe hồi nào. Bà Nội tôi biểu lộ sự bối rối và xấu hổ khi gặp gia đình chúng tôi vì Cụ ra đi không cho các con cháu của Cụ biết. Để tránh đi cái không khí ngột ngạt đó, Cụ nói với Bố Mẹ tôi:”Tao tính xuống đến Hải Phòng rồi sẽ cho người về báo tin cho tụi mày biết”. Một Cụ già sắp gần đất xa Trời còn sợ Cộng sản đến như thế và không có một sự tin tưởng nào nơi con cháu khi mình có quyết định di cư, các Cụ đã sợ tai vách mạch rừng, âm thầm quyết định. Dân làng hầu hết là người thôn dưới, chẳng ai bảo ai một cách công khai, rồi cũng tập trung gần hết dân làng tại khu tạm cư phố Liễu Rinh, Hải Phòng để chờ ngày xuống tàu vào Nam do sự hướng dẫn của Ông cha xứ. Ngày ấy chính là ngày lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ngày 15 tháng 8 năm 1954, sáng sớm ngay sau khi đi lễ nhà thờ về bước vô nhà, Mẹ tôi đã thấy một hiện tượng lạ lùng xảy ra, đó là khung hình ảnh Ðức Mẹ được treo trên tường bao nhiêu ngày tháng trước bỗng dưng bị rơi xuống nền nhà, một điềm không lành, Mẹ tôi bảo thế. Bà đã vội vã có quyết định phải di cư ngay, để tránh con mắt đang rình rập gia đình tôi, vì đã có người lạ mà gia đình tôi không hề quen biết vào nhà mượn chiếc ghế và ngồi canh chừng trước cửa tiệm mỗi ngày. Bao nhiêu là hàng hóa đang bày bán giở được bỏ lại trong tiệm, nhà tôi bán tạp hóa và bà đã gánh hai bồ thuốc ngụy trang ra chợ ở đầu làng để bán thuốc như mọi ngày và dặn Bố tôi làm như lời Mẹ dặn 1 tiếng đồng hồ sau đó để kịp chuyến xe đò. Ngoài buôn bán tạp hóa, Mẹ tôi còn là một bà Lang chuyên bán thuốc gia truyền, cao đơn hoàn tán, đôi khi cả thuốc Tây, thường là Aspirin cho ngưòi bị cảm mạo hay Garnidan cho người đau bụng đi cầu. Mẹ tôi, Bà Lang Tọa đã có tiếng mát tay thời đó và nhờ đó đã tạo được một uy tín không nhỏ, là vốn liếng lập nghiệp sau này. Do không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt, Bố Mẹ tôi mới tạo dựng được cái sản nghiệp là căn nhà ngói 2 tầng vừa làm nhà ở vừa làm cửa tiệm tạp hoá vừa phòng bốc thuốc ngay cổng vào nhà thờ trên con đường cái chính của làng và có thể nói rất khang trang nhất làng thời ấy mà phải đành đoạn nuốt nước mắt vào trong lòng, dứt từng khúc ruột dứt bỏ mà ra đi. Nỗi sợ hãi Cộng Sản đã vây bủa, ám ảnh, xua đuổi Bố Mẹ tôi, nhưng con người cả đời gắn bó với làng với nước, với bà con đi đến quyết định một mất một còn: ra đi! Cho dẫu rằng cái hướng đi tới đầy diệu vợi mờ mịt, chưa có gì để bảo đảm cho cuộc sống tương lai khá hơn, ít sợ hãi hơn.
Vào đến miền Nam, gia đình chúng tôi cùng dân làng được cho định cư tại một khu rừng. Những ngày đầu, chúng tôi tạm trú trong những túp lều quân đội cá nhân bên khu rừng cao su có tên là Michelin; bên kia đường đất đỏ là khu rừng đầy cây cối lớn nhỏ. Dần dần, chúng tôi phải khai hoang để làm nhà ở và sinh sống tại đây, sau được gọi là trại Rạch Bắp 4. Từ quận Dầu Tiếng đến quận Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương có có 4 trại di cư dọc theo đường đất đỏ, sau Dầu Tiếng là trại Rạch Bắp 1, Rạch Bắp 2, Rạch Bắp 3 và Rạch Bắp 4. Chúng tôi phải đi lượm các hột cao su đem về bán lại cho đồn điền cao su để sinh sống qua ngày, hoặc phá rừng làm rẫy. Nặng nhọc hơn là đi vào rừng sâu để cưa cây lớn, tìm cách mang về gần nhà hầm thành than từ lo than tự đắp lấy rồi sau đó đem than đi lên tỉnh hay thị xã bán. Ở Rạch Bắp 4 được một năm, Bố Mẹ tôi quyết định dọn lên khu Phú Thọ lều gần trường đua ngựa Phú Thọ, Sài Gòn để buôn bán tạp hóa với chút vốn liếng chắt chiu từ Bắc mang vào. Một hai năm sau, trại Phú Thọ lều bị cháy và bị giải tỏa để xây dựng trường Công binh và trường Ðại Học Kỹ thuật. Hàng hóa cứu chữa được từ hoả hoạn lại được chuyển về Xóm Mới gửi nhà ông Bác, nhưng rồi nhà ông Bác cũng bị cháy sau đó vài tháng. Gia đình chúng tôi lại chạy về Rạch Bắp 4 với dân làng mãi cho đến năm 1960, chúng tôi lại phải bỏ Rạch Bắp 4 để về lập nghiệp tại Xóm Mới Gò Vấp và dân làng lúc đó cũng phải di cư lên khu Chợ Cầu gần trại Quang Trung, Hốc môn vì Cộng Sản quấy phá và sau này nơi đó là mật khu R của Việt Cộng. Dù cuộc sống có vất vả lúc ban đầu, nơi đất lạ, năm này qua năm khác, gia đình chúng tôi đã được sống một cách rất Tự Do. Tự do buôn bán, tự do di chuyển nơi này qua nơi khác làm ăn như bao gia đình dân miền Nam hay dân di cư khác mà chẳng có ai làm khó dễ.
Trong suốt thời gian học Trung học, tôi sống với gia đình Ông Chú ruột tôi tại Nha Trang từ năm 1959 nên rất là quen thuộc với các bộ quần áo trắng hay demi-saison của Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân, trông họ sao oai phong và dễ thương quá; nhưng tôi hoàn toàn không có một ý tưởng nào là sau này sẽ gia nhập Hải Quân, chỉ giữ lại trong tôi những hình ảnh thật đẹp của những anh Sinh Viên Sĩ Quan cho đến tận sau này. Chiến tranh vẫn tiếp diễn, các bạn tôi, một số đã trình diện đi Thủ Ðức, một số tiếp tục học Ðại Học. Sau khi thi rớt khóa 24 Võ Bị Ðà Lạt cũng như các khóa Biên Tập Viên Cảnh Sát và khóa Sĩ Quan Kỹ Thuật Không Quân, tôi cố gắng trì hoãn chờ ngày chót trình diện nhập ngũ khóa 3/69 Thủ Ðức là ngày 08 tháng 3 năm 1969.

BTL HQVNCH

danang_197511
Tối 29-3-1975 đài phát thanh BBC Luân Đôn cho biết Đà Nẵng thất thủ, một trăm ngàn quân bị bắt làm tù binh, đó cũng là ngày sụp đổ của toàn bộ Quân khu 1, hung tin ghê gớm đã khiến cho cả nước kinh hoàng: Quân khu 1 nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ và thiện chiến nhất của ta, bốn sư đoàn chính qui, bốn liên đoàn Biệt Động quân … đã hoàn toàn tan rã sau 9 ngày cầm cự và triệt thoái. Mặc dù nay Bộ Tổng tham mưu, các vị Tướng lãnh, các giới chức quân sự có liên hệ đã bạch hóa diễn tiến của trận chiến bi thảm này, các nhà nghiên cứu quân sự, các nhân chứng, ký giả chiến trường… đã biên soạn, kể lại diễn tiến của mặt trận vùng Hoả tuyến nhưng người ta tưởng như nó vẫn còn nhiều điều bí ẩn và khó hiểu, chưa bao giờ trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng giai đoạn 1960-1975 một lực lượng to lớn của ta lại có thể thua nhanh đến thế.
Các tài liệu, sách báo nói về cuộc lui binh tại Quân khu 1 của Bộ Tổng tham mưu Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Ngô quang Trưởng, Thiếu tướng Hoàng Lạc, nhà nghiên cứ quân sự Nguyễn Đức Phương, ký giả chiến trường Phạm Huấn và những lời thuật lại của các nhân chứng … nói chung dồi dào nhưng không hoàn toàn giống nhau có khi còn trái ngược nhau là khác.
Quân khu 1 là một giải đất dài và hẹp hình cán chảo, người Mỹ gọi là pan handle chạy theo hướng tây bắc, đông nam, gồm 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng tín, Quảng Ngãi, dân số vào khoảng ba triệu. So với các Quân khu khác Vùng Một nhỏ hẹp nhất, đây là nơi tiếp giáp với Bắc Việt, chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào nên cũng gọi là vùng hoả tuyến. Từ sau khi ký hiệp định Paris ta chỉ còn kiểm soát được chưa tới 50% diện tích Quân khu, phần đất của ta nằm phía bên phải của giải đất theo chiều dọc tức là phía đông, còn phía tây đã lọt vào tay quân thù. Dần dần ta chỉ còn những tỉnh lỵ và thị xã và các quận do sự lấn chiếm theo kiểu tầm ăn dâu của địch, kể từ sau ngày 19-3-1975, nếu nhìn trên bản đồ quân sự sẽ thấy ta chỉ còn kiểm soát được vào khoảng một phần ba diện tích Quân khu.
Năm 1972, Quân khu 1 đã là một chiến trường lớn, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt đẫm máu giữa các đại đơn vị của hai miền Nam Bắc. Vì tình hình sôi động đặc biệt của vùng hỏa tuyến ngoài ba sư đoàn cơ hữu 1, 2, 3 của Quân đoàn, ta còn cho hai sư đoàn tổng trừ bị Nhẩy Dù và Thủy quân lục chiến ra trấn đóng hầu chống lại cuộc tấn công qui mô có thể xẩy ra của địch. Từ sau ngày ký hiệp định Paris quân viện cho Việt Nam Cộng Hoà bị cắt giảm từ 2 tỷ năm 1973 còn 1 tỷ 4 năm 1974 và 700 triệu năm 1975. Tình hình quân sự, chính trị ngày một đen tối, quân viện bị cắt giảm, ngày 12-3-1975 Hạ nghị viện Mỹ biểu quyết bác bỏ 300 quân viện bổ túc cho Việt Nam Cộng Hoà do Tổng thống Ford đệ trình Quốc Hội, viện trợ quân sự cũng sẽ không được chuẩn chi cho năm tới, đạn dược tiếp liệu ngày càng bi đát, hoả lực giảm 60%, chỉ còn đủ đạn đánh tới tháng 5, tháng 6 1975.

Đồng minh phản bội, trắng trợn hủy bỏ mọi cam kết với miền Nam trước ngày ký Hiệp định Paris , quân thù thừa cơ nước đục thả câu. Tình hình 1975 vô cùng bi đát, ta không được Mỹ yểm trợ B52 oanh tạc trải thảm, thiếu thốn tiếp liệu. đạn dược… trong khi quân thù đã được Cộng sản Quốc tế Nga Tầu viện trợ tối đa. Năm 1975 lực lượng chính qui của Bắc Việt gồm 4 quân đoàn và đoàn 232 (tương đương một quân đoàn), mỗi quân đoàn gồm 3 sư đoàn, tổng cộng 15 sư đoàn, ngoài ra Bắc Việt còn có khoảng 15 trung đoàn độc lập tương đương với 4, hoặc 5 sư đoàn. Toàn bộ lực lượng chính qui địch vào khoảng 20 sư đoàn, ước lượng 300 ngàn người. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1975 có hơn một triệu quân trong đó 40% là chủ lực chính qui. Lính nhà nghề chỉ có 13 sư đoàn bộ binh, hai sư đoàn tổng trừ bị Nhẩy dù và TQLC và 15 liên đoàn Biệt động quân, mỗi liên đoàn khoảng từ 1000 tới 2000 người. Ta tổ chức theo lối Mỹ, một người tác chiến, năm người yểm trợ nên trên thực tế chỉ có khoảng 200 ngàn là lính nhà nghề.
Cuối năm 1974 tình hình chiến sự ở Quân khu 1 yên lặng được một thời gian, quân ta đẩy lui cuộc tấn công của địch vào đồng bằng tây nam Đà Nẵng, địch có lợi thế về địa hình, vì gần hậu cần miền Bắc chúng được bổ sung quân số và tiếp liệu thuận lợi. Từ tháng 6 cho tới cuối năm 1974 các lực lượng Quân đoàn 1 của ta bị tổn thất trong các trận giao tranh không được bổ sung nên quân số thiếu hụt. Quân khu 1 được chia làm hai khu Bắc và Nam, Bắc gồm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên dưới quyền Bộ Tư lệnh tiền phương do Trung tướng Lâm Quang Thi chỉ huy, ba tỉnh còn lại Quảng Nam Quảng Tín, Quảng Ngãi do Tư lệnh Quân đoàn Ngô Quang Trưởng (hình phải) trực tiếp chỉ huy.
Bố trí lực lượng của ta gồm sư đoàn Nhẩy Dù vàTQLC, Lữ đoàn 1 Thiết kỵ từ bắc Thừa Thiên lên tới nam sông Thạch Hãn, lực lượng cơ hữu của Quân khu và các liên đoàn Biệt động quân bảo vệ các tỉnh còn lại: Sư đoàn 1 và liên đoàn 15 Biệt động quân đóng tại Thừa Thiên, sư đoàn 3 và liên đoàn 14 Biệt động quân đóng tại Đà Nẵng, Quảng Nam, sư đoàn 2 và hai liên đoàn Biệt động quân 11, 12 bảo vệ Quảng Tín, Quảng Ngãi. Các đơn vị yểm trợ gồm trên 10 tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn phòng không, một lữ đoàn thiết kỵ. Hải quân gồm các giang đoàn xung phong, trục lôi, tuần thám tại Thuận An, các duyên đoàn tại Cửa Việt, tại Thuận An, Tư Hiền… sư đoàn 1 Không quân đóng tại Đà Nẵng. Quân số của Quân đoàn vào khoảng 90 ngàn chủ lực và 75 ngàn địa phương quân, nghĩa quân, trong số này nhiều người thuộc thành phần không tác chiến.
Lực lượng Cộng sản tại Quân khu 1 chia hai địa bàn hoạt động lấy đèo Hải Vân làm ranh giới do các Tướng Lê Tư Đồng, Nguyễn Hữu An, Chu Huy Mân chỉ huy. Theo Nguyễn Đức Phương tại đây Bắc việt có 7 sư đoàn (324B, 325, 320B, 312, 304, 711, 2) và 4 trung đoàn độc lập tổng cộng vào khoảng 8 sư đoàn. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên, Cộng sản Bắc Việt tại đây có 5 sư đoàn (341, 325C, 324B, 304, 711), 10 trung đoàn độc lập (52, 4, 5, 6, 27, 31, 48, 51, 270, 271), 3 trung đoàn đặc công (5, 45, 126), toàn bộ vào khoảng 8 hoặc 9 sư đoàn, ngoài ra lực lượng cơ giới yểm trợ gồm 3 trung đoàn xe tăng, 12 trung đoàn phòng không, 8 trung đoàn pháo binh. Tổng cộng vào khoảng 71 ngàn người, đa số là lính tác chiến. Bắc Việt có ưu thế hơn ta về và vũ khí đạn dược, lực lượng coi như gấp hai rưỡi ta.
Trong khi mở chiến dịch Ban Mê Thuột, Việt Cộng tại Quân khu 1 cũng xâm nhập đánh phá các nơi để cầm chân ta như tại Quảng Trị địch chiếm quận Hải Lăng bắc Thừa Thiên, xâm nhập các xã ven biển Thừa Thiên, phía nam đánh các cao điểm của sư đoàn 1, tấn công tuyến sông Bồ nhưng bị đẩy lui bỏ lại 200 xác chết, tại Quảng Tín Việt Cộng chiếm 2 quận Tiên phước, Hậu Đức ngày 10-3 bắn phá tỉnh lỵ Tam Kỳ…
Ngày 11-3 Tổng thống Thiệu Triệu tập phiên họp tại Dinh Độc Lập cho biết trước tình hình hình khó khăn do quân viện bị cắt giảm, áp lực địch mạnh, ta chỉ có thể giữ được Quân khu 3, Quân 4 và một vài tỉnh duyên hải vùng 2, vùng Một chỉ giữ Huế và Đà Nẵng. Trong lúc tình hình quân sự có vẻ không thuận lợi cho ta thì theo yêu cầu của của Ông Thiệu, Bộ Tổng tham mưu lệnh cho Tướng Trưởng trả sư đoàn Nhẩy Dù về Trung ương. Ngày 13-3 Tổng Thống Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng về Sài Gòn họp Hội Đồng an ninh Quốc gia, thành phần gồm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ông Thiệu cho biết tình hình khó khăn do cắt giảm quân viện, ông không tin Mỹ sẽ can thiệp dù Cộng Sản tấn công miền Nam nên phải tái phối trí lực lượng, rút quân bỏ những miền rừng núi đễ giữ những vùng mầu mỡ còn hơn đứng chung chính phủ Liên Hiệp với Cộng Sản.
Ngày 14-3 Tướng Trưởng về Quân đoàn 1 họp tham mưu, thảo luận kế hoạch tái phối trí, Nhẩy Dù sẽ rút về Sài Gòn, hôm sau liên đoàn 14 Biệt động quân nhận vùng trách nhiệm của Lữ đoàn Thủy quân lục chiến 369 tại Quảng Trị để lữ đoàn này về Phú Lộc thay Lữ đoàn Dù, một lữ đoàn TQLC sẽ chịu trách nhiệm khu vực sông Bồ để bảo vệ Huế.
Ngày 17-3 Lữ đoàn 258 TQLC sẽ rời Quảng Trị để về Đà Nẵng thay lữ đoàn Dù. Dân chúng sợ hãi đã di tản ồ ạt trên quốc lộï Một từ mấy ngày nay làm cản trở việc điều quân tái phối trí.
Ngày 18-3 Thủ tướng Khiêm ra Đà Nẵng để giải quyết vấn đề dân tỵ nạn, ông cho Tướng Trưởng biết sẽ không tăng viện Quân khu 1 vì tình hình Quân khu 3 nghiêm trọng, Việt Cộng đánh Dầu Tiếng, áp lực Tây Ninh, Long Khánh, Bình Tuy..
Ngày 19-3 Tướng Trưởng được triệu về Sài Gòn họp lần thứ hai, thành phần phiên họp cũng như lần trước nhưng có thêm Phó tổng thống Trần Văn Hương. Tướng Trưởng trình bầy hai kế hoạch lui binh:
Kế hoạch Một: các đơn vị sẽ theo Quốc Lộ Một từ Huế Chu lai về Đà Nẵng, trong trường hợp Quốc lộ Một bị cắt thì sẽ theo kế hoạch Hai.
Kế hoạch Hai: Các lực lượng Quân đoàn sẽ tập trung tại ba cứ điểm Huế, Đà Nẵng và Chu Lai, tầu hải quân sẽ chuyên chở lính từ Huế Chu Lai về Đà nẵng. Trong cả hai kế hoạch Đà Nẵng vẫn là điểm tựa cuối cùng, Trưởng đề nghị giữ cả ba cứ điểm để phân tán lực lượng địch và gây tổn thất tối đa cho Việt Cộng, Thiệu cho biết giữ được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Ông Cao Văn Viên cho rằng kế hoạch của Tướng Trưởng là hợp lý.
“Kế hoạch lui quân của Quân đoàn 1 soạn thảo rất hợp lý và đầy đủ, gồm kế hoạch dự phòng để đối phó với những bất ngờ do địch gây ra. Khi trận chiến khai diễn như Kế Hoạch Hai dự trù và các đơn vị của Quân đoàn 1 rút hết về Đà Nẵng, chúng ta chỉ còn hai hành động phải làm: Cố thủ tại chỗ hoặc rút bằng đường biển nếu tình thế bắt buộc. Như vậy vào thời điểm trên, đâu còn cần đến kế hoạch dự phòng nào khác”
Thật ra kế hoạch nghe thì hay nhưng thực hiện được không phải là chuyện dễ. Tướng Thiệu lệnh cho Trưởng cố gắng giữ được tất cả những phần đất có trong tay sau đó ông lệnh cho Tướng Quang soạn bài hiệu triệu trên đài phát thanh Huế để trấn an dân chúng, quyết bảo vệ Huế đến cùng. Buổi họp này không thấy nói đến triệt thoái mà chỉ là kế hoạch co cụm để giữ đất.
Ngày 19-3 Quảng Trị bỏ ngỏ, chi đoàn Thiết giáp, liên đoàn 14 Biệt động quân rút về bên này Mỹ chánh lập phòng tuyến mới. Cộng quân bắt đầu tấn công mạnh vào Quân khu. Theo Tướng Hoàng Lạc, Giám mục Phạm Ngọc Chi địa phận Đà Nẵng và Giám mục Nguyễn Kim Điền khuyên không nên đổ máu vô ích vì các siêu cường đã sắp đặt cả rồi.

Sáng 20-3 Tướng Trưởng bay ra bộ chỉ huy tiền phương họp các cấp chỉ huy bàn kế hoạch phòng thủ Huế như Tổng thống ra lệnh phải giữ bằng mọi giá. Tình hình mặt trận tương đối chưa đến nỗi tệ, các đơn vị còn hoàn hảo, tinh thần cao duy trì được kỷ luật, ai nấy đồng lòng tử thủ, dân chúng di tản nhiều. Tưởng Trưởng lạc quan khi thấy Huế phòng thủ tốt. Trưa hôm đó Thiệu đọc hiệu triệu dân trên đài phát thanh Huế. Đến chiều khi về tới Đà Nẵng Tướng Trưởng nhận được lệnh của của dinh Độc Lập chỉ giữ Đà Nẵng thôi nếu tình hình bó buộc, Tướng Thiệu lý luận Quân đoàn không đủ lính để bảo vệ cả ba cứ điểm Chu lai, Huế và Đà Nẵng. Tướng Trưởng được quyền tuỳ cơ ứng biến.
Quân khu 1 ngày một nguy ngập, Cộng quân đã bắt đấu tấn công mạnh, chúng đánh theo thế gọng kìm từ trên Quảng Trị đánh xuống và từ dưới Quảng Ngãi đánh lên, dân chúng chạy loạn ồ ạt từ Huế kéo về Đà Nẵng, từ Quảng Nam Quảng Ngãi kéo lên. Ngày 21-3 Việt cộng tấn công Phú Lộc, áp lực mạnh trên Quốc lộ Một, dân tản cư đông như kiến từ Huế về Đà nẵng. Sư đoàn 1 VNCH có pháo binh và không quân yểm trợ đẩy lui cuộc tấn công của Việt Cộng nhưng địch có ưu thế về lực lượng nên sư đoàn 1 cầm cự đến trưa ngày 22 thì thất thủ, trung đoàn 1, liên đoàn 15 Biệt động quân bị đẩy lui, một khúc đường Quốc lộ Một bị cô lập, trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 bị thiệt hại nặng, Tướng Trưởng ra lệnh thu gọn tuyến phòng thủ Huế.


Dân chúng và quân cụ bắt đầu được chở bằng tầu ra khỏi Đà Nẵng, ngày 23 -3 Việt Cộng pháo kích Huế rời rạc không gây thiệt hại gì nhiều nhưng khiến dân chúng hốt hoảng náo động như hỗn loạn. Tại phía nam vùng Một quận Hậu Đức, Tiên Phước thuộc Quảng Tín bị Việt cộng chiếm, sư đoàn 2 và liên đoàn 12 Biệt động quân chặn được áp lực địch tấn công về Tam Kỳ và các vùng duyên hải. Trước áp lực dồn dập của Việt Cộng Tướng Trưởng ra lệnh di tản 2 quận Sơn Trà, Trà Bồng Quảng Ngãi, những tiền đồn xa tiếp tế cũng được di tản, Tướng Trưởng cho gom các lực lượïng rời rạc lại để bảo vệ những điểm trọng yếu vào trận cuối cùng. Sự chỉnh đốn của Tướng Trưởng đem lại chút yên gượng gạo cho 2 tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Tín trong 2 ngày.
Lực lượng phòng thủ của ta ngày một yếu trước áp lực địch., ngày 24-3 tại phía nam Quân khu 1, Việt Cộng tấn công mạnh tại Quảng Tín , sư đoàn 711, trung đoàn 52 và xe tăng đánh Tam kỳ, đặc công đột nhập tỉnh lỵ thả tù gây rối loạn đến trưa thì Tam Kỳ thất thủ. Trung đoàn 2 thuộc sư đoàn 3 từ Quảng Nam được lệnh tiến về Quảng Tín để giúp địa phương quân chạy về từ Tam Kỳ về… Tam Kỳ mất, dân ùn ùn chạy về Đà Nẵng. Tại Quảng Ngãi Cộng quân tấn công gấp rút dữ dội, đặc công và địa phương quân Việt Cộng tại Quảng Ngãi tấn công phi trường, các cơ sở hành chánh quân sự Quảng Ngãi, đường Quốc lộ Một từ Quảng Ngãi tới Chu lai bị cắt đứt, đường ra biển bị cô lập, chỉ trong một ngày tình hình Quân khu 1 rối loạn đến mức không còn kiểm soát được nữa. Quân đoàn chấp thuận cho tiểu khu Quảng Ngãi mở đường máu về Chu Lai nhưng chỉ có vài đơn vị về được.
Ngày 25-3 tất cả các đơn vị quân đoàn 1 tụ lại 3 phòng tuyến chính: Nam Chu Lai, Đà Nẵng và Bắc Huế, các lực lượng của Quân đoàn bị thiệt hại nhiều khi di tản về các phòng tuyến này, tinh thần binh sĩ xuống thấp, ai nấy chán nản chưa bao giờ trong đời chinh chiến họ thấy tuyệt vọng như hiện nay. Trong tình thế khó khăn Trưởng lại nhận thêm một lệnh nữa từ dinh Độc Lập, Tướng Thiệu lệnh cho Trưởng dùng ba sư đoàn cơ hữu của Quân đoàn 1, 2, 3 để phòng thủ Đà Nẵng, sư đoàn TQLC đóng vai trừ bị. Đêm đó Tướng Trưởng cho sư đoàn 1 và các đơn vị quanh Huế rút về Đà Nẵng, ông lệnh cho sư đoàn 2 chi khu Quảng Ngãi và thân nhân của họ ra Cù Lao Ré, một đảo ngoài khơi Chu lai. Hai tầu dương vận hạm đón sư đoàn 2 tại Chu lai đưa về Cù Lao Ré, cuộc vận chuyển thành công hơn mặc dù có hỗn loạn nhưng một nửa quân số của sư đoàn 2 đã lên tầu đưa về Bình Tuy, chính phủ tuyên bố Huế và Chu lai thất thủ ngày 25-3.
Các lực lượng Huế bắt đầu di tản, sư đoàn 1 và các đơn vị cơ hữu rút ra cửa Tư Hiền. Hải quân và công binh sẽ bắc cầu để quân di tản đi ngược vào đất liền rồi dùng đường bộ về Đà Nẵng, Chu Lai. Sáng ngày 26-3 biển sóng to làm đình trệ cuộc vận chuyển, cầu chưa hoàn tất đến trưa thủy triều dâng cao không thể vượt biển được trong khi ấy Việt Cộng đuổi theo nã pháo vào cửa Tư Hiền và các địa điểm tập trung quân của ta, hỗn loạn diễn ra không còn quân kỷ, sư đoàn 1 tan rã tại đây chỉ có một phần ba về được đến Đà nẵng, tới nơi họ rã ngũ đi tìm thân nhân.
Trong khi đó thì lữ đoàn kỵ binh với hơn 100 thiết giáp các loại từ mặt trận Bắc Huế tiến về cửa Thuận An, theo sau là các đơn vị pháo binh với hằng trăm khẩu pháo, TQLC, BĐQ, ĐPQ từ tuyến sông Bồ đang lũ lượt kéo về, hỗn loạn diễn ra dữ dội. Hai tầu dương vận hạm đến cửa Thuận An để chở TQLC, tầu hải vận đĩnh và quân vận đĩnh chở người từ bờ ra dương vận hạm, hỗn loạn ngày càng dữ hơn, giết chóc nhau dã man để giành chỗ trên tầu. Cộng quân pháo kích vào địa điểm tập trung quân gây thiệt hại nặng nề cho ta, nhiều lính TQLC tự tử tập thể vì cùng đường tuyệt vọng, cuộc tập trung quân tại cửa Tư Hiền và Thuận An đã làm mồi cho pháo binh địch.
Sư đoàn 324 CS càn quét tàn quân VNCH tại Thừa Thiên, sư đoàn 325 CS chuyển vào Quảng Nam phối hợp với sư đoàn 304 CS tấn công Đà Nẵng sư đoàn 2 VC cũng tiến về thành phố. Quân đội VNCH lập phòng tuyến phòng thủ bảo vệ Đà Nẵng, phía tây 2 lữ đoàn TQLC, phía nam sư đoàn 3 và địa phương quân Quảng Nam. Ngày 27-3 Các cuộc phòng thủ Đà Nẵng thành ra vô hiệu trước sự hỗn loạn, Việt cộng dồn nỗ lực bao vây thành phố. Từ bắc Đà Nẵng hai sư đoàn 324B và 325C cùng với trung đoàn xe tăng và hai trung đoàn pháo tiến dọc theo thung lũng Voi bao vây thành phố, phía Nam sư đoàn 711, 304 tiến chiếm Đại Lộc và Dục Đức, Đà Nẵng đã nằm trong tầm pháo của quân thù. Tại thành phố lớn thứ hai của miền nam này Quân đoàn 1 chỉ còn có sư đoàn 3 và 2 lữ đoàn TQLC, các sư đoàn 1 và 2 đã bị ngũ trên đường triệt thoái, một phần đã được tầu chở ra khơi, lực lượng không đủ để đương đầu với áp lực quá đông của địch, lại nữa thành phồ với hằng triệu người tỵ nạn đã trở nên hỗn loạn không thể nào kiểm soát nổi.
Sáng ngày 28 Tướng Trưởng họp khẩn cấp các đơn vị trưởng ban hành một số biện pháp vãn hồi trật tự và tái trang bị các đơn vị di tản trong thành phố nhưng ta không còn đủ quân tác chiến để thực hiện kế hoạch này. Các quân nhân có mặt được sung vào các đơn vị tác chiến nhưng không đủ để bù vào thiệt hại do cuộc triệt thoái gây ra. Trưa 28 phòng 2 thuộc Bộ TTM cho Quân đoàn biết Cộng quân có thể tấn công trong đêm, sư đoàn 1 không quân được lệnh di tản về Phù Cát, Phan Rang, Quân đoàn 1 ban lệnh ứng chiến tại các tuyến phòng thủ. Hai giờ trưa các xã ấp quanh Đà Nẵng đã lọt vào tay Cộng quân. Địa phương quân, nghĩa quân tan rã, binh sĩ rã ngũ rời đơn vị.
Việt Cộng pháo phi trường căn cứ Hải quân khi trời vừa tối rất dữ dội và chính xác nhờ những toán đặc công, tiền pháo viên chỉ điểm hướng dẫn. Tướng Trưởng vội báo cáo về Bộ Tổng tham mưu và gọi cho Tổng thống Thiệu xin di tản bằng đường biển. Tướng Thiệu không ra lệnh rõ ràng chỉ hỏi vu vơ nếu di tản thì có thể được bao nhiêu trong khi ấy có biết bao người đang chết chìm chết bắn vì trọng pháo của địch cũng như bắn giết nhau giành đường tẩu thoát. Pháo kích của địch khiến cho liên lạc giữa Sài Gòn và Đà Nẵng bị cắt đứt, Tướng Trưởng lập tức ra lệnh bỏ Đà Nẵng, ông họp với Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại Tư lệnh Hải quân vùng 1 và các cấp chỉ huy để hẹn địa điểm rút quân tại: chân đèo Hải Vân, núi Non Nước và cửa khẩu Hội An.
Rạng sáng ngày 29-3 sương mù bao phủ dọc theo bờ biển, ngoài khơi tầu đã có mặt ở điểm hẹn, thủy triều thấp tầu không vào bờ được, binh sĩ phải lội ra biển. Cuộc di tản êm xuôi cho đến khi khi Việt Cộng phát hiện chúng bèn pháo kích vào địa điểm tập trung quân và tầu ngoài khơi gây nhiều thiệt hại cho ta, tầu di tản được 6000 TQLC, 3000 lính sư đoàn 3 và nhiều đơn vị khác.
Đà Nẵng được coi như thất thủ ngày 29-3-1975, Tướng Việt Cộng Lê Tư Đồng cho biết đã bắt được gần 60 ngàn tù binh VNCH, 14 ngàn công chức tịch thu 1000 quân xa, khoảng 300 đại bác. Có tài liệu cho biết ta mất 130 máy bay tại Đà Nẵng, năm 1976 Tướng Trưởng trả lời một cuộc phỏng vấn cho biết khoảng 6000 TQLC, non nửa lực lượng của sư đoàn và 4000 quân thuộc các binh chủng khác đã được tầu bè cứu thoát. Tướng Nguyễn Duy Hinh Tư lệnh sư đoàn 3 cho biết trong số 12,000 người của sư đoàn 3 chỉ có 5000 đến được điểm tập trung và sau cùng chỉ có 1000 người lên được tầu. Tổng cộng có 70 ngàn người dân được cứu thoát và 16 ngàn quân, 4 sư đoàn kể cả TQLC bị thiệt hại nặng nề không thể gọi là đơn vị chiến đấu được nữa. Tất cả quân trang quân dụng, vũ khí, xe tăng đại bác… của Quân khu coi như mất hết, một phần lớn lọt vào tay quân thù.
Quân khu 1 rơi vào tay quân thù một cách dễ dàng trong khoảng 10 ngày, không có lực lượng nào được tổ chức để đánh chận hậu, đánh trì hoãn khi Quân đoàn di tản. Cuộc lui binh thất bại hoàn toàn được coi như quá tồi tệ so với Quân đoàn 2, hỗn loạn ghê gớm gấp bội phần, sự thiệt hại về nhân mạng cao hơn cuộc triệt thoái tại Tây nguyên rất nhiều. Phạm Huấn nói
“Tại những địa điểm tập trung quân, vô cùng hỗn loạn, đau thương khủng khiếp. Và hai Cửa Thuận An, Tư Hiền thật sự biến thành những”bãi chết”, trong vùng “Biển máu”
Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975 trang 58.
Triệt thoái quá vội vã, không có kế hoạch, lịch trình nào cả, sự phối hợp Quân đoàn và Hải quân lỏng lẻo, cuộc lui binh cũng chỉ là cuộc tháo chạy hỗn độn vô tổ chức y như cuộc triệt thoái Cao nguyên, bắn giết nhau, tranh cướp nhau lên tầu chạy trốn, đó cũng chỉ là một cuộc hành quân phá sản.
“Cuộc rút quân đã rối loạn, hỗn độn và thất bại ngay khi bước sang ngày thứ hai, 24-3-1975. Hệ thống chỉ huy, phối hợp giữa các đơn vị, vấn đề an ninh, tổ chức thật tồi tệ và bị tê liệt từ lúc khởi đầu. Các cấp chỉ huy ở những cấp cao nhất và có trách nhiệm về cuộc rút bỏ Huế, đã không thành thật với nhau, phản bội, dối trá và bỏ rơi cấp dưới.
Kế hoạch rút quân bằng đường biển, với hơn 20 ngàn Chủ lực quân, hàng mấy trăm chiến xa, đại bác, cùng với cả trăm ngàn dân chúng, các lực lượng địa phương quân, công chức và gia đình họ, nhưng hai cửa Thuận An và Tư Hiền không được phòng thủ bảo vệ. Sự phối hợp và chỉ huy giữa Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Đoàn và hải quân thật lỏng lẻo. Không có lịch trình lên tầu ưu tiên, rõ ràng cho các đơn vị. Các đơn vị Quân Đội và dân chúng cứ tiếp tục đổ về hai cửa biển này để rồi chết chồng chất lên nhau”
Phạm Huấn NUHTTCMN 1975, trang 57
Vấn đề đặt ra ở đây là ai chịu trách nhiệm về những cái chết oan uổng của hằng nghìn, vạn người tại cửa Thuận An, cửa Tư Hiền trước những trận pháo kinh hoàng của địch? Hậu quả của cuộc lui binh vội vã hay nói khác đi cuộc tháo chạy hỗn độn vô tổ chức đã đẩy bao nhiêu quân, dân vào chỗ chết, đã đưa hằng hà sa số người tập trung tại hai cửa biển để làm mồi cho họng súng đại bác của quân thù.
“Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư Lệnh, ngày 21 tháng 3, từ ba hướng bắc, tây và nam, các lực lượng Quân khu Trị Thiên và Quân khu 2 đồng loạt tiến công vượt qua các tuyến phòng thủ của địch hình thành nhiều mũi bao vây Huế, đánh thiệt hại nặng sư đoàn 1 bộ binh ngụy, lữ 147 thuỷ quân lục chiến nguỵ, cắt đứt Huế và Đà Nẵng trên đoạn đường số 1 ở Mũi Né – Bái Sơn …. địch chỉ còn một lối thoát là rút chạy ra biển theo cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Con đường Huế – Thuận An là niềm hy vọng cuối cùng của chúng, nhưng thực tế đã biến thành con đường chết đối với chúng.
Nắm vững ý đồ muốn tẩu thoát của địch, pháo ta một mặt khống chế chặt của Thuận An và không cho tầu địch vào đón bọn rút lui, mặt khác bắn vào trung tâm của đội hình dày đặc của địch còn ở lại ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền làm cho chúng thiệt hại nặng nề. Bộ đội đặc công cũng đặt mìn phong toả cửa Thuận An. Xe tăng, xe bọc thép, xe vận tải và hàng chục nghìn lính địch kéo đi kín đường bị pháo ta bắn, đạp lên nhau mà chạy…
Ngày 25 tháng 3, các cánh quân của ta đã kịp hợp vây tiêu diệt và làm tan rã quân địch rút lui còn lại ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền”.

arvn_soldiers
Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân trang 107, 108
Cuộc lui binh tại Huế cũng như tại Cao nguyên đã đi vào vết xe đổ của trận Cao Bắc Lạng ngày tháng 10 năm 1949 khiến cho binh đoàn Charton của Pháp bị Việt Minh đánh tan rã nhưng về kế hoạch thì phải nói cuộc lui binh của ta tồi tệ hơn hồi ấy. Hoàn toàn không có trận đánh trì hoãn nào, không có một lực lượng chận hậu nào để cầm chân địch cho đoàn quân triệt thoái, hậu quả như ta đã thấy là cả một đạo quân tinh nhuệ đã bị dồn vào họng súng của quân thù.
Nói về nguyên nhân sự sụp đổ nhanh chóng của Quân đoàn, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng cho rằng do sự rối ren của ta và nhất là lệnh của Tướng Thiệu không rõ ràng dứt khoát.
“Với cán cân lực lượng và địa hình thuận lợi cho CSBV, Vùng I, lực lượng VNCH không thể nào chống cự lâu dài trong cuộc tổng tấn công của địch. Nhưng phải nói, tình hình quân sự xấu đi một cách nhanh chóng vì sự xa sút tinh thần và những rối ren, lung túng của ta, hơn là áp lực địch. Lệnh tái phối trí – tuy cần thiết – không rõ ràng và dứt khoát”
Tuyến Đầu Vùng Một Thất Thủ.
Theo Tướng Viên binh sĩ nhiều người bỏ hàng ngũ đi tìm gia đình trong làn sóng người tỵ nạn, họ quan tâm lo lắng về gia đình mình hơn là lo về đơn vị và sự tấn công của Việt Cộng, theo ông vì làn sóng người di tản làm náo loạn cả lên đã là nguyên nhân gây ra sụp đổ nhanh chóng cho cả Quân khu.
“Sự hỗn loạn, thất bại của cuộc tái phối trí ở vùng Một xảy ra không phải vì áp lực của Cộng quân, mà vì tinh thần chiến đấu của quân ta không còn nữa. Trong những ngày cuối cùng ở Vùng I, vị tư lệnh Quân đoàn không chỉ đối phó với những khó khăn về quân sự, ông còn bận tâm với vấn đề tỵ nạn. Và khi chánh quyền trung ương bắt tay vào giải quyết vấn đề tỵ nạn thì đã quá trễ. Như chúng ta thấy, vấn đề tị nạn làm đảo lộn tất cả kế hoạch quân sự của Vùng I.”
Cao Văn Viên. TĐVMTT.
Ông Nguyễn Đức Phương cho rằng Quân khu 1 thất thủ dễ dàng không có một lực lượng nào được tổ chức để đánh trì hoãn khi lui binh, theo ông có 4 nguyên nhân chính.
– Lực lượng Cộng Sản tại Quân khu 1 trội hơn nhiều so với sự phân tán mỏng của ta. Kế họach lui binh về các cứ điểm Huế, Đà Nẵng, Chu Lai có thể đúng tuy nhiên Tổng thống Thiệu chỉ chấp nhận lui binh cho đến giờ phút chót, đến khi đã quá muộn ông lệnh cho Tướng Trưởng chỉ rút sư đoàn TQLC còn tất cả bộ binh, thiết giáp, pháo binh đều bỏ lại, không có một kế hoạch nào để phối hợp hải lục không quân trong trường hợp lui binh, hoàn toàn không có một sư tiên liệu nào.
– Tướng Thiệu sai lầm trầm trọng khi cho rút sư đoàn Dù về Vùng 3 quá nhanh, TQLC được đưa vào tay thế các vị trí của Nhẩy Dù khiến cho dân chúng hốt hoảng đổ dồn về Đà nẵng gây ra hỗn loạn. Đã phát thanh lời kêu gọi tử thủ Huế củaTổng thống sau lại cho lệnh bỏ Huế khiến dân chúng hoang mang mất tin tưởng vào chính phủ và quân đội, binh sĩ cũng mất tinh thần, hốt hoảng khi trông thấy trước nguy cơ sụp đổ như đã diễn ra tại Vùng 2.
– Chiến tranh tâm lý có lẽ là nguyên nhân quyết định sự thất thủ Quân khu 1, tin đồn cắt đất nhường cho CS dồn dập từ Vùng 2, nay Huế bỏ ngỏ khiến cho dân quân càng tin là đúng, dân di tản náo loạn cả lên, quân nhân bỏ hàng ngũ để tìm kiếm gia đình khiến cho đơn vị rã ngũ rất nhanh.
– Hệ thống chỉ huy của Bộ Tư lệïnh Quân đoàn 1 đã không chu toàn trách nhiệm trong giai đoạn khó khăn của cuộc lui binh, thiếu khả năng vô trách nhiệm là nguyên nhân chính khiến cho kế hoạch lui binh không thể thực hiện được. Vị Tư lệnh quân đoàn thiếu khả năng điều động một bộ tham mưu hỗn hợp như Phạm Huấn đã viết.
– Các sĩ quan cao cấp của Quân đoàn 1 lại chính là những người đầu tiên bỏ chạy trước, thiếu cấp chỉ huy các đơn vị lần lượt tan hàng, Việt Cộng chiếm được đất mà không phải giao tranh.
Ký giả chiến trường Phạm Huấn nhận định rằng các Tướng Việt Nam gặp trở ngại khi lãnh đạo đất nước cũng như chỉ huy mặt trận.
“Một viên chức cao cấp của Mỹ, sau này đã phát biểu về cuộc rút quân tại Huế và Đà Nẵng:
‘Tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, hầu như không ai có đủ kinh nghiệm, để tự mình có thể chỉ huy một cuộc hành quân qui mô với nhiều đại đơn vị trên chiến trường!’.
Sự sụp đổ mau chóng của Quân Đoàn I, vỏn vẹn trong 9 ngày, sau quyết định rút bỏ Huế lần thứ hai ngày 20-3-1975, đã làm kinh ngạc mọi giới. Những người ngưỡng mộ và kính phục Tướng Ngô Quang Trưởng đều nghĩ rằng, sự thảm bại này là hậu quả của quyết định sai lầm, trong chiến lược “Đầu bé Đít to’ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Nhưng theo thời gian, những bí mật được tiết lộ, Tướng Trưởng cũng là người phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất đối với những đau thương, kinh hoàng trong hai cuộc rút quân tồi tệ, thê thảm từ Huế và Đà Nẵng”
NUHTCTMN trang 103, 104.
Cuộc triệt thoái tại hai quân khu đều đã xẩy ra những biểu hiện tiêu cực của nhiều sĩ quan cao cấp bỏ đơn vị chạy tháo thân, cả một quân khu khu không có ai chịu trách nhiệm.
“Kể từ ngày 15-3-1975, hệï thống chỉ huy tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I của Tướng Lâm Quang Thi và các Tư Lệnh Mặt trận 2 chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên đã không còn giữ đúng với trách nhiệm, quyền hành và vai trò của mình nữa. Không một Tướng Lãnh, một giới chức Quân sự cao cấp nào dám nhận trách nhiệm khi cần ban hành những quyết định quan trọng. Trung tá Đào Trọng Vượng, Liên Đoàn Trường Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân nói rằng: ‘Họ lặn hết. Tất cả những lệnh đều do các Sỹ quan Phòng Nhì, Phòng ba, cấp Thiếu Tá chuyển lại’.

nhaydukhanhduong
Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân từ Quảng Ngãi ra thay thế Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến, phòng thủ tuyến đầu Vùng Giới Tuyến. Lực lượng Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân với quân số 100 phần trăm, và Pháo Đội đại bác 105 ly khoảng 1500 người, từ ngày đầu tiên, cho đến ngày rút quân 23-3-1975, gần hai tuần lễ, không nhận được bất cứ một lệnh chính thức nào của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I, hoặc Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến”
Phạm Huấn NUHTTCMN trang 41.
Nguyễn Đức Phương cùng một nhận xét như trên.
“Theo lời của Đại tá Nguyễn Huy Lợi thuộc Biệt Khu Thủ đô thì một số sĩ quan thuộc Quân đoàn I chạy thoát được về Sài Gòn cho biết tình trạng của quân đoàn như sau ‘Cấp tiểu đoàn không biết họ phải làm gì. Trung đoàn trưởng của họ đã đi mất và chính họ không biết phải đi đâu và không ai chỉ thị cho họ biết những gì phải làm. Sau quá nhiều chán nản tuyệt vọng, không một ai chịu trách nhiệm cho cả quân khu”
Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 764, 765.
Tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng cho rằng việc cấp chỉ huy bỏ đơn vị chạy trước là một nguyên nhân đưa tới sụp đổ quân đoàn, theo ông tại đây cấp chỉ huy không quân nhiều người đã lên trực thăng bay về phía nam bỏ cấp dưới ở lại.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, người đóng vai chính tại chiến trường Hoả tuyến có viết sách về cuộc chiến Mùa hè đỏ lửa 1972 nhưng không thấy, không nghe nói ông viết sách về sự sụp đổ Quân đoàn 1 năm 1975. Về Quân đoàn 1 trong trận chiến mất nước này chỉ thấy ghi lại trong một bài ngắn “Tại Sao Tôi Bỏ Quân Đoàn Một” đã đăng trên nhiều báo và internet từ nhiều năm qua nhưng bài này không phải do chính Tướng Trưởng viết ra mà do một người khác ghi lại lời thuật của ông nên cũng không thể coi đó là hoàn toàn ý kiến của ông.
Nội dung bài viết có nhiều điểm trái ngược với các tài liệu, sách vở nói về cuộc Triệt thoái này. Mở đầu bài viết nói.
“Ngày 13 tháng 3 năm 1975, được lệnh vào Sài Gòn họp. Tôi vào đến Sài Gòn nhưng với sự ngạc nhiên là chỉ có mình tôi vào gặp Tổng thống và Thủ tướng (Trần Thiện Khiêm) mà thôi. Ngoài tôi ra không có ai khác. Thường lệ, khi được lệnh về Sài Gòn họp thì đều có đầu đủ mặt các vị tư lệnh quân đoàn và tư lệnh các quân binh binh chủng khác. Lần này thì chỉ một mình tôi thôi”
Theo Đại Tướng Cao Văn Viên, Ký giả chiến trường Phạm Huấn, nhà nghiên cứu quân sự Nguyễn Đức Phương như chúng tôi đã trình bầy ở trên và cả ý kiến của Thiếu Tướng Hoàng Lạc, Tư lệnh phó Quân khu 1 thì trong các buổi họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia tại dinh Độc Lập ngày 11-3, ngày 13-3 và 19-3 do ông Thiệu chủ tọa đều có mặt Đại Tướng Cao Văn Viên, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Đặng Văn quang, riêng buổi họp ngày 19-3 thì có thêm Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Tổng thống Thiệu không hề gặp riêng một tướng nào, không nghe thấy một tài liệu nào nói như vậy. Về ngày 13-3 nêu trên, Tướng phó Tư lệnh Quân khu 1 cho biết Tướng Trưởng được mời về Sài Gòn trình bầy trước Hội đồng an ninh Quốc gia, các tài liệu của BộTTM, của Phạm Huấn, Nguyễn Đức Phương cũng đều nói như vậy.
Bài viết nói tiếp
“Nhưng khi tổng thống Thiệu cho biết ý định của ông ta là phải rút bỏ Quân đoàn 1 ngay hôm nay thì tôi mới vỡ lẽ, cay đắng, và uất ức vì lệnh ra quá đột ngột ngoài sức tưởng tượng và ngoài ước muốn của tôi…..
… Tôi trình bầy cặn kẽ những ý kiến cũng như những dự định của tôi lên tổng thống nhưng không được chấp thuận. Lệnh bất di bất dịch là: Phải rút khỏi Quân Đoàn 1 càng sớm càng hay….
Lệnh của tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân Đoàn 1 vào ngày 13 tháng 3, và rút Quân Đoàn 2 vào ngày 14 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy Quốc Lộ 22 làm ranh giới. Việt nam sẽ thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yến đến Hà Tiên”
Theo Tướng Viên, Tướng Hoàng Lạc, Nguyễn Đức Phương… trong phiên họp ngày 13-3 Tướng Thiệu chỉ mới lệnh cho Tướng Trưởng rút sư đoàn Dù về Sài Gòn và báo cáo tình hình Quân sự của Vùng Một, không có tài liệu nào nói ông Thiệu cho lệnh rút bỏ Quân đoàn 1 ngay hôm 13-3 như trong bài của Tướng Trưởng. Theo ông Cao Văn Viên.
“Buổi họp ở Dinh Độc Lập vào ngày 13 tháng 3, 1975 đã được thuật lại rõ ràng ở trên. Trong dịp đó tổng thống Thiệu đã cho hai vị tư lệnh quân đoàn I và III (tướng Trưởng và tướng Toàn) biết ý định sắp xếp lại lãnh thổ VNCH sao cho phù hợp với sự cắt giảm viện trợ quân sự. Tuy nhiên tổng thống Thiệu chưa cho lệnh rút quân ở bất cứ nơi nào lúc đó, trừ việc bỏ An Lộc ở vùng III. Buổi họp ở Cam Ranh ngày 14 tháng 3 sảy ra sau khi Ban Mê Thuột mất, và tại Cam Ranh tổng thống Thiệu ra lệnh tái phối trí lực lượng của quân đoàn II để chiếm lại Ban Mê Thuột”
Theo như Nguyễn Đức Phương đã nói ở trên Tổng thống Thiệu chỉ chấp nhận lui binh vào giờ phút chót. Ngày 13- 3 ông Thiệu chỉ thị cho Tướng Trưởng trả sư đoàn Dù về Sài Gòn và tái phố trí lực lượng tại Quân khu 1 chứ chưa hề cho lệnh rút bỏ bất cứ một tỉnh nào. Cho đến ngày 20-3 khi tình hình Huế khẩn trương ông lệnh cho Tướng Trưởng tùy cơ ứng biến, có thể rút về bảo vệ Đà Nẵng nếu tình hình đòi hỏi.
Trong một cuộc nói chuyện với một nhà báo tại Hải ngoại, Tướng Trưởng cho rằng những bài nói về ông, khen cũng như chê có nhiều điều không đúng và ông không thích báo chí nói đến mình, như vậy bài trên đây có thể chưa chắc đã nói đúng ý của vị nguyên Tư lệnh Quân khu.
Trong cuộc phỏng vấn của ông Lâm Lễ Trinh, Tướng Viên đã kết luận.
“Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng, như trong phim ‘Rashomon’. Một trăm nhân chứng, một trăm sự thật. Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm tình với lòng thành. Hãy để cho hậu thế lượng định và phán xét”
Lâm Lễ Trinh, Về Nguồn, trang 276.
Xem như thế sự thật chỉ là tương đối. Cũng trong bài phỏng vấn này, theo ông Cao Văn Viên, Tướng Trưởng cho biết Bộ tổng tham mưu không tăng viện theo lời yêu cầu của Quân khu 1. Tướng Viên cho đều này không đúng vì ông đã tăng cường cho Tướng Trưởng cả hai sư đoàn tổng trừ bị Dù và TQLC rồi. Bộ Quốc phòng Mỹ trả nhuận bút cho các Tướng lãnh lưu vong Việt Nam để viết tài liệu về chiến tranh Đông Dương. Trong một phiên họp thu thập dữ kiện cho Mỹ, Tướng Trưởng phát biểu sở dĩ thất bại là do lãnh đạo tồi, chính phủ Trung ương thiếu nhân tài. Tướng Đồng Văn Khuyên, Trần Đình Thọ bênh vực cho Bộ TTM tranh luận trả lời ông Trưởng: Bộ Tham mưu đã yểm trợ hết mình cho Quân khu 1, hai sư đoàn Tổng trừ bị Dù và TQLC đều đã được tăng phái cho Quân đoàn 1.
Ý kiến của Tướng Trưởng về nhu cầu tăng viện cho Quân khu là xác đáng. Đặt giả sử nếu không triệt thoái khỏi Huế, Quảng Nam, Quảng Tín để giữ đất chống quân thù, cho dù Tướng Trưởng có tài giỏi tới đâu cũng chỉ cầm cự được một hai tháng là cùng vì ưu thế quân sự về phía địch, chúng gần hậu cần, được bổ sung quân số đầy đủ trong khi quân ta ở cách xa trung tâm tiếp liệu.
Trong chiến dịch tổng công kích này, địch đã tung vào mặt trận miền Trung 13 sư đoàn bộ binh, trên 20 trung đoàn pháo binh, xe tăng, phòng không, trong đó 8 sư đoàn tại Quân khu Một, 5 sư đoàn tại Quân khu 2. Hoả lực địch rất mạnh nhờ viện trợ ồ ạt của Cộng Sản Quốc tế trong khi hoả lực ta đã bị giảm 60% so với 1972 hậu quả của cắt quân viện, vũ khí đạn dược của Việt Cộng coi như gấp hai 1972. Bắc Việt đã đưa khoảng 70% toàn bộ lực lượng của chúng vào chiến dịch này, địch không thể tấn công cả bốn Quân khu của ta cùng một lúc vì mũi dùi tấn công yếu sẽ bị bẻ gẫy nên chúng chỉ tấn công vào một hai nơi nhất định, địch lựa chọn Quân khu 1 và Quân khu 2 vì gần hậu phương miền Bắc.
Đã biết Việt Cộng tấn công mạnh ở Quân khu 1 và 2 mà ta còn giữ nhiều lực lượng tại Quân khu 3 và 4. Tại Vùng 4 ta đã có 200 ngàn Địa phương quân lại thêm 3 sư đoàn chủ lực, Vùng 3 ta để 3 sư đoàn bộ binh, số xe tăng gấp rưỡi và máy bay chiến đấu gấp hai các quân khu 1 và 2 (655 xe tăng, 250 máy bay chiến đấu). Trong khi miền Trung bị địch đánh phá tơi bời mà vẫn không chịu lấy bớt quân từ các quân khu 3 và 4 lên tăng viện cho chiến trường dầu sôi lửa bỏng. Nhưng không phải Tướng Thiệu không biết vậy, ông có thể tăng viện để cứu sự sụp đổ của miền Trung nhưng ông đã không làm thế vì muốn bỏ miền Trung, vấn đề là ở chỗ đó. Không tăng viện coi như bỏ vì với lực lượng cơ hữu của hai Quân khu, ta không đủ sức chống lại mũi dùi tấn công của 13 sư đoàn Bắc Việt. Tướng Trưởng trách cứ Bộ Tổng tham mưu và Tổng thống Thiệu đã không tăng cường lực lượng cho ông, đã bỏ lỡ cơ hội cứu đất nước vào giờ chót, nếu tăng cường thì còn hy vọng chuyển bại thành thắng, bẻ gẫy mũi dùi tấn công của địch hoặc cho dù thua cũng phải đánh được vài trận cho ra hồn.
Theo ông Cao văn Viên vị Tư lệnh Quân khu 1 trong khi đương đầu với địch ông còn phải quan tâm giải quyết vấn đề tỵ nạn đang trầm trọng. Khi Kontum, Pleiku mất người dân lo sợ chính quyền cắt đất nhường cho Cộng sản, hàng chục nghìn người đổ dồn về Đà Nẵng mua vé máy bay vào Sài Gòn, hôm 14-3 các lữ đoàn Dù được điều động để về Sài Gòn khiến dân chúng hốt hoảng kéo nhau về Đà Nẵng. Ngày 19-3 Thủ Tướng Khiêm ra Đà Nẵng giải quyết vấn đề tỵ nạn, Thủ tướng cho thành lập Ủy ban liên bộ để lo giúp dân tỵ nạn Quân khu để binh sĩ yên tâm chiến đấu. Thủ Tướng hứa sẽ tăng nhiều tầu chở dân di tản và giúp đồng bào tỵ nạn. Trong khi ấy tại địa phương các đoàn thể, hội từ thiện, phú thương… đóng góp vào cuộc cứu trợ hiệu quả hơn của Trung ương nhưng vấn đề tỵ nạn vượt quá khả năng của họ.
Từ ngày 17-3 đường Quốc lộ 1 tràn ngập người và xe cộ, tại các bến cảng, tầu chở quân như quân dụng cho chiến trường Huế Đà Nẵng bị dân và lính ép phải chở họ rời bến, giới phụ trách bến tầu phải thuyết phục họ mãi. Ngày 21-3 Việt Cộng cắt đường Quốc lộ 1, dân tỵ nạn bèn đi về miệt biển, tầu bè được mướn hay bị cướp để chạy loạn nhưng không đủ. Ngày 23-3 tầu Trường Thanh do Bộ tổng tham mưu mướn chở được hơn 5000 người. Huế bỏ ngỏ đếm 25-3, dân quân rút theo bờ biển về Đà Nẵng. Tam Kỳ mất 24 -3, Chu Lai di tản ngày 26, dân Quảng Ngãi, Quảng Tín chạy về Đà Nẵng. Ngày 26 Tướng Trưởng gửi Tướng Hoàng Lạc Tư lệnh phó về Sài Gòn trình Tổng thống và Thủ tướng giải quyết ngay vấn đề tỵ nạn vì thành phố sắp rơi vào tình trạng hỗn loạn khiến Đã Nẵng sẽ tự sụp đổ không cần Việt Cộng tấn công. Lưu thông trong thành phố ứ đọng, dân số trước đấy chỉ có 300 ngàn nay có tới hơn một triệu, cướp của giết người giữa ban ngày.
Ngày 27-3 chuyến phi cơ dân sự đầu tiên mướn của Mỹ đáp xuống Đà Nẵng nhưng mỗi khi có máy bay xuống hỗn loạn diễn ra dữ dội. Các chuyến bay dân sự phải đình chỉ, giới hữu trách cho thay bằng 4 máy bay C-130, nhưng hỗn loạn liên tục nên 4 chiếc này chỉ cất cánh được một lần vào ngày 29-3. Bến tầu cũng hỗn loạn, các tầu thả neo ngoài khơi Đà Nẵng, dân dùng thuyền bè từ bờ ra tầu, mỗi tầu được chừng 10 ngàn thì nhổ neo về Cam Ranh, Vũng Tầu, Phú Quốc… Bọn lưu manh côn đồ lợi dụng cướp bóc hà hiếp đồng bào trên tầu, nhiều người xỉu vì kiệt lực.
Việt Cộng pháo kích tấn công Đà Nẵng mạnh vào đêm 28, dân chúng tiếp tục tìm đường lánh nạn bằng thuyền bè dưới những trận mưa pháo của địch, nhiều người chết chìm khi lội từ bờ ra tầu. Bộ TTM đề nghị Phó thủ tướng Phan Quang Đán trưng dụng 13 tầu thương thuyền để chở dân tỵ nạn và kêu gọi các nước đồng minh giúp chở dân ra khỏi vùng giao tranh. Các nước hưởng ứng lời kêu gọi nhưng không thể gửi tầu tới ngay được trong khi tình hình ngày một thê thảm. Với con số người tỵ nạn quá đông cuộc di tản không thực hiện được như ý muốn, dân tỵ nạn tràn ngập các trại tỵ nạn ở Vùng 3 và Phú Quốc.
Theo Đại Tướng Cao Văn Viên khi chính quyền bắt tay vào giải quyết vấn đề tỵ nạn thì đã quá trễ, vấn đề tỵ nạn đã làm đảo lộn kế hoạch quân sự của Vùng 1, dân di tản đã làm náo loạn cả lên khiến cho binh sĩ hoang mang không còn tinh thần chiến đấu. Cuộc lui binh của Quân đoàn 1 cũng chịu chung số phận với cuộc triệt thoái Cao nguyên chỉ là một cuộc hành quân phá sản đã làm sụp đổ toàn bộ Quân khu khiến cho Quân đội VNCH mất gần hết các lực lượng tinh nhuệ. Vũ khí đạn dược phần lớn bị bỏù lại không kịp hủy, ta mất gần 450 xe tăng và hơn 400 đại bác, phần lớn lọt vào tay quân thù, sự sai lầm của một người đã khiến cho VNCH sụp đổ nhanh hơn dự kiến.

Trọng Đạt

Tài liệu tham khảo
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến tranh Việt Nam 1963-1975, Đại Nam 2001.
Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.
Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987
Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc (Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam- 1945-1975) Tiếng Quê Hương 2006.
Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh xuất bản 2005.
Văn Tiến Dũng: Đại Thắng Mùa Xuân, nhà xuất bản QĐND Hà Nội, tái bản lần thứ tư, 2003.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, Texas 1991.
Lâm Quang Thi: Autopsy The Death Of South Vietnam, Sphinx publishing 1986.
The World Almanac Of The Vietnam War, General Editor: John S. Bowman – A Bison Book 1985.
Stanley Karnov: Vietnam, A History – A Penguin Book 1991.
Marilyn B. young, John J. Fitzgerald, A.Tom Grunfeld: The Vietnam War, A History In Documents – Oxford University press 2002.
Trần Việt Đại Hưng: Một Bí ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam 1975, Sài Gòn Nhỏ Dallas 2002.
Trung Tướng Lữ Lan: Cuộc Chiến Ba Mươi Năm Nhìn Lại Từ Đầu, Sài Gòn Nhỏ Dallas 28-4-2006.
Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng: Thiên Thần Mũ Đỏ, Ai Còn, Ai Mất. Người Việt Dallas 7-10-2005.
Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam, Người Việt Dallas 21-6-2005 (Không tác giả).
Hồ Đinh: Cơn Phẫn Nộ Cuối Cùng Của Một Quân Đội Bị Phản Bội, Người Việt Dallas, 23-12-2005.
Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Đỗ Cung dịch, Người Việt Dallas 22-11-2006.
Cao Văn Viên: Tuyến Đầu Vùng Một Thất Thủ, báo Thằng Mõ, Sacramento số 30-4-2006.
Nguyễn Văn Châu: Nhớ Về Quân Đoàn I, Sài Gòn Nhỏ Dallas 25-8-2006.
Nguyễn Tiến Việt: Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà 1968-1975 (dịch từ RVNAF 1968-1975 của Bill Laurie), Con Ong Việt số 71, tháng 5-2006.
Trần Trung Đạo: 30 Năm Nhìn Lại, Con Ong Việt số 60, tháng 9-2004.
Phan Nhật Nam: Một Đời Trung Liệt, Ba Lần Giữ Nước, Tướng Quân Ngô Quang Trưởng, Sài Gòn Nhỏ Dallas 2-2-20

https://ongvove.wordpress.com

” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

Trước khi đi trình diện Trung Tâm 3 Nhập Ngũ, tôi đã ghé BTL/HQ ở bến Bạch Ðằng nộp đơn và được khám sức khoẻ tổng quát ngay, cũng như được cân đo xem có đủ sức nặng và chiều cao; đến chiều được cho về với lời dặn dò là sẽ thông báo sau. Không một giấy tờ được cấp phát, lúc này là lúc làm cho tâm hồn tôi bất an, làm sao mà yên lòng được khi chưa biết chắc kết quả khám sức khỏe của tôi, và cũng chẳng có giấy tờ gì chứng minh là tôi đã thuộc về Hải quân, trong khi thời gian được ấn định để trình diện tại Trung Tâm 3 Nhập Ngũ đang từ từ trôi qua một cách lặng lẽ. Trên đường về nhà, tôi sẽ là một tội nhân nếu như Cảnh Sát hay nhân viên Quân Cảnh thường đứng chốt tại một ngã tư nào đó xét giấy tờ và ghép cho tôi cái tội trốn quân dịch thì cuộc đời sẽ ra sao. Suốt đêm đó, tôi không thể nào nhắm mắt và chỉ mong cho chóng sáng qua đêm. Sáng sớm ngày hôm sau, 09 tháng 3 năm 1969, tôi bắt thằng em chở tôi lên BTL/HQ một lần nữa để xem tình hình; ngồi phía sau chiếc Kawasaki 2 bánh mà lòng tôi đầy lo sợ, hồi hộp. Ðến được BTL/HQ, tôi thở phào nhẹ nhõm khi nhân viên phòng tuyển mộ cho biết là tôi có đầy đủ sức khỏe. Sau đó, tôi trình diện nhập trại Bạch Ðằng II ngay và trở thành một trong các Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân thuộc Khóa 20. Trong số 270 Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân khóa 20, tôi thấy có 6 anh em cùng ở một Xã, có người đã quen thân trước, nhưng không hẹn và rủ rê để tình nguyện đi Hải Quân một lượt, có lẽ mỗi người có một hoàn cảnh và tình huống riêng tư khác nhau trong thời gian đó, riêng tôi chỉ là một sự tình cờ, hoàn toàn không chủ đích.

https://i1.wp.com/www.vietlist.us/Images_history/TrungTamHuanLuyenHQNhaTrang.jpg
Trong Quân trường Hải Quân Nha Trang, tôi trải qua thời gian huấn nhục và sau đó lên đàn anh rồi được đề cử làm Tiểu đội trưởng khóa sinh đàn em. Một chuyện không may đến với tôi là Chuẩn Úy Long đề nghị lên Ðại Ðội Trưởng khóa sinh phạt tôi 4 ngày trọng cấm với tội danh là không chào tay Ông ta khi Ông đi ngang qua chỗ tôi đang dẫn Tiểu đội đàn em đi tạp dịch. Thực sự, tôi đang lo điều động đàn em nên không nhìn thấy Ông ta, chứ tôi không có thái độ thất kính với Sĩ Quan Cán Bộ như Chuẩn Úy Long suy nghĩ. Hơn nữa, trong thời gian này, mỗi khóa sinh chỉ được coi như là một con nòng nọc chưa đứt đuôi, lính không phải lính, quan không phải là quan, chỉ là một khóa sinh đang thụ huấn tại Quân trường. Vì là cán bộ khóa đàn em nên tôi chỉ bị kỷ luật ký giấy 4 ngày mà không phải ngồi tù. Cũng vì bị phạt 4 ngày mà điểm hạnh kiểm kỷ luật ra trường của tôi bị thua sút so với các khóa sinh bình thường khác và đã làm cho tôi bị sụt hạng từ 30 xuống dưới 80 trong danh sách kết quả khảo sát Anh Ngữ (đễ được chọn đi thực tập Ðệ Thất Hạm Ðội sau khi ra trường). Khi được biết chỉ có đủ ngân khoản cho gần 80 Sĩ Quan đi thực tập Ðệ Thất Hạm Ðội mà thôi và tôi phải chọn đơn vị để phục vụ, nỗi thất vọng tràn đầy trong tôi, bao nhiêu dự tính đã bay xa; ngoài sự thất vọng là sự xấu hổ với người bạn gái mới quen mà sau này chính là vợ tôi, tôi đã phải chọn đơn vị HÐ4DP (Hải Ðội 4 Duyên Phòng) là đơn vị đầu tiên đóng tại đảo Phú Quốc, sau khi không còn đơn vị nào ở gần Saigon. Trước khi tân đáo đơn vị, chúng tôi đã lập gia đình với thời gian quen nhau chưa đầy 2 tháng. Có lẽ tôi đã áp dụng câu :
Cưới vợ thì cưới liền tay,
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha.

Kinh toc dinh PCF HQ3831, HD3DP, Photo by Rod Allen 2AOD

Phạm Quốc Nam

<h4 class="x_entry-content">
<span style="font-size:large;"><em>Là một chiến binh, sự sợ hãi trên chiến trường dần dần được thay thế bằng những thú vị lúc hành quân công tác. Đời binh nghiệp sống và chết mặc cho số mệnh. Dù rằng chiến trường đã thôi tiếng súng và ngục tù cộng sản đã lùi vào quá khứ. Nhưng hận vong quốc và đấu tranh diệt cộng vẫn còn đây …..Nhưng đôi lúc cũng cần dành cho chút thư giãn để tìm về hương xưa, nhớ tình chiến hữu và ôn lại vài kỷ niệm khó quên của một thời lính trẻ.</em></span></h4>

Phạm Quốc Nam và Nguyễn Duy Khanh

<h4 class="x_entry-content"></h4>
<h4 class="x_entry-content"><span style="font-size:large;"><strong>C</strong></span><span style="font-size:large;"><strong>ố Hải Qu</strong></span><span style="font-size:large;"><strong>ân Nguy</strong></span><span style="font-size:large;"><strong>ễn Duy Khanh, cựu t</strong></span><span style="font-size:large;"><strong>ùy viên Tư L</strong></span><span style="font-size:large;"><strong>ịnh Hải Qu</strong></span><span style="font-size:large;"><strong>ân và tôi</strong></span><span style="font-size:large;">.</span></h4>

1. Tôi biết tên anh –Mắt xích thứ nhất Tôi tốt nghiệp Tú Tài II ban B từ trường trung học công lập Nguyễn Trải năm 1967. Thi vào trường Đại Học Kiến Trúc và Y khoa đều rớt. Tôi ghi danh theo học MPC tại Đại Học Khoa Học Saigon. Giửa năm 1969, nhóm bạn thân từ thuở trung học lên đến đại học có ba thằng bạn thôi học kéo nhau vào Không Quân, bỏ lại Phạm Hoàng Kỳ (OCS) và tôi. Vài tháng sau đó, Kỳ và tôi rủ nhau vào hải quân đang lúc Khóa 21 SQHQ tuyển mộ.

Sau buổi khám sức khoẻ tổng quát tại bệnh viện Hải Quân, tôi nhận được kết qủa với ghi chú của bác sĩ Nam “chờ tái khám cánh tay phải” (Cánh tay của tôi bị cán gía bẩm sanh). Cầm tờ giấy chờ tái khám sức khoẻ ra về tôi cảm thấy không vui.

Tuần lễ khám sức khỏe đi qua, tôi không thấy hải quân gọi tái khám……Tôi tiếp tục ôm cập sách lên giảng đường.

Tôi có một thằng bạn thời trung học rất thân tên T. Rớt tú tài, T đi vào HSQ Không Quân và làm việc tận phi trường Biên Hòa. Gia đình T cũng rất mến tôi. Ba má T coi tôi như người thân trong nhà. Mỗi khi ghé nhà T gặp lúc nhà đang dùng cơm trưa hay chiều, tôi nhào vô ăn tỉnh bơ. N là em gái của T, là một ca sĩ của đài phát thanh quân đội. N xuất thân từ Ban Việt Nhi của Nguyễn Đức, có nghệ danh là HC. Buổi trưa nọ, ba má T nhờ tôi đưa N đến lớp học hát của thầy Nguyễn Đức tận trong Chợ Lớn. Ngôi nhà của Nguyễn Đức nằm trong một ngõ hẻm rộng đuờng Vĩnh Viễn. Chúng tôi vừa vào đến sân hẻm thì trời tối sầm lại và mây đen xéo đến. Chiếc Honda chưa dừng hẳn, N đã tuột khỏi yên xe phía sau, chạy vội vào nhà. Tôi dựng xe và chạy theo phía sau N, đúng lúc cơn gió lốc ùn ùn kéo đến. Từng lằn chớp toé sáng ngang lưng trời, mang theo từng hồi tiếng sét nổ rền. Dư âm tiếng sấm còn gầm gừ giận dữ, cơn mưa to chợt đổ ào như khối nước khổng lồ trút xuống. Ngoài kia, Phương Hồng Quế đang đứng nép sát vào cửa sổ phía dưới hiên mái nhà, tay trong tay với xấp tập giấy áp trước ngực. Quế đang chờ ai đó đón về.

Cám ơn cơn mưa. Mưa bong bóng cho tôi có thời gian lâu hơn những lần trước để được ngồi ngắm Cẩm Hồng, cô bé thường ngồi đầu bàn phía trong của chiếc bàn dài đang cùng với các cô bé khác tập hát. Phía bên trái, có căn phòng lớn hơn căn phòng học hát nho nhỏ này vừa đủ kê cái bàn dài cho các em. Bên trong căn phòng lớn có một bàn khách (salon) đặt sát vách tường có một cô gái mặc áo dài màu xanh xậm đang cầm bản nhạc trên tay, những ngón của bàn tay khác gỏ nhịp nhè nhẹ lên cạnh bàn. Mái tóc dài ngang vai, tuy che khuất gương mặt, nhưng tôi cũng nhận ra được là ca sĩ Kim Loan. Cô đang bỏ dở luyện hát với cây guitar của Nguyễn Đức nằm ngửa trên bàn. Nguyễn Đức và N đang ngồi góc bàn khác nói chuyện. Lần nào đến đây, tôi cũng thích được ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh cửa thông ngang hai phòng để được ngấm nhìn Cẫm Hồng, cô bé có khuôn mặt đẹp như nàng tiên Bạch Tuyết. Tôi mê mệt giọng hát ngọt ngào và trong vắt của Cẫm Hồng. Tôi không bỏ sót chương trình nào có em hát qua đài phát thanh hay đài truyền hình. Tôi đã trồng cây si khi lần đầu đưa N đến đây. Tôi thích được nhìn em và nghe em hát live. Tiếng hát của em thật tuyệt vời, như dòng suối tơ, rót vào tận huyết quản của người nghe. Tôi đã ‘mê’ em!

Cơn mưa bong bóng tạnh lúc nào mà tôi chẳng hay. N khều vai làm tôi chợt tỉnh khi Nguyễn Đức đưa N ra cửa về:

–           Xong rồi. Về anh Nam.

Tôi đứng dậy, cây si vẫn còn vướng vít níu lại như đã bám rễ. Chân bước đi, mắt trong mắt, tôi vẫy tay chào, em bỡ ngỡ rồi cúi xuống, tim tôi rộn ràng…..Trên đường về, tôi cứ lẩm bẩm tìm những lời hát cho bài ca ‘Bên em, một buổi chiều mưa’……

Buổi chiều ấy là buổi chiều gặp em lần cuối, mà sau này tôi không có dịp trở lại lớp dạy hát của Nguyễn Đức nữa. (Cẫm Hồng có nghệ danh là Phương Hồng Ngọc và về sau này có chồng là nghệ sĩ Ngọc Đức).

Viết đến đây tôi cũng vừa hay tin buồn về Nguyễn Đức khi ca sĩ Phương Hồng Quế qua chương trình Tiếng Hát Hậu Phuơng trên đài truyền hình Hồn Việt TV, cho hay anh vừa qua đời vào ngày 25 tháng 5 năm 2015 tại Việt Nam. Nhạc sĩ Nguyễn Đức, quê Bạc Liêu, anh rất vui tính, hiền lành và nhậu đến bến. Là một nhạc sĩ dạy hát lừng danh tại Saigon. Anh đã sáng lập Ban Việt Nhi và đào tạo nhiều ca sĩ thành danh như Hoàng Oanh, Kim Loan, Huyền Châu, Thanh Lan,Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh v.v…Anh định cư tại Toronto Canada vào thập niên 90. Nếu trước kia tôi không vào hải quân, anh đã giới thiệu tôi theo học đánh trống với Phùng Trọng, tay trống cừ khôi của Saigon trước 1975. Sau Tết Ất Mùi, anh về thăm nhà và qua đời tại Việt Nam. Xin vĩnh biệt anh!

Trên đường đưa N trở về nhà, N hỏi thăm về tình trạng ghi danh vào hải quân. Tôi nói thật tôi đang gặp trở ngại về khám sức khoẻ khi dự tuyễn. N ngồi phía sau vỗ nhẹ vai tôi, an ủi:

–           Anh đừng lo. Để em nói với anh Khanh trong hải quân giúp anh xem sao.

Hai tiếng hải quân bấy giờ đối với tôi hãy còn xa lạ lắm. Nên tôi chẳng hỏi N xem anh Khanh là ai? cấp bậc và chức vụ gì trong hải quân.

Tuần lễ thứ hai chờ đợi hải quân gọi tái khám đi qua….tôi tiếp tục lên giảng đường Khoa Học …..Cho đến một hôm, tôi nhận được thông báo của hải quân gởi đến tận nhà gọi tôi nhập trại Bạch Đằng II, không cần tái khám. Tôi gia nhập hải quân đúng ngày 21 tháng 9 năm 1969.

Vào Bạch Đằng II vài ngày sau đó tôi dò hỏi biết được vị sĩ quan hải quân giúp tôi khỏi phải tái khám sức khoẻ là HQ. Thiếu Tá Nguyễn Duy Khanh, Khoá 12/SQHQ/NT đang là sĩ quan tùy viên của Tư Lịnh Hải quân Trần Văn Chơn.

Câu chuyện giửa Thiếu tá Khanh và tôi chưa kết thúc……Mới chỉ là mắt xích bắt đầu.

Khóa sinh 21SQHQ đi bờ từ Bạch Đằng II - 1969. Ảnh của Lê Xuân Chiến

Khóa sinh 21SQHQ đi bờ từ Bạch Đằng II – 1969. Ảnh của Lê Xuân Chiến (ngồi giữa mang kính cận).

  1. Ra đơn vị – Mắt xích thứ hai

Trở về hải quân sau mấy tháng quân trường Thủ Đức. BTL/HQ đưa chúng tôi ra khắp các đơn vị của hải quân ngoại trừ các các đơn vị tàu biển. Chúng tôi, 15 đứa trong tổng số gần 200 tân chuẩn uý hải quân gồm: Trần Hữu Hoàng, Ngô Hữu Tân, Trần Ngọc Nhuận, Giang Hữu Tuyên, Phạm Quốc Nam, Phạm Văn Ngâu, NN Bích, LT Minh (Minh Lương), TC Hấu, NT Sơn, BL Vân, QA Ninh, Xương, Phước và Soá vác túi quân trang xuống chiến hạm LST của Hải quân Đại Hàn để qúa giang tân đáo BTL/ Vùng 4 Duyên Hải tại An Thới, Phú Quốc. Chiến hạm tách bến. Người yêu của tôi vừa mới đính hôn tuần trước còn đang đứng buồn hiu dưới bóng cây dừa dọc công viên. Nàng vẫy tay qua màng lệ tiễn đưa…Saigon xa dần sau lái chiến hạm, dáng dấp người yêu của tôi mờ dần theo nổi thương nhớ tràn ngập trong tôi …

Chiến hạm ra khơi, xuôi về Nam. Lần đầu tiên nhập vùng biển Mẹ, mộng hải hồ của chúng tôi đã tan tành

Quốc Nam và Ngọc Mỹ - 1971

Quốc Nam và Ngọc Mỹ – 1971

theo bọt biển. Chúng tôi như những thây ma vất vưỡng trên boong tàu vì thể xác đang rã rời và kiệt quệ. Chúng tôi bị vầy vò từng chập theo ngọn sóng đẩy đưa, mặt xanh xao với từng cơn cong mình quằn quại ói cạn cả mật xanh. Ôi say sóng! một trạng thái vầy vò thể xác tột cùng, khó diễn tả mà chỉ muốn chết đi thôi…..

Khi hải đảo Phú Quốc rỏ dần trước mũi tàu, chuyến hải hành đầu tiên của chúng tôi đã đối diện một nổi buồn vĩnh biệt người lính trẻ Đại Hàn: Anh! người thủy thủ Đại Hàn trẻ trung, vui tánh. Vừa mới đây, anh cho chúng tôi nước uống, kẹo ngọt, mì gói. Trước mắt chúng tôi, người thủy thủ trẻ đang mang bình hơi lặn vào vai, rồi anh nhảy tùm xuống biển. Bấy giờ chúng tôi mới biết anh là người nhái và không biết anh nhảy xuống biển vì công tác gì? Một giờ…hai giờ…ba giờ đồng hồ đi qua…, chiến hạm vận chuyễn cấp cứu bằng nhiều vòng từ gần rồi ra xa nơi anh nhảy xuống. Thủy thủ đoàn và chúng tôi lo âu cùng nhau quan sát và chờ đợi. Trực thăng vùng cũng bay lên tìm kiếm….. Người Nhái trẻ vẫn biền biệt trong lòng biển. Tuyệt vọng! Chiếc hạm chậm chạp rời vùng cấp cứu và kéo dài còi tàu nghe như tiếng khóc thương của người mẹ vừa mất đứa con. Chiếc LST của hải quân Đại Hàn lầm lũi ủi bải. Chúng tôi lên bờ và sau đó được tin anh, người nhái trẻ tốt bụng đã thật sự mất tích. Từng ngày sau đó, chúng tôi cố nghe ngóng tin anh. Xác anh vẫn biền biệt dưới đáy đại dương……Xin vĩnh biệt! người Nhái trẻ Đại Hàn.

Hai năm ở Vùng 4 Duyên Hải, tôi phục qua các đơn vị: Duyên Đoàn 41 (Hòn Khoai), biệt phái đơn vị Tác Chiến Điện Tử Hoa Kỳ (đồn trú trong Duyên đoàn 44 – Hà Tiên) và Duyên đoàn 42 (An Thới, Phú Quốc). Cuối năm 1972, tôi về Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang để theo học Khoá 2 Đặc Biệt.

  1. Chuyện quân trường Hải Quân Nha Trang:

 – Tại sao tôi chọn Hải Đội 5 Duyên Phòng – Mắt xích thứ ba 

Tại quân trường Nha Trang, tôi có nhiều kỷ niệm vui và sẽ kể cho các bạn nghe vào dịp khác. Quân trường này, tôi gặp lại nhiều bạn đồng khóa khi còn ở Bạch Đằng 2 rất thân như Nguyễn Văn Thiện, Trần Văn Dư và Trần Ngọc Châu, tôi còn quen biết thêm những người bạn mới cùng phòng như anh Nguyễn Văn Ba (Thủ khoa Khóa 2ĐB), Trần Châu, Hồ Đắc Thắng, Nguyễn Văn Võ, Nguyễn Văn Hồng v.v…Nhưng chúng tôi ba thằng cùng phòng thân nhất là Đinh Hồng Khanh, Huỳnh Thanh Trung và tôi. Khanh nằm giường trên, tôi nằm giường dưới. Giường bên trái có Phạm Cao Bốn và Quách An Ninh. Giường bên phải có Trần Châu và Hồ Đắc Thắng. Chúng tôi khó quên được Trần Châu tối tối hay cuối tuần nhậu xĩn từ câu lạc bộ của mẹ con cô Cúc mập phía sau phạn xá trở về phòng, Trần Châu chọc phá Hồ Đắc Thắng làm Thắng quạo và điên lên. Cứ thế cả phòng chúng tôi lại có phen cười vỡ bụng.

Một buổi trưa ngày Chủ Nhật, tôi chia tay sớm với Khanh, Trung, Hồng và anh Ba tại một góc phố trên đường Độc Lập gần khách sạn Tín Lập. Tôi ghé nhà bà chị họ trong cư xá Hải quân theo lời nhắn.

Chị Tý mở cửa, tôi vào nhà đã thấy Trung Tá Nguyễn Văn Nhựt, Chỉ huy phó TTHL/HQ/NT chồng chị Tý và Trung Tá Đặng Diệm vừa từ Saigon ra làm Chánh Chủ Khảo cho ngày mãn khóa của Khoá 2 Đặc Biệt. Tôi chào hai ông và theo bà chị xuống tận bếp, phụ mang đồ nhấm lên bàn. Hai ông đã làm cạn mấy chai bia. Đồ nhấm chỉ là đĩa thịt chuột đồng rô ti. Tôi ngồi xuống chiếc ghế kế Trung tá Diệm, đối diện bà chị tôi, chị ngồi kế bên trung tá Nhựt. Ông Nhựt khui cho tôi chai bia: ‘zô em’.

– Hai ông đó nghe, lo cho thằng em của tôi đi đơn vị tốt đó. Bà chị Tý nói.

Trung tá Nhựt tặc lưỡi:

– Uống một chút đi rồi tính sau.

Cạn ly bia, thêm chai bia mới. Mặc cho hai ông nói nhiều về hải quân và khuyên tôi nên chọn chiến hạm càng lớn càng tốt, tôi im lặng và vẫn ôm lấy giấc mơ trở thành thuyền trưởng hải đội duyên phòng (HĐZP), một đơn vị lý tưởng nhất (Hải quân Hoàng Gia) mà tôi từng ao ước.

Tôi hết sức thất vọng khi biết hai ông không muốn tôi đi bất cứ HĐZP nào và cũng không giải thích tại

PCF - HQ3909

PCF – HQ3909

sao. (Cho đến sau này ở HĐ5ZP khi tôi nghe HQ Trung Tá Mai Trọng Truật, Tư lịnh phó V5ZH ‘sỉ vã’ các quan thuyền trưởng: “Những gương mặt đầy dầu nhớt” tôi chợt nhớ và hiểu tại sao Trung tá Nhựt và Đặng Diệm không muốn tôi về HĐZP). Hai ông có biết chăng giấc mơ làm thuyền trưởng hải đội của tôi đã có từ lâu lắm rồi, từ khi tôi còn lênh đênh trên các chiếc ghe cây của duyên đoàn tuần duyên hay công tác trên biển. Lúc đó tôi thèm thuồng khi thấy những PCF lướt sóng nhanh như bay khỏi mặt biển và thấy những Coast Guard với buồng lái thật cao, thật oai hùng cỡi sóng hay kiêu hùng băng mình chẻ đôi những con sóng dữ cao ngất. Với tôi chiến đĩnh của HĐZP là những con tàu đi biển oai dũng và kiêu hùng.

Thuyết phục hai ông tá không được. Tôi không còn hứng thú gì để ngồi lại. Tôi cạn nhanh phần bia còn lại và đứng dậy cáo từ hai ông và bà chị Tý trở về quân trường.

Tôi đón xe lam về quân trường. Trên lề đường và cũng nơi này của chủ nhật tuần trước khi tôi đang đón xe lam, một xe jeep chạy vụt qua, tôi vừa kịp nhận ra là xe jeep của Thiếu Tá Nguyễn Dinh, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ/HQ/NT. Tôi còn đang thắc mắc về một phụ nữ thật xinh đẹp ngồi kế bên ông, Thiếu tá Dinh vòng xe lại và dừng xe trước tôi. Ông ghi tên tôi rồi chạy xe đi. Mặt ông đanh lại. Ngày hôm sau, tôi được gọi lên trình diện ông để nhận 8 củ xin gia tăng vì không chào Thiếu tá chiều hôm qua. Thế là tại quân trường Nha Trang, tôi bị hai lần ký củ: một là chui rào ra phố lúc quân trường cấm trại Tết và hai là tội ‘quên’ chào Thiếu Tá.

Khóa học kết thúc. Trung Tá Nhựt cùng Trung Tá Đặng Diệm chủ tọa buổi chọn đơn vị. Ỷ lại là người nhà của Trung tá Nhựt, tôi hy vọng sẽ được gọi tên ở hàng đầu để ưu tiên ‘dành’ đơn vị. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Tôi chờ mãi cũng không thấy gọi tên, trong khi các Hải Đội  2, 3 và 4 ZP đã không còn chổ. Tôi nẩy ra suy diễn khác: có lẽ ông Nhựt đã giử chổ cho tôi chăng…. Nhưng hy vọng đó bị dập tắt ngay, khi tôi được gọi tên. Trên bảng chỉ còn HĐ1ZP và HĐ5ZP. Tôi không cần suy nghĩ để lựa chọn giửa hai hải đội ‘bị chê’ còn lại. Tôi chọn ngay HĐ5ZP, dù sao Vùng 5 Duyên Hải với hậu cứ Năm Căn và vùng biển quanh mũi Cà Mau mà tôi đã quen thuộc khi ở Duyên Đoàn 41 Hòn Khoai.  Chọn HĐ5ZP, tôi bắt gặp Trung Tá Nhựt nhìn tôi với ánh mắt đầy thất vọng. Chịu thôi!

– Cố HQ Thiếu Tá Nguyễn Dinh

Vừa rời khỏi phòng khi buổi chọn đơn vị chấm dứt, tôi bậc lửa châm điếu thuốc lá vừa đúng lúc Thiếu tá Dinh dừng xe jeep bên lề đường. Thấy Thiếu tá Dinh, tôi chợt nhớ đến lời Trung Tá Nhựt:

– Em bị phạt hai lần về kỷ luật. Nhưng may là được đậu.

Hèn chi tôi ra trường với hạng gần bét. Không đợi Thiếu tá Dinh kịp xuống xe, tôi đi nhanh đến chào ông. Tôi càu nhàu:

– Cám ơn Thiếu tá phạt tôi xuýt rớt.

Cố HQ Thiếu Tá Nguyễn Dinh (K.13/NT)

Cố HQ Thiếu Tá Nguyễn Dinh (K.13/NT). Ảnh của Võ Trường Xuân

Thiếu tá Dinh nhìn tôi, khó hiểu. Tôi chào ông rồi bỏ đi một nước. Giữa năm 1986, tôi gặp lại Thiếu tá Dinh trong trại tỵ nạn Bataan, Phi Luật Tân. Ông và tôi cùng ở Vùng 5. Tôi kể lại câu chuyện tại quân trường Nha Trang. Ông cười trừ: “Tại sao lúc ấy anh không nói sớm cho tôi biết”. Câu chuyện năm xưa tại quân trường giữa ông và tôi trở nên một kỷ niệm vui. Chị Dinh vẫn trẻ đẹp như xưa. Khi ông là Hội trưởng Hội Hải quân tại trại tỵ nạn Bataan, tôi có nhiều tài lặt vặt nên giúp ông được nhiều việc tại trại như viết biểu ngữ biểu tình, tổ chức gia đình hải quân đi cấm trại hay vác sơn, vác phấn màu đi vẽ sân khấu trình diễn văn nghệ cho các vùng, cho Tết v.v…Từ đó, Thiếu tá Dinh, Đại úy Lang say (Khóa 16/NT) và tôi trở nên thân thiết và gắn bó. Chúng tôi có thật nhiều kỷ niệm khó quên. Hội Hải Quân tại trại tỵ nạn Bataan lúc bấy giờ có khá đông hải quân. Riêng hải quân Đặc Biệt ngoài tôi còn có LĐ2 như Nguyễn Ngọc Bích, LĐ2 Nguyễn Văn Hải (Hải hớt tóc -Quang Trung, lên đại úy rất sớm). Lúc bấy giờ, bọn chúng tôi chẳng biết gì về danh xưng Hải quân Lưu đày (HQLĐ) tại hải ngoại. Lúc ấy cấp bậc, khác biệt quân trường hay xuất thân khi còn trong quân ngũ không thể ngăn cách được tình chiến hữu cùng chung màu áo của chúng tôi tại trại tỵ nạn.

Là cựu sĩ quan hải quân Đặc Biệt, chúng tôi rất hãnh diện và tự hào về xuất thân hải quân của mình. Không cần biết vì lý do gì và mặc ai đố kỵ cho chúng tôi là con nuôi, con ghẻ của hải quân hoặc từ Thủ Đức sang hải quân và gì gì đi nữa…..Who care….Sự thật và là sự thật từ một tân khóa sinh SVSQ/HQ để trở thành một SQĐB/HQ ngành Chỉ Huy chúng tôi phải mất gần bốn năm. Chúng tôi tự hào về quá trình này. Chiều dài của thời gian đó, chúng tôi đã đi qua nhiều quân trường, qua thực tập (OJT), qua phục vụ và đánh nhau trên chiến trường. Thậm chí có khi mất mạng hay bị thương tật trước khi trở thành một SQHQ. Không cần biết lý do gì hay nguyên nhân nào, thực tế hải quân đã toi luyện chúng tôi như thế đấy. Chúng tôi tự hào và hãnh diện là hải quân từ Bờ ra Biển là không quá đáng.

Khi Thiếu tá Dinh và tôi chuẩn bị rời trại Bataan lên đường đi Mỹ, cũng vừa lúc LĐ2 Trần văn Công (Công ngũ) vừa đến trại.

Ông và tôi cùng chuyến bay từ Phi Luật Tân sang định cư tại Hoa Kỳ. Ông về Seattle, WA và tôi định cư tại

Phạm Quốc Nam và Nguyễn Dinh

Phạm Quốc Nam và Nguyễn Dinh

Portland, Oregon. Thời gian sau tôi được tin ông về miền Nam California và ông đang xúc tiến tổ chức đại hội SQHQ/NT. Ông từng là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ/HQ của nhiều khóa và là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn các khóa Đặc Biệt SQHQ/NT. Chưa kể các SQHQ hiện dịch xuất thân Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt cứ mùa quân sự của hai năm cuối, họ về quân trường Nha Trang học 3 tháng hải nghiệp. Cho nên Thiếu tá Dinh thừa biết SQHQ xuất thân từ quân trường HQ Nha Trang không chỉ riêng có Khóa 1 đến Khóa 26 mà còn nhiều liên khóa khác. Vốn là một cán bộ của quân trường hải quân, ông biết rỏ về tổ chức và huấn luyện hải quân hơn bất cứ ai.

Bởi vậy, trước sự phân hóa trong quân chủng hải quân càng ngày càng trầm trọng, ông muốn làm việc gì đó để lôi kéo lại sự đoàn kết trong hải quân tại hải ngoại. Ông dự tính tổ chức đại hội SQHQ/NT, nhưng chưa kịp tiến hành thì bất ngờ ông qua đời. Nếu như ông không mất sớm, chắc chắn không có cái hiện tượng ‘Đại hội liên khóa SQHQ Nha Trang’ gì đó ra đời đi ngược lại hoài bảo của ông.

Hiện tượng tổ chức này bên ngoài xem ra hợp tình hợp lý nhưng bề trái là một thủ đoạn ném lọ mực đen vẩy vào màu áo trắng của hải quân vốn đã nhầu nát vì tệ nạn kỳ thị, đố kỵ hay mặc cảm. Trong hải quân ai ai cũng biết SQHQ của quân lực VNCH ngoài xuất thân từ quân trường Nha Trang còn xuất thân từ nhiều quân trường khác có gía trị và nổi tiếng trên thế giới như Brest (Pháp), như OCS (Hoa Kỳ), như HQ Hoàng Gia Úc đâu thua kém gì quân trường hải quân Nha Trang. Chưa kể đến những vị xuất thân từ trường Việt Nam Hàng Hải (Thuyền trưởng cận duyên, Viễn Duyên và Cơ khí trưởng, với chương trình học 4 năm) sang hải quân (các khóa đầu tiên của HQNT) trở thành các vị Tư Lệnh và Chỉ Huy Trưởng cao cấp của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa như Lê Quang Mỹ, Hồ Tấn Quyền, Trần văn Chơn, Lâm Ngươn Tánh, Chung Tấn Cang, Trần Văn Phấn, Đòan Ngọc Bích, Nguyễn Văn Lịch, Khương Hữu Bá, Đinh Mạnh Hùng, Ngô Khắc Luân, Nghiêm Văn Phú, Nguyễn Thành Châu, Vũ Đình Đào, Diệp Quang Thủy, Nguyễn văn Thông v.v..(Đặc biệt là ông Nguyễn Văn Thiệu là một Tướng lãnh của Quân đội và cũng là vị Tổng Thống của Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam)

Ban tổ chức các kỳ đại hội liên khóa cựu SVSQ/HQ/NT đó có chủ trương gì khi làm vậy? Việc làm đó của họ ảnh hưởng thế nào cho sự đoàn kết quân chủng, cho công cuộc đấu tranh chống cộng và có lợi cho ai? Câu hỏi ai cũng trả lời được.

Đứng ở bất cứ góc cạnh nào để quan sát thì cái tổ chức đó vẫn là hiện tượng, là dấu ấn cố tình tạo chia rẽ trong quân chủng hải quân VNCH.

Tôi  vẫn còn nhớ lời Cố Thiếu Tá  Dinh nói khi ông có ý định tổ chức đại hội SQHQ: Sự kỳ thị và phân biệt trong Hải quân là sự tự hào ấu trĩ và đáng ghét‘. Thiếu Tá Dinh đánh giá thật chính xác. Cái hệ lụy “tự hào ấu trĩ’ đó đã xô đẩy tập thể hải quân tại hải ngoại, tại địa phương càng ngày càng tan tát. Ngay việc kết hợp giữa quan với quan, giữa chỉ huy với cơ khí còn không được thì nói chi đến giữa quan với quân! Đại đoàn kết hải quân chỉ là ảo tưởng…..

Họ nhanh chóng quên đi dòng lệ đau đớn, tang tóc và mất mát tất cả khi chứng kiến lá Quốc Kỳ VNCH bị hạ xuống trên các chiến hạm VNCH tại Subic Bay, Phi Luật Tân, đánh dấu ngày Hải Quân VNCH không còn nữa. Hình ảnh hải quân VNCH còn giử được đó là bộ quân phục. Không may hy vọng qua bộ quân phục màu áo trắng sẽ gối trọn tình chiến hữu hải quân lại nhanh chóng vỡ tang khi tất cả đến được bến bờ tự do. Lập tức họ quay về quá khứ, ôm ấp, giữ lấy cái bản lề rĩ sét mục nát của cấp bậc, chức vụ, ngành nghề, quân trường, xuất thân của thuở xa xưa để hành xử với nhau. Từ đó tình chiến hữu chỉ còn là những thứ tình lẻ tẽ của đồng môn, đồng khóa, đồng cấp bậc v.v…Họ hiện nguyên hình với cái ‘ta’ (tập thể) và cái ‘tôi’ (cá nhân) to bằng trời. Âu đó cũng là bản chất của người Việt không thể gỡ bỏ được. Không thể đoàn kết được. Buồn lắm thay!

Cái ‘Ta’ và ‘tôi’ trong hải quân là sự ‘Tự hào ấu trĩ’ là căn bệnh ung thư của hải quân không còn thuốc chửa khi mà tất cả đang ở vào cái tuổi già nua bệnh tật. Cái tuổi đã, đang và chuẩn bị lìa đàn về với đại dương. Tôi tự hỏi nơi đó không biết biển Mẹ có phân biệt hồn xác con của Mẹ thuộc khóa nào hay quân trường hoặc cấp bậc gì hay không?

Có một điều, chắc Mẹ buồn lắm khi Hoàng Sa bị mất vào tay ngoại xâm năm 1974 và sau đó khi Tổ Quốc Việt Nam đã mất sạch vì trò chơi quốc tế, các con của Mẹ như lục bình trôi khắp lục địa năm châu và không còn bám được vào đâu của tàu thuyền để thỏa mộng hải hồ . Các con của Mẹ đã bỏ lại Mẹ, bỏ lại vùng biển thân yêu bị dầy xéo từng ngày trong tay giặc cộng và ngoại xâm.

Vì đâu các con cùng màu da, cùng dòng máu mặn nhưng lại bôi mặt đố kỵ lẫn nhau khi mà tổ quốc đại dương của các con chỉ còn là ảo ảnh. Các con cứ tự hào riêng để ‘tự sướng’ (danh từ của VC) bỏ mặc nổi đắng cay, đớn đau từng ngày của Mẹ trước cảnh nồi da xáo thịt. Buồn thay cho các con của Mẹ khi phải so sánh các con với các đàn con của những màu da khác. Mẹ đau lòng và hổ thẹn biết bao ……..

– Bài học hữu ích của HQ Đại Tá Nguyễn Thanh Châu

Giữa Đại tá Nguyễn Thành Châu, nguyên Chỉ huy trưởng TTHL/HQ/NT và tôi chẳng có liên hệ quen biết gì nhau. Tôi chỉ nhớ có lần chú ruột tôi có cho tôi biết gia đình vợ của Đại tá Châu ở cùng dãy phố với gia đình ông bà nội của tôi trên đường Trịnh Minh Thế, Khánh Hội và nếu tôi không lầm thì căn nhà đó có nuôi con trăn to sau nhà mà hồi còn nhỏ tôi với mấy thằng bé cùng dãy phố hay đến chọc phá con trăn. Trong nhà có ông gìa người Pháp, rất khó tánh. Ông hay xách cây hèo đuổi lũ trẻ chúng tôi mỗi khi chúng tôi nghịch ngợm bu quanh chuồng chọc phá con trăn gìa của ông.

Những người hàng xóm nói căn nhà đó là của dân Tây. Không biết có phải xuất phát từ nề nếp ‘dân Tây’ hay không mà Đại Tá Châu rất quan tâm đến tư cách của SQHQ. Đặc biệt tư cách qua việc ‘ăn uống’. Cho nên nhân cơ hội Tết năm 1973 quân trường cấm trại cuối tuần, Đại tá Châu cho tập họp tất cả SVSQ và khóa sinh Đặc Biệt để nghe ông giảng về phép lịch sự khi ăn uống. Ông ‘dạy’ cách ngồi, cách ăn, cách uống, cách dùng muỗng, nĩa và dao, khăn v.v…..Tưởng chừng như ông xem tất cả khóa sinh đều là dân nhà quê, ngốc nghếch. Tôi không suy nghĩ như vậy và ngược lại bài giảng ‘Phép lịch sự khi ăn uống’ của ông tuy ngoài chương trình dạy của quân trường nhưng là một bài học rất hữu ích và thực tế. Nhìn cách ăn uống của một người sẽ đánh giá được tư cách của người ấy. Tư cách đến từ trình độ văn hóa, kinh nghiệm, môi trường và học hỏi. Bài giảng của Đại tá Châu là một bài học hữu ích. Tôi hiểu được và thông cảm ông.

  1. Tôi gặp anh – Mắt xích thứ tư.

Ci61 Thiếu Tá Nguyễn Duy Khanh (K.12/NT)

Cố Thiếu Tá Nguyễn Duy Khanh (K.12/NT)

Hằng chục quan hải quân vừa tốt nghiệp Khóa 2 Đặc Biệt tân đáo HĐ5ZP bằng phương tiện nào mà lâu qúa làm tôi quên mất. Tôi chỉ còn nhớ, buổi trưa nắng gắt của Năm Căn, tôi vừa vác túi quân trang tân đáo về khu phòng ngũ của sĩ quan thì sửng sốt khi chạm trán với Thiếu tá LVL, từ phòng tắm bước ra. Ông ta là Thiếu tá CB, cựu Chỉ Huy Trưởng Duyên Đoàn 41, đơn vị đầu tiên của LĐ2 Giang Hữu Tuyên, LĐ2 Quách An Ninh và tôi. Giữa tôi và ông ta có sự xung đột trầm trọng, có lúc gần như đi đến ấu đã nếu không có vài người lính duyên đoàn sẵn sàng can thiệp. Thời gian đó, tôi gần như bị ông ta quản thúc trên hải đảo Giáng Tiên (hậu cứ ZĐ41-Hòn Khoai). Câu chuyện giữa ông ta và tôi được kết thúc vào một buổi trưa nắng biển thật ấm áp, khi chiếc trực thăng đưa Tư Lịnh Đỗ Kiểm và Tướng Ngô Quang Trưởng thị sát vùng biển cực Nam đáp xuống sân đáp của Duyên đoàn. Tháp tùng có cố LĐ2 Trần Ngọc Nhuận, phòng nhân viên BTL/HQ/V4ZH. Nhuận cho biết tôi có công điện thuyên chuyễn về vùng. Nhân dịp Thiếu tá L đang đi công tác và được phép của Đại Tá Đỗ Kiểm, tôi cuốn vội túi quân trang nhảy lên trực thăng theo Tư lịnh Đỗ Kiểm và Nhuận về vùng. Chiếc trực thăng đánh vòng và bay cao trực chỉ đường bay về Phú Quốc. Hòn Khoai bị bỏ xa dần rồi mất hẳn dưới chân trời giửa biển và mây. Tôi được giải thoát khỏi ZĐ41 với 8 ngày trọng cấm do Tư Lịnh Đỗ Kiểm ban cho. Sau này khi một LĐ2 đi HO qua Mỹ cho một số trong chúng tôi biết LĐ2 tên A.N (vì chưa kiểm chứng nên tạm không nêu tên họ của hắn) là một cán bộ của VC. Có thể lắm! Tôi hồi tưởng lại gương mặt và giọng cười khoái chí đầy nét gian ác của tên VC nằm vùng này khi duyên đoàn xảy ra rối ren. Chắc chắn là do tên VC nằm vùng này quậy phá. Thiếu tá L, LĐ2 Giang Hữu Tuyên và tôi chính là những con rối của hắn.

Vừa tân đáo đơn vị mới, bỗng dưng gặp lại ông ta (Thiếu tá L) tại Năm Căn làm tôi hoãng hốt như gặp phải ma. Ông ta vẫn nhìn tôi với ánh mắt hằn học. Để tránh mặt ông ta, tôi rủ Phạm Cao Bốn qua Tiền Doanh (hay Phương?) Yễm Trợ Năm Căn ở chung phòng với Phan Văn Bắc (Bắc Tà Khóa 21/CK/NT). Chúng tôi là bạn thân khi ở Bạch Đằng 2 và Quang Trung. Tại phòng Bắc, tôi cũng gặp lại các ‘con dại’ (tiếng gọi của bạn bè thân của tài nguyên Khóa 21 SQHQ) như Nguyễn Duy, Hoàng Trọng Tuấn, Kim Ngọc Thành, Hồ Văn Rẩm và Lê Tiết Minh. Tại khu phòng ngũ của sĩ quan hải đội, tôi gặp Vĩnh Nam, Võ Trường Xuân, Võ Xuân Long, Báu bựa (OCS) v.v…

Quẳng túi quân trang trong phòng Bắc tà và chưa kịp ngã lưng chút xíu sau cuộc  hành trình từ Saigon ra Năm Căn. Có tiếng gõ cửa. Bắc tà mở cửa. Ngay cửa phòng, tôi nhận ra nhiều anh em hải thuyền củ của ZĐ 41. Chúng tôi vui mừng gặp lại nhau. Giây phút hội ngộ thoáng đi qua. Họ năn nĩ tôi lên làng Năm Căn giải cứu Thiếu tá L đang bị người lạ có vũ khí uy hiếp. Vì Thiếu tá L và tôi có lắm ân oán trước kia tại Duyên Đoàn 41 nên tôi không muốn liên hệ gì với ông ta. Vã lại tôi vừa thuyên chuyển về Năm Căn, chưa trình diện tân đáo HĐ5ZP. Tôi tìm mọi cách từ chối. Nhưng cuối cùng tôi cũng mềm lòng trước sự nài nĩ của đám nhân viên củ của duyên đoàn 41. Tôi mặc quân phục vào và theo họ xuống bến tàu. Chúng tôi đi hai ghe chủ lực tiến lên làng Năm Căn. Sĩ quan trưởng toán của ZD41 tăng phái là Thiếu úy Bình. Tôi không cho ghe ủi bờ tại chợ. Chúng tôi cập ghe phía sau nhà dân cách chợ xa xa. Để lại hai nhân viên giử ghe. Các nhân viên khác trang bị vũ khí theo tôi lên bờ. Tôi áp dụng chiến thuật đánh trong thành phố, Thiếu úy Bình dẫn một toán nhân viên, tôi dẫn một toán khác. Chúng tôi tiến từng khu nhà lần ra chợ. Cuối cùng chúng tôi bao vây được gã thanh niên vạm vỡ mặc thường phục với khẩu M16 có ống nhấm, họng súng dí vào ngực Thiếu tá L. Gã thanh niên bị khuất phục trước nhiều họng súng của anh em hải thuyền bao vây. Chúng tôi tước lấy súng của anh ta. Hai hải thuyền kè Thiếu Tá L về hướng ghe duyên đoàn. Mặt ông ta còn đầm đìa máu từ vết thương trên trán. Có lẽ do bán súng đánh vào đầu. Đồng thời chúng tôi cũng phát hiện gã thanh niên vạm vỡ đó là người nhái Năm Căn. Trả lại súng và thả anh ta ngay sau đó. Chúng tôi xuống ghe và trở về căn cứ Năm Căn.

Về phòng gần 5 giờ chiều. Tôi tỉnh bơ như không có gì xảy ra. Bụng thấy đói và khát, tôi rủ Bắc tà và Phạm Cao Bốn (Bốn lù) đi ăn cơm chiều. Bắc tà đưa Bốn lù và tôi đến câu lạc bộ hải đội. Ba đứa chúng tôi ngồi vào bàn cạnh cửa ra vào cách xa các bàn phía trong đang có nhiều nhóm sĩ quan đang cao hứng nhậu nhẹt cười nói ồn ào, mặt mày đỏ ké. Bên dưới gầm bàn những vỏ chai bia 33 không chồng chất ngỗn ngang. Chúng tôi cũng kêu ba chai bia và vài món ăn no. Uống được vài ngụm bia, một Thiếu tá hải quân từ ngoài cửa bước vào. Ông đi ngang qua bàn chúng tôi và ngồi vào bàn có vài sĩ quan cũng đang nhậu, nhưng không ồn ào như bàn trong góc. Ông ta ngồi hướng đối diện với chúng tôi. Nhìn ông ta một chập, tôi nhớ đã gặp ông ta vài lần đâu đó mà nhất thời tôi chưa nhớ ra được. Tôi cố lục lạo trí nhớ cho đến khi nhận ra được chính ông là người tôi đã gặp vài lần trong nhà hàng Maxim trước kia. Với vóc người khỏe mạnh, to lớn, da ngâm đen, đẹp trai, cười to nói lớn rất dễ cho người đối diện chú ý và khó quên.

Trước 1975, vũ trường Maxim nổi tiếng ở Saigon. Người ta đồn Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là chủ nhân của Maxim. Nhưng theo tôi biết nhà thầu khoáng Phạm Thế Hiển  chính là chủ nhân. Trong thời còn sinh viên, các con của nhà thầu khoáng này là học trò của tôi dạy kèm mỗi tối tại nhà riêng, công ty Liên Cơ nằm trên đường Trịnh Minh Thế Khánh Hội đối diện với gia đình vợ của LĐ2 Trần Hữu Hoàng. Ngoại trừ Giang là con gái lớn thường xuyên có mặt tại Maxim. Cô con gái kế là Hoàng được tôi dạy kèm Toán và có thầy đến nhà dạy Piano. Về sau Hoàng lấy chồng là Michael Thái, con vũ sư Khánh Hồng. Kế Hoàng là Hà, Huyền, Nhựt, Quang mập (cháu). Huyền là cô học trò tinh nghịch nhất nhưng rất dễ thương. Nhựt và Quang có thầy đến nhà dạy đánh trống rất cừ. Sau 30/4/1975, cộng sản cướp đoạt Maxim và đổi tên thành nhà hàng Bạch Đằng do một cán bộ VC lớn tuổi tên Mười Triệu quản lý. Sau Mười Triệu , chủ nhân kế là hề Bảo Quốc, em cố nghệ sĩ Thanh Nga. Thời gian sau nữa Bảo Quốc sang cho người khác….

Thiếu tá Khanh lúc đó mang lon đại úy. Ông thường đến Maxim với đông bạn bè sĩ quan đủ cấp. Có khi với bộ binh, khi thì lính rằn ri và khi thì cả chục người Nhái. Tất cả hình ảnh ấy lần lượt hiện lên trong ký ức tôi:

– Ê! Bắc. Ông Thiếu tá ngồi trong bàn kia là ai vậy mậy?

– Thiếu tá Khanh, Chỉ huy phó hải đội của tụi mầy đó. Bắc tà trả lời.

Tôi giật mình khi nghe đến tên ‘Khanh’, cùng lúc với hình ảnh ca sĩ HC xuất hiện nhanh trong óc:

– Có phải là Nguyễn Duy Khanh không?

Thằng Bắc vừa thò đũa gấp mồi bỏ vào mồm vừa:

– Ừ!

Sáng hôm sau, hàng chục sĩ quan Khóa 2 ĐB tân đáo lần lượt trình diện Thiếu Tá Khanh. Tôi cố tình đứng sau cùng trình diện ông. Một là sợ ông ta biết chuyện trưa hôm qua tôi theo ghe Duyên đoàn 41 lên làng can thiệp vụ Thiếu tá L bị người nhái Năm Căn đánh. Thứ hai tôi muốn cám ơn ông đã đưa tôi vào hải quân qua sự giới thiệu của ca sĩ HC vào cuối năm 1969.

Thiếu Tá Nguyễn Duy Khanh và tôi biết nhau từ đó. Ít ngày sau, tôi có tên trong danh sách được gởi đi học Khóa 4 Thuyển Trưởng (khóa cuối cùng) tại Cam Ranh. Mãn khóa Thuyền trưởng, tôi xuống PCF-HQ 3909 của Võ Trường Xuân.

Tại Năm Căn, ngoài công tác tuần duyên phía Tây từ Bảy Hạp chạy lên phía Bắc Hòn Đá Bạc, đi ngang qua Hải Yến và Sông Ông Đốc, phía Đông từ mũi Cà Mau chạy dài lên ngoài khơi cửa Gành Hào. Từ hậu cứ Năm Căn theo con sông dài chạy ra cửa Bồ Đề, các PCF thường bị VC phục kích đẫm máu bằng B40. Hầu hết chiếc PCF nào cũng không nhiều thì ít đều bị trúng đạn của địch, thân tàu và buồng lái vá víu tùm lum. Máu, bị thương, chết chóc là chuyện thường tình của người chiến binh hải quân Năm Căn: ‘Năm Căn đi dễ khó về’. Bên cạnh những hiễm nguy luôn luôn rình rập khi mỗi lần ra đi công tác hoặc từ biển trở về hậu cứ, chúng tôi cũng có những kỷ niệm, những thú vui khi nghĩ bến hay trên biển hoặc mang tàu ghé bến chợ ven cửa biển để đi chợ, cắt tóc hay nhâm nhi cà phê, uống vài chai bia có đá lạnh hay tán tỉnh những cô gái xinh xinh có sức quyến rũ đẫy đà của thiếu nữ miền biển mặn.

Sự sợ hãi trên chiến trường dần dần bịến mất để thay thế bằng những thú vị khi công tác. Sống và chết mặc cho số mệnh. Thời gian gần hai năm tại HĐ5ZP đi qua vùng biển phía Nam nước Việt với gió mùa biển động hay mặt biển êm đềm với ghe, xuồng, hàng đáy hay những cái nò khổng lồ bắt cá ngoài khơi, cho đến những dòng sông cửa biển trở thành quen thuộc.

Cùng thời gian gắn bó với PCF-HQ 3909, tôi cũng muốn kể vài sự việc xảy ra tại hải đội có liên quan trực tiếp đến tôi là những kỷ niệm khó quên:

– Một lần trong chuyến công tác phía Bảy Hạp. Trên vùng công tác, 4 PCF ghé vào sông Ông Đốc. Không hiểu ân oán gì trước đó? một số quan hải quân của 4 PCF bị Địa phương quân (ĐPQ) bao vây trong một quán nước. Họ tước lấy cây rouleau B38 của tôi. Sau đó dùng súng của tôi ngụy tạo lý do để tấn công dữ dội vào 4 PCF ngay hôm sau khi chúng tôi ghé vào chợ. Gây thiệt hại nặng cho 2 PCF và vài thủy thủ bi thương nặng được trực thăng đưa đi. Trưa hôm sau, Thiếu tá Nguyễn Duy Khanh từ hậu cứ Năm Căn, dùng 2 PCF tiến vào sông Ông Đốc giải quyết. Cuối cùng Tiểu đoàn trưởng ĐPQ (Đại úy Căn) và Tiểu đoàn phó ĐPQ (Đại úy Lưu) bị thuyên chuyển khỏi sông Ông Đốc.

– Lần khác 4 PCF ra đến hàng đáy ngoài khơi cửa Bảy Hạp khi mặt trời ngã xế chiều. Đại úy Long, trưởng toán cho lệnh ba chiếc PCF neo ở hàng đáy và dùng PCF- 3909 của tôi để chở ông và các thuyền trưởng, thuyền phó ghé vào quán cô Lệ nằm ngoài vàm cửa Bảy Hạp. Đây là cái quán quen thuộc và cũng là ‘trạm’ dừng của các PCF từ hậu cứ trước khi ra vùng. Một thối quen của tất cả thuyền trưởng HĐ5ZP. Chúng tôi chưa kịp cạn ly cà phê đá hay chai bia và những xâu tôm ướp tiêu thơm phức nướng bằng than hồng chưa được mang ra thì…… “oành!”….tiếng nổ thật to từ hướng ba PCF đang neo ngoài hàng đáy. Sức nổ gây chấn động cả một vùng biển, làm cái sàn quán của cô Lệ dựng bằng những cây cột đáy to trên biển run bật lên. Chúng tôi chạy nhanh xuống tàu. Tôi nổ máy, tháo dây, rút PCF rời khỏi quán cô Lệ và đưa các thuyền trưởng, thuyền phó về tàu của họ. Các PCF được lệnh Đại úy Long rời hàng đáy chạy ra vùng công tác. Ngoài khơi trời nhấp nhem tối. Trong khi hai PCF có Đại úy Long rời xa ngoài khơi, tôi thấy chiếc PCF thứ ba vẫn nằm tại chổ và không nổ máy. Tôi cho tàu đến gần thì được biết chiếc PCF bị người nhái VC dùng mìn nổ phá hỏng một lổ to sau lái bên hữu. Nước vào thật nhanh, bơm lườn không kịp tháo nước. Tàu bắt đầu xệ bên lái hữu. Tôi lái tàu chạy một vòng quanh và quăng vài trái lựu đạn K3 chống người nhái địch trước khi cập và cột dây thật chặt vào bên hữu chiếc PCF bị nạn. Tôi xin lệnh phòng hành quân để kè PCF bị nạn về hậu cứ. Chúng tôi về đến hậu cứ bình an và tôi đưa tàu trở ra vùng vào giửa khuya. Sau đó tôi được BTL Vùng 5ZH tưởng thưởng bằng Tưởng Lục.

– Một buổi trưa đứng gió, biển bốc hơi thật nóng. Cũng vùng biển phía Bảy Hạp, PCF của tôi đang trên đường lên vùng biển ngoài khơi Hòn Đá Bạc, thuyền trưởng Châu Bá Sơn trên PCF phía sau đang ngang qua Hải Yến gọi máy cho tôi biết sĩ quan an ninh vùng đang trên PCF của Sơn, Chuẩn úy Tâm muốn chuyển sang đi trên PCF 3909 của tôi. Đây là lần đầu tiên vùng phái nhân viên an ninh đi theo PCF tuần duyên: Vùng muốn điều tra chuyện gì đây? Theo yêu cầu của thuyền trưởng Sơn, tôi thả trôi PCF – 3909 ngang cửa sông Ông Đốc chờ PCF của Sơn đến chuyển Chuẩn úy Tâm sang tàu của tôi. Không đầy 2 phút sau, trên tần số máy truyền tin tôi nghe giọng hốt hoãng của thuyền trưởng Sơn báo về trung tâm hành quân: “Chuẩn úy Tâm đã chết vì một loạt đạn M60 bị cướp cò từ một nhân viên trên PCF”. Sơn được lệnh đưa xác Chuẩn úy Tâm về hậu cứ. Tôi cùng hai PCF còn lại tiếp tục đi tuần. Ngày hôm sau, PCF của Sơn trở ra vùng. Chuyến tuần duyên đó, chúng tôi cùng mang một suy nghĩ khi trở về hậu cứ chắc chắn không tránh khỏi bị mời lên an ninh để điều tra về cái chết của Chuẩn úy Tâm. Tuy nhiên, sau hơn hai tháng chờ đợi và cho đến khi chúng tôi nhận được lệnh mang tàu biệt phái HĐ4ZP (An Thới- Phú Quốc) cũng chẳng nghe tin tức điều tra gì về cái chết thảm của Chuẩn úy Tâm……..

  1. Gặp lại anh

Trong thời gian nàyThiếu tá Khanh thuyên chuyển khỏi HĐ5ZP. Đầu năm 1975, 4 PCF của HĐ5ZP biệt phái HĐ4ZP. Tôi được chỉ định làm trưởng toán hướng dẫn ba chiếc PCF khác về vùng biển Phú Quốc quen thuộc. Tại An Thới, tôi gặp lại Thiếu tá Nguyễn Duy Khanh, ông đang là Chỉ Huy Phó CCYT/TV/HQ/ An Thới và tôi cũng gặp lại Đại úy Lê Văn Qúa (K.19/CK/NT), sĩ quan của CCYT/TV/HQ/ An Thới  đã từng giúp PCF-3909 đại kỳ nhanh chóng vào đầu năm 1974. HQ. Lê văn Quá tức Petit Quá, thích vui chơi với HQLĐ, hiện đang ở Seattle, WA.

Sau vài chuyến công tác vùng Bắc đảo Phú Quốc, toán PCF của HĐ5ZP được biệt phái sang công tác vùng biển Hòn Tre (Duyên đoàn 43). Trước khi xuống tàu rời An Thới đi sang Hòn Tre-Rạch Giá, tình cờ chúng tôi gặp Huỳnh văn Sang (Sang mập), cựu khóa sinh đại đội trưởng Đại đội 18C/HQ tại Quang Trung. Sang mập vừa từ Saigon thuyên chuyển ra An Thới làm Trưởng chi An Ninh Quân Đội (Hải Quân). Chúng tôi gặp lại nhau mừng lắm. Ly bia cạn rồi lại ly đầy, chầu nhậu hội ngộ thật hả hê tại quán phở Bò Vàng của HQ. Đỗ Kỳ Nam (OCS). Đến giờ ra khơi, chúng tôi dành nhau trả tiền quán, Sang mập nhất định không chịu. Thế là Sang mập lãnh ‘bill’……..tội nghiệp!!!

Một tháng sau, tôi rời HĐ4ZP thuyên chuyển về Tuần Duyên Hạm HQ 611.

HQ 611 Trường Sa  ngoài khơi đảo Trường Sa. Ảnh của HQ. Hoàng Trọng Tuấn (K.21/NT) gởi tặng.

PGM – HQ 611 ngoài khơi đảo Trường Sa. Ảnh của HQ. Hoàng Trọng Tuấn (K.21/NT) gởi tặng.

PGM -HQ 611 với những câu chuyện gần 40 năm sau mới được biết.

Những ngày gần 30/4/1975, BTL/HQ và BTL/Hạm Đội có nhiều biến động. Qua tần số phát tuyến trên đài chỉ huy HQ 611, tôi biết vài hạm trưởng vắng mặt trên chiến hạm. Hạm trưởng HQ 611 (xin miễn nêu tên và lý do) cũng biến mất, tôi được lệnh từ BTL Hạm đội tạm xử lý chỉ huy HQ 611. Nhờ trách nhiệm này tôi có liên hệ và chứng kiến vài biến cố của hải quân trong những ngày cuối cùng:

– Bắn phi cơ của giặc lái Nguyễn Thành Trung

Sáng sớm ngày 8 tháng 4 năm 1975, có lẽ tôi và thượng sĩ TP Nguyễn văn Chánh, quản nội trưởng HQ 611 là hai người thấy A-37 của Nguyễn thành Trung dội bom Dinh Độc Lập trước nhất khi chúng tôi đang đứng uống cà phê bên ngoài hàng lan bên hữu hạm của đài chỉ huy. Chúng tôi chứng kiến tận mắt chiếc A37 chúi xuống dội bom và cột khói bốc lên cao sau đó. Phòng không của Dinh Độc Lập lập tức khai hỏa. Chiếc A37 dội bom xong, rồi bay hướng về bến tàu với tốc độ cực nhanh và thật thấp. Chúng tôi không kịp phản ứng tác xạ thì chiếc A37 đã bay sát ngang trên tháp đài chỉ huy gần đụng cần antenna của HQ 611 và mất hút bên kia bến đò Thủ Thiêm. Còi hải quân báo động. Tôi cho lệnh HQ 611 vào nhiệm sở tác chiến. Sau khi chiếc A37 dội bom kho xăng Nhà Bè, nó cất cánh bay lên cao. Các chiếc hạm nằm dọc bờ sông Saigon khai hỏa. Phòng không bofore của HQ 611 cũng nhanh chóng nhã đạn. Chiếc A37 bay lên thật cao. Không đầy một phút sau các họng súng của các chiến hạm bỗng dưng ngưng dần và im bặt, chỉ còn HQ 611 tác xạ bám theo chiếc A37. HQ 611 ngưng tác xạ khi Trung Tá Xuân, CHT Tổng hành Dinh của BTL/HQ đứng trong sân BTL/HQ lột ket-pi quơ quơ ra dấu cho tôi lên máy. Lúc bấy giờ HQ 611 nằm tại cầu A, vị trí 1, đối diện BTL/HQ. Tôi trông thấy Trung tá Xuân dễ dàng:

– Mày im họng súng đi Nam…mày muốn ở tù hả.

Trung tá Xuân ( K.10/NT, có giọng cười quái chiêu), Đại úy Phạm Trọng Thu (K.17/NT), CHT Tạm trú hạm, Trung Tá An ( Cảnh sát, Quận trưởng quận 5, Chợ Lớn) và tôi có vài lần đi nhậu chung nên chúng tôi quen biết nhau và ông biết tôi đang ở trên HQ 611.

* 40 năm qua, tôi vẫn không hiểu tại sao BTL/HQ không cho bắn hạ phi cơ của Nguyễn Thành Trung. Cách đây nhiều năm trong dịp Đại tá Đỗ Kiễm gọi phone hỏi tôi ít chuyện, tôi có hỏi ông ai ra lệnh ngưng tác xạ. Ông cũng không biết. Ông nói có lẽ lệnh từ Lực Lượng 99 của hải quân….Cho đến mới đây tôi đọc tài liệu về cuộc mưu sát Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư Lịnh Phó Quân Đoàn III vào ngày 8 tháng 4 năm 1975, ngay thời điểm Nguyễn Thành Trung dội bom Dinh Độc Lập. Biến cố cùng thời điểm này cho tôi suy luận lệnh ngưng bắn hạ phi cơ Nguyễn Thành Trung đến các chiến hạm phải do BTL Hạm Đội nhưng tại sao lệnh lại phát xuất từ BTL/HQ? Phải chăng BTL/HQ hoang mang trước biến cố mưu sát Thiếu tướng Hiếu mà suy diễn A37 dội bom Dinh Độc Lập là biến cố đảo chánh…..Hải quân đứng vào phe nào?……Đó là cơ hội để giặc lái Nguyễn Thành Trung thoát thân.

– Kế hoạch di tản hạm đội: Lập danh sách thân nhân của thủy thủ đoàn lên tàu di tản và thiết lập hậu cứ trên Côn Sơn.

Trong buổi ra mắt DVD vinh danh ‘Chuyến hải hành cuối cùng của HQ/VNCH’ do Dân Sinh Media tổ chức tại San Jose vào cuối năm 2013, HQ Đại tá Nguyễn Xuân Sơn, cựu Tư lịnh Hạm Đội trình bày kế hoạch di tản trong đó ông có nói đến việc lập danh sách thân nhân của thủy thủ đoàn lên tàu di tản và thành lập hậu cứ trên Côn Sơn để tiếp tục chiến đấu. Nhưng dư luận trong hải quân cho rằng ông ‘ngụy biện’ cho cuộc mang hạm đội tháo chạy. Dư luận này hoàn toàn không đúng và là điều ‘oan’ cho Đại tá Sơn.

HQ 611 là một trong những chiến hạm trực tiếp thi hành mật lệnh của BTL Hạm Đội khi Đại tá Sơn còn

Gia đình Phạm Quốc Nam và Cựu HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư Lịnh Hạm Đội VNCH

Gia đình Phạm Quốc Nam và Cựu HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư Lịnh Hạm Đội VNCH

là Tư lịnh Hạm Đội: Lập danh sách thân nhân của thủy thủ đoàn lên tàu là có thật. Tôi còn nhớ rỏ hàng chữ đậm của tựa danh sách: ‘Di tản ra Côn Sơn tránh pháo kích Saigon’.

Ngoài ra nhiều ngày trước đêm 29/4/1975, HQ 611 chở ‘hàng’ từ Saigon ra HQ 802 đang nằm ngoài khơi Vũng Tàu. Số hàng gồm các đồ gia dụng, vật liệu như tủ, giường, bàn ghế, xe gắn máy, TV v.v…mà hơn 40 năm qua tôi không bao giờ tiết lộ qua các bài viết liên quan đến HQ 611 chở hàng gì? Cho đến sau 39 năm Đại Tá Sơn lên tiếng việc này, tôi mới công khai HQ 611 đã chuyển những hàng gì ra HQ 802 ngoài khơi Vũng Tàu để minh chứng cho sự thật như lời Đại tá Sơn đã nói.

Bàn giao Tư Lịnh Hạm Đội:

Trong bài viết của Đại tá Sơn, ông đã quên một sự kiện lịch sử buổi bàn giao Tư Lịnh Hạm Đội giữa ông và HQ Đại tá Phạm Mạnh Khuê trên lầu của BTL/HQ. Có lẽ ông bị cách chức bất ngờ làm ông bị sốc mạnh nên ông đã quên mất sự kiện này. Các bài viết về hải quân của nhà báo HQ Phạm Kim, Điệp Mỹ Linh đều có viết về buổi bàn giao này và chính tôi cùng nhiều hạm trưởng khác của các chiến hạm tại bến Bạch Đằng đều được lệnh tham dự.

PGM-HQ 611 sống lại sau gần 40 năm biệt tích:

Sáng 29/4/1975 sau khi nhận lệnh chiều tối di tản, trên đường trở về tàu tôi gặp LĐ2 Võ Trường Xuân. Hai đứa chúng tôi bàn kế hoạch đưa thủy thủ đoàn HQ 402**(còn một máy, VTXuân đang là sĩ quan trực) và thân nhân lên HQ 611 của tôi để ra đi. Tôi rời tàu vào khoảng 3 chiều để về nhà mang gia đình xuống tàu. Lúc ấy tại cầu A chỉ có PGM-HQ 611 nằm vị trí 1 trong cùng, bên ngoài là PGM-HQ 601 của Trần Minh Chánh.

Tuy nhiên sau này qua tài liệu, sách báo và các bài của những tay viết có tên tuổi trong hải quân đã viết và họ tự biến HQ 611 của tôi thành PCE- HQ11. Thế là HQ 611 đã biến mất như chính nó bị chìm trong đêm di tản không ai hay biết.

Cho đến gần 40 năm sau HQ 611 Trường Sa được sống lại qua bài viết mới đây của HQ Trung tá Trần Hương và lời phê bình HQ Châu Đình Lợi (HQ11) từ Úc Châu.

Sau đây là trích đoạn nguyên văn của  Chương II. Saigon Trong Những Ngày Cuối Cùng từ bài viết : ‘Đời Thủy Thủ & Đêm Giang Hành Lịch Sử’ Của Người Thủy Thủ Gìa (K.9/SQHQ):

“…..Vào lúc đúng 7 giờ (1900H) trời vừa sập tối, tôi thấy những chiến hạm lớn đậu ở cầu B và các cầu tàu trong HQCX đã tháo dây ra giửa dòng. Tôi mời Đô Đốc Tư Lệnh lên đuờng.

Tôi dẫn đầu với một thủy thủ tên Tiếng (nhân viên theo tôi trong những ngày cuối cùng), hướng dẩn Đô Đốc Tư Lệnh và gia đình theo sau, 5 anh em Cận Vệ chia nhau bảo vệ hai bên sườn và đoạn hậu. Tất cã chúng tôi đều trang bị M18 (7 khẩu) cho gọn gàng, riêng tôi còn có thêm một khẩu “rouleau” nhỏ ngắn nòng, bên hông. Đoàn người rời văn phòng Tư Lệnh và đi về hướng cầu A vì nơi đây còn có 2 chiếc PGM, mủi hạ giòng, chưa vào nhiệm sỡ Vận Chuyễn.

Hạm đội di tản. Ảnh tư liệu của nhà báo HQ Phạm Kim (BTL/HQ/Phòng Báo Chí)

Hạm đội di tản chiều tối 29/4/1975. Ảnh tư liệu của nhà báo HQ Phạm Kim (BTL/HQ/Phòng Báo Chí)

Đoàn người lầm lủi đi trong bóng đêm. Công trường Mê Linh súng nổ liên hồi, anh em Quân Cảnh bắn dọa chỉ thiên để chặn sự hỗn loạn và đập phá chướng ngại vật. Ngoài phố dân chúng chạy ngược chạy xuôi mặt mày hơ hãi. Trên sông Saigon, PCF và PBR đảo tới, đảo lui …at full speed, quậy sóng cuồn cuộn.

Khi đoàn “công voa” đến cây cầu nhỏ, nối liền Bến Bạch Đằng và cầu A, thì một số Thủy Thủ bỏ tàu đi ngược về phía chúng tôi. Chúng tôi xuống chiếc PGM đầu tiên, cặp ở vị trí trong cùng, không thấy Sỹ Quan nào hiện diện mà chỉ có một số ít thủy thủ đứng trên boong tàu, trạng thái hổn xược, miệng la to “tàu không đi, tàu không đi”……….

Chúng tôi trèo qua chiếc PGM ngoài cùng thì gặp Đại Úy Trần Minh Chánh (con trai Đề Đốc Trần Văn Chơn) và Đại Tá Nguyễn Văn Ánh, còn những vị khác hiện diện trên tàu, trong giai đoạn khẩn trương nầy, tôi không để ý. Tôi yêu cầu Đại Úy Chánh đưa chúng tôi rời khỏi Saigon. Đại Úy Chánh, Hạm Trưỡng PGM, ngần ngừ một chút rồi trã lời: “tàu vừa đi công tác về và vừa lấy dầu xong, chúng tôi không có ý định rời Việt Nam vì Ba Tôi (ĐĐ Chơn) và gia đình còn ở lại, và kể cả gia đình của thũy thủ đoàn”. Nhưng sau một phút suy nghĩ, Đại Úy Chánh lại nói với tôi: “Tôi đưa Quý Vị ra đến biển rồi chúng tôi sẽ quay trở về”.

Hạm Trưỡng Trần Minh Chánh liền ra lệnh tháo dây, HQ 611** từ từ tách bến, khởi đầu cho Đêm Giang-Hành Lịch-Sữ.

HQ 611 rời Saigon, không đèn hãi hành, âm thầm di chuyển trong đêm. PCF và PBR vẫn ngược xuôi quậy sóng bao quanh các Chiến Hạm như để hộ tống, luyến tiếc tiển đưa những Người Bạn, đã một thời chiến đấu bên nhau, ra khơi lần cuối…..”

** Ghi chú của Phạm Quốc Nam: tác giả đã nhầm lẫn số hiệu tàu của HT. Trần Minh Chánh (HQ 601) và PGM của tôi (HQ611). Tôi đã email yêu cầu tác giả điều chĩnh lại số hiệu tàu giữa HQ601 và HQ611 ngay sau khi đọc được bài viết này.

Và dưới đây là trích đoạn ngắn phần góp ý của HQ Châu Đình Lợi với bài viết của Người Thủy Thủ Già. (Tôi và HQ Châu Đình Lợi hoàn toàn không quen biết nhau):

“….Lúc đó, chỉ có 3 chiến hạm cặp ở cầu B là HQ.1, HQ.3 và HQ.2 là tách bến ra đi mà thôi. Các chiến hạm khác nằm trong vòng đai HQCX  chưa thể rời bến vì nhiều lý do như chưa sẳn sàng, hạm trưởng chưa về tàu, thủy thủ đoàn đón gia đình chưa về kịp… Vì thế tác giả bảo các chiến hạm tháo dây ra đi hết là không chính xác. Thí dụ như HQ.11 của tôi, cặp cầu BTL Hạm Đội bên ngoài 4 chiếc LST khác mà mãi đến 11 giờ đêm 29/04/1975 mới tách bến ra đi sau khi Hạm Trưởng Phạm Đình San đón kịp gia đình trở về tàu, ra đi có HQ Đại Tá Đỗ Kiểm………….

……Đoạn văn in bằng mực đỏ đậm nét trên đây là để nhấn mạnh nói về HQ.611 của cựu HQ Đại Úy Phạm Quốc Nam, Quyền Hạm Trưởng HQ.611. Tác giả đã nhầm lẫn và đã đính chánh về việc TLHQ Chung Tấn Cang và đoàn tùy tùng vợ con xuống HQ.601 của Hạm Trưởng Trần Minh Chánh. Cũng cần nói thêm nhiều năm trước, các bài báo và trang mạng đều đăng HQ.11 nằm tại cầu A trước mặt BTL/HQ cùng với HQ.601 và 3 chiếc LST khác là HQ.592, HQ.503 và HQ.504. Bài báo do Trần Lý, Phạm Kim và Điệp Mỹ Linh viết không chính xác này đã làm HQ.611 của HQ Đại Úy Phạm Quốc Nam cặp cầu A bị biến mất. Thử hỏi ba chiếc LST chiều dài 100 mét cặp bên ngoài một chiếc PGM vỏn vẹn 31 m, vị hạm trưởng tài ba nào cặp được?….”

Nơi đây tôi xin cám ơn nhị vị: HQ Trung Tá Trần Hương tức Người Thủy Thủ Già Khóa 9/SQHQ và HQ Châu Đình Lợi đã cho HQ 611 sống lại sau gần 40 năm biệt tích.

** HQ 402: LĐ2 Võ Trường Xuân và thủy thủ đoàn bỏ lại HQ 402 tại bến vì tàu chỉ còn một máy khó lái. VT Xuân và thủy thủ đoàn HQ 402 lên chiến hạm khác di tản sau khi Xuân chưa thấy tôi trở về HQ 611. Sáng 30/4/1975, LĐ2 Phan Ngọc Hùng lái PCF (HĐ3ZP) trên đường từ Hải Quân Công Xưởng trở ra Vũng Tàu gặp HQ 402, trên 402 có HQ Đại Tá C, nhiều hải quân không phải nhân viên cơ hữu của 402 và hàng ngàn người đang loay quay trên sông Nhà Bè tìm đường ra cửa Vũng Tàu. LĐ2 Phan Ngọc Hùng phải bỏ PCF và lên HQ 402 để giúp hướng dẫn con tàu ‘què’ ra đến Côn Sơn. Sau khi chuyển hết người sang chiến hạm lớn, HQ 402 được đánh chìm.

  1. Anh và tôi trùng phùng tại hải ngoại – Mắt xích thứ 5

Sau tháng 4 đen, Thiếu tá Khanh và tôi đi tù cộng sản. Chúng tôi ra tù vào năm 1983. Tôi thường xuyên từ Saigon vào Phú Lâm thăm anh. Thỉnh thoảng anh chị Khanh và vợ chồng tôi rủ nhau đi ăn cơm tối hoặc tụ tập tại nhà bạn bè đấu láo, lai rai hay chơi bài. Có khi tôi theo anh sang tận Phú Xuân thăm ba mẹ anh.

Ra tù và còn đang quản thúc tại địa phương, tôi nhận ‘đánh’ chuyến vượt biên đầu tiên tại Rạch Giá, nhưng ghe và người đều bị bắt vì nhầm phải tổ chức lừa bịp (ghe không có máy), gia đình tôi may mắn không bị bắt. Liên tiếp nhiều chuyến sau đó cũng đều thất bại tại bãi (nơi chuyển người vượt biên lên ghe). Nói đến vượt biên đường biển hay đường bộ phải biết bọn tổ chức có trăm cách lừa đảo khách hàng.

Thất bại chuyến này đến chuyến khác. Cho đến tháng 6 năm 1983, anh Khanh gọi tôi vào Phú Lâm để giới thiệu tôi với một tổ chức vượt biên mà anh quen biết và cũng là tổ chức mà anh đã giới thiệu nhiều thuyền trưởng hải đội ra đi thành công. Vào thời điểm này, các thuyền trưởng hải đội rất có ‘giá’ và được các tổ chức hay chủ ghe săn đón.

Chuyến ghe tôi nhận làm tài công có gia đình của chủ ghe cùng đi nên ghe cộ, máy móc được trang bị thật tốt và phương tiện hải hành đầy đủ theo yêu cầu của tôi.  Chuyến đi của tôi thành công với gần 100 thuyền nhân đến nơi bình yên với thời gian ngắn kỷ lục, mặc dù trong sông bị tàu VC đuổi bắt và ra khơi cũng bị tàu hải quân VC đuổi theo. Nhưng cuối cùng tôi cũng đưa chiếc ghe thoát khỏi hải phận Việt Nam.

Anh chị Khanh cũng vượt biên sau đó và chúng tôi lại gặp nhau tại Hoa Kỳ. Anh ở Anaheim, California và tôi ở Portland, Oregon. Tôi còn bận việc làm, cho nên anh thường từ California lên Portland. Tôi và cựu huấn luyên viên người nhái Nguyễn Cao Thắng đưa anh đi đó đây và ‘hưởng thụ’ đủ thứ như thời nào chúng tôi còn ở đơn vị hay ở Saigon mỗi khi về phép. Phải nói HQ Thiếu Tá Nguyễn Duy Khanh là một SQHQ vừa giỏi và vừa lắm phong lưu có tiếng trong hải quân.

HQ. Thiếu tá Lương Diễm Tường (Biệt Đội CTCT/HQ), HLV/Người Nhái Nguyễn Cao Thắng,

HQ. Thiếu tá Lương Diễm Tường (Biệt Đội CTCT/HQ), HLV/Người Nhái Nguyễn Cao Thắng, Nguyễn Duy Khanh và Phạm Quốc Nam

Một dấu ấn tình thâm đặc biệt mà anh Khanh dành cho tôi khi anh mang trọng bệnh, bác sĩ không cho anh đi xa. Nhưng anh đã bất chấp lời khuyên của bác sĩ, anh cùng chị Khanh từ Cali lên Portland để dự đám cưới đứa con trai tôi. Sau tiệc cưới, anh chị trở về Cali và ba tháng sau anh qua đời. Tội nghiệp chị Khanh sau đó đã gởi những Đặc san của Khóa 12 SQHQ trong tủ sách của anh đến tôi.

Anh Khanh ra đi đúng ngay ngày 30 tháng 4 năm 2001. Hôm nay ngày Tưởng Niệm Quốc Hận lần thứ 40, tôi khởi viết bài này để tưởng niệm đến anh, một đàn anh hải quân đáng kính, một đại ân nhân của gia đình chúng tôi.

Giữa Thiếu Tá Nguyễn Duy Khanh và tôi còn lắm kỷ niệm để viết lại. Nhưng vì thời gian và giới hạn số trang giấy không cho phép, nên tôi tạm dừng nơi đây với dòng kết luận:

Tôi tin vào định mệnh. Số mạng do thượng đế định đoạt và được xấp xếp tuần tự, có lý lẽ như những mắt xích tạo thành vòng tròn của định mệnh. Tuần tự của bài viết theo từng thời gian và từng sự kiện như là những mắt xích. Đặc biệt khởi từ mắt xích đầu tiên đến mắt xích cuối cùng tạo thành định mệnh đời tôi đều có liên hệ đến Cố HQ Thiếu Tá Nguyễn Duy Khanh.

Portland, Oregon ngày 30/4/2015

Phạm Quốc Nam.

NN. Trần Xuân Tin, Phạm Quốc Nam, Nguyễn Duy Quốc (K.12/NT, bào đệ của Nguyễn Duy Khanh), Phạm Trọng Thu (K.17/NT) và Lê Văn Qúa (K.19/NT) - Năm 2013

NN. Trần Xuân Tin, Phạm Quốc Nam, Nguyễn Duy Quốc (K.12/NT, bào đệ của Nguyễn Duy Khanh), Phạm Trọng Thu (K.17/NT) và Lê Văn Qúa (K.19/NT) – Năm 2013

http://vnoregon.com/chienhuu/?p=1000

</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>

” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

Thời gian 2 năm tung hoành trong vịnh Thái Lan trên chiếc PCF 3800 (PCF: Patrol Craft Fast) với chức vụ Thuyền Trưởng, từ Hòn Chuối mũi Cà Mau, và dọc theo các rạch miệt thứ của Rạch Giá đến Hà Tiên qua Bắc đảo gần Hải cảng Sihanookville của Cam Bốt, cũng như được du ngoạn trên các hòn đảo đầy thơ mộng trong vịnh Thái Lan. Sau mỗi 2 ngày công tác, chúng tôi được về căn cứ nghỉ 1 ngày và anh em Sĩ Quan cùng khóa thường quay quần bên nhau, ngồi sát phạt bên canh xì phé. Trong nhóm này, không có bạn nào có thể qua mặt được Hổ cáp 2 Hoàng Kim Công, mặc dù có 2 Hổ cáp 2 Nguyễn văn Yên tự Yên bột, và Ðoàn Hữu Lượng cũng là những tay cự phách về binh xập xám và xì phé thế mà cũng phải luôn nộp tiền cho Công. Bề ngoài không ai có thể nghĩ rằng Công là tay đánh phé với các cú tháu cáy không ai ngờ. Một nhóm khác kéo nhau tản bộ ra các quán dưới “phố” uống cà phê, nghe nhạc hay làm vài chai để quên đời vì An Thới rất là bé nhỏ, đúng là nơi “đi dăm phút đã về nơi chốn cũ”. Trong thời gian đi PCF, tôi cũng có những kỷ niệm với Hổ cáp 2 Nguyễn Ngọc Châu tự Châu fit và Trần Xuân; đặc biệt với Châu khi đi công tác, luôn luôn trên cột cờ của chiếc ghe Yabuta có lá cờ sọ người với 2 khúc xương bắt chéo dưới lá cờ quốc gia được thả trôi hay neo trong vùng Rạch Giá xen lẫn với các ghe cào cá của ngư dân. Bây giờ nghĩ lại mới thấy đây là thời gian thần tiên của đời Hải nghiệp của tôi, mặc dù ngắn ngủi.
Ðơn vị thứ 2 của tôi là DÐ42 (Duyên Ðoàn 42) thuộc Vùng 4 Duyên Hải cũng tại An Thới, Phú Quốc. Nhận được lệnh thuyên chuyển mà lòng không vui, tôi tự hỏi chẳng lẽ lại bị đày ở đảo hoài hay sao. Ðang đi tàu sắt xuống đi ghe, cuộc đời con người thường đi lên ai lại đi xuống như thế này. Trong khi một số Sĩ Quan khác cũng đã lần lượt được thuyên chuyển đi các đơn vị khác ngoài các đơn vị tại Phú Quốc, riêng chỉ có mình tôi. Vác ba lô lên vai đi bộ chừng 1 cây số để trình diện đơn vị mới mà lòng đầy hậm hực và bất mãn, nhưng vẫn phải thi hành. Sau vài tuần phục vụ, tôi được chỉ định làm Chỉ Huy Phó đơn vị. Với chức vụ này, tôi được cấp một phòng riêng trong cư xá Sĩ Quan, vì thế mà tôi đã đem vợ con ra Phú Quốc sống với tôi cho đến ngày di tản 30 tháng 4 năm 1975. Trong thời gian 3 năm phục vụ dưới 3 đời Chỉ Huy Trưởng, gia đình tôi và sinh hoạt của đơn vị vẫn bình thường, ngày tháng êm ả trôi, đầy thanh bình.
Một kỷ niệm vui và lo âu trong trách nhiệm của tôi và HQ Trung Úy Trần Xuân khi chúng tôi cùng nhau dẫn 2 chiếc ghe ferro-cement (hay fibro cement) từ Hải Quân Công Xưởng Saigon về đơn vị của Trần Xuân thuộc Duyên Ðoàn 43 tại Hòn Tre, Rạch Giá. Chúng tôi đã hỗ trợ nhau trên đường qua các kinh rạch để tới sông Tiền Giang và Hậu Giang, đổ tới Long Xuyên vào kinh Cái Sắn, chờ nước vừa đủ để chui qua cầu Rạch Sỏi và ra cửa biển để về đơn vị. Chúng tôi đã gặp một tai nạn bất ngờ ngoài sự dự liệu, có lẽ còn thiếu kinh nghiệm địa thế trên sông, khi 2 ghe neo gần nhau bên kia bờ của chợ Mỹ Tho để nghỉ ngơi sau thời gian đầy căng thẳng từ khi rời Saigon, cũng như để nhân viên thuộc quyền đi chợ mua thực phẩm cần thiết cho chuyến đi còn dài.

Duyen dinh Yabuta va Ferociment..jpg

Nhưng sau khi neo chừng vài tiếng thì 2 chiếc ghe cement của chúng tôi hoàn toàn nằm trên bùn, thật nan giải và nguy hiểm, làm sao đây? Chúng tôi bàn đủ cách nhưng không có cách nào giải quyết vì ghe cement quá nặng nề và dễ bể, nhờ ghe dân kéo ra chưa chắc đã được mà còn bị bể, bứt cả cột trụ cột dây nữa, lại thêm đổ nợ! Chúng tôi chỉ biết chửi thầm, đành áp dụng biện pháp im lặng vô tuyến và chờ nước lên. Với ít thời gian chờ đợi, cuối cùng 2 chiếc ghe cũng được vận chuyển ra khỏi chỗ cạn và chúng tôi báo cáo láo về Trung Tâm Hành Quân vì trở ngại kỹ thuật của một trong 2 ghe. Chúng tôi đã hoàn thành công tác là đã đem 2 chiếc ghe cement về 2 đơn vị an toàn. Ðơn vị tôi nằm trên một đồi cát, gọi là bãi Xép, đến giờ này tôi vẫn chưa biết sự xuất xứ và ý nghĩa của tên bãi Xép, cũng tại nơi đây đã cho tôi bao kỷ niệm đắng cay của các cấp chỉ huy cao cấp của chúng tôi và nhiều vô đạo lý mà một Sĩ quan cấp thấp như tôi đành phải im lặng và chịu đựng. Nhờ vào sự hăng say chịu khó và chịu đựng làm việc trong cương vị Chỉ Huy Phó, gần cuối năm 1974 tôi đã được vinh thăng Ðại Úy nhiệm chức.
Sau khi nghe Tổng Thống Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng trên radio và kêu gọi quân nhân các cấp buông súng để chờ bàn giao cho Việt Cộng, tôi chạy xuống BTL/V4/DH tham dự buổi họp với Tư Lệnh và nghe chỉ thị. Sau đó, đơn vị tôi được tập họp, CHT ra chỉ thị các ghe sẽ tập trung về phía sau của bãi Xép để đón nhân viên đơn vị đi ra biển tránh sự pháo kích của địch, ai muốn đi thì đi. Khi được tin BTL đã di tản xuống các chiến hạm, Chỉ Huy Trưởng và các Sĩ Quan độc thân đơn vị đã leo lên chiếc xe jeep để xuống cầu tàu BTL/V4/DH. Chờ đợi Trung Úy Mạo, Khóa 22, đem xe về chở gia đình tôi, nhưng đợi hoài không thấy tăm hơi, lòng tôi như lửa đốt, đứng ngồi không yên, gia đình tôi đã bị CHT bỏ lại. Thình lình một chiếc xe jeep với Ðại Úy Thành và Ẩn, hình như khóa 17, chạy lên Duyên Ðoàn trong cơn hốt hoảng và hỏi tôi là có phương tiện ghe nào để về Rạch Giá không? Tôi cho họ biết là các ghe của đơn vị bây giờ cũng không liên lạc được với họ nữa; thế rồi quay xe trở lại và tôi đã lợi dụng cơ hội này nhờ họ chở gia đình tôi với 3 đứa con nhỏ và một bà bầu 6 tháng xuống cầu tàu Bộ Tư Lệnh. Ðơn vị tôi thực sự đã tan hàng từ giờ phút này. Xuống đến cầu tàu, không thấy xe của đơn vị đâu và mọi người cũng đã xuống các chiến hạm đi hết rồi, chỉ còn sót lại một số chậm chân và những người lưỡng lự không muốn đi với khuôn mặt ngơ ngác như không hồn, sau đó tôi mới nhìn thấy xe đang nằm bên cây cầu gỗ tại tư thất của Tư Lệnh, các chiến hạm đã ra khơi khỏi mũi Ông Ðội. Cá nhân tôi và gia đình cùng một số Sĩ quan khác đã thực sự bị cấp trên bỏ lại. Khốn khổ nhất là mấy chục ngàn đồng bào vừa mới di tản từ miền Trung vào được mấy tuần, đang được tạm trú trong các ngôi nhà tiền chế, bị bỏ hoang sau khi đã trao trả tù Việt cộng qua Hiệp định Paris 1973. Họ đã bị bỏ lại. Đang lóng ngóng chạy lên chạy xuống, từ phòng Trung Tâm Hành Quân xuống đến cầu tàu để hy vọng liên lạc được với các chiến hạm hay với ghe của đơn vị nhưng đều thất vọng, tôi đã phải cầu nguyện xin Chúa giúp tôi phải làm sao, rất may lúc đó một chiếc Quân Vận Hạm LCM (LCM:Landing Craft Medium hay Mechanized) đang tìm cách cập cầu vì mới đi công tác ở Rạch Giá về, chưa biết tình hình trên bờ ra sao. Tôi quát lớn tiếng để anh Thuyền trưởng cập cầu lẹ để chở chúng tôi và một số gia đình khác hầu bắt kịp với mấy chiến hạm, nhưng anh ta cứ lừng chừng vì phải chờ lệnh CHT, CHP. Tôi cho anh ta biết là không còn ai ở đây ngoài tôi là thâm niên hiện diện, anh cũng nhận ra tôi là CHP 42, cuối cùng anh ta bằng lòng cập cầu, mọi người ồ ạt xuống LCM. Tôi yêu cầu anh ta hãy chở mọi người đi theo đoàn chiến hạm để họ vớt chúng tôi, nhưng anh bảo là tàu không đủ dầu vì mới đi công tác về, điều đó có phần nào đúng; một phần anh ta muốn về nhà xem tình hình vợ con anh ra sao, tôi đoán như vậy. Tôi nói với mấy người Hạ Sĩ Quan quen biết với anh Thuyền trưởng là khuyên anh hãy giúp mọi người, nhưng anh ta vẫn không muốn chạy, tìm mọi cách để phân trần với tôi. Tôi liền rỉ tai với 3 Sĩ Quan có gia đình thuộc quyền tôi là hãy tìm cách ra giữ các khẩu 50 ly được trang bị trên tàu và chờ lệnh tôi. Rồi tôi vào cabin phòng lái và mở tủ vũ khí lấy một khẩu M16 với 1 băng đạn được ráp sẵn để trên bệ bên cạnh tay lái cùng với khẩu súng colt 45 cá nhân của tôi vẫn đang đeo bên hông, tôi ra lệnh cho anh Thuyền trưởng hãy đo dầu và báo cáo cho tôi biết. Khi thấy tôi lấy súng trong tủ ra và ra lệnh, với gương mặt nghiêm nghị (trong đầu tôi lúc đó đã có dự tính gạt anh thuyền trưởng bướng bỉnh này ra khi cần thiết để tự mình lái lấy con tàu), anh ta biết điều thi hành đo dầu và báo cáo cho tôi biết là còn hơn 2000 gallons dầu nữa. Tôi văng tục và nói cho anh ta biết rằng đừng có qua mặt tôi, vì kinh nghiệm Thuyền trưởng PCF đã cho tôi biết rằng với số lượng dầu ấy sẽ còn chạy được rất xa. Mặc dù vậy, chiếc LCM vẫn không thể nào bắt kịp được các chiến hạm Hải Quân. Ở đằng xa, khác với hướng các chiến hạm, tôi đã nhìn thấy một số ghe dân sự và một PCF đang cập vào một tàu dân sự Mỹ và nó đang bốc người, tôi đã cho đổi hướng về chiếc tàu Mỹ (có tên là Challenger) này mà cách đó 2 ngày nó đã neo ở ngoài khơi phía trước BTL và cũng chiếc tàu này vài tuần trước đã chở hàng ngàn người tỵ nạn từ miền Trung vào. Ngay sau khi cập vào chiếc Challenger, tôi thấy một số lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã được bố trí trên đó rồi, khi tàu thả cần trục với cái rọ lưới xuống chiếc LCM của tôi, tôi để vợ cùng với đứa con 13 tháng bế trên tay với cái bụng bầu nặng chĩu vào trong cái rọ lưới bốc rỡ hàng để cho họ bốc lên tàu. Chiếc rọ lưới được kéo lên, lắc qua lắc lại trông thật nguy hiểm, làm cho vợ tôi lọt một chiếc dép xuống biển; từ đó bà ấy đã phải đi chân đất trong suốt cuộc hành trình đến đảo Guam. Càng lúc đồng bào càng ùn ùn kéo nhau ra cập tàu, số người càng đông thêm nên nhân viên trên tàu đã dùng cái thang kê trên chiếc LCM của tôi làm tựa để đón người, và kêu gọi ưu tiên cho phụ nữ và con nít lên trước, mãi cho đến gần 7 giờ chiều 3 cha con chúng tôi mới lên được tàu cũng là nhờ Hổ cáp 2, HQ Trung Úy Lư Ðức Hiệp (cùng đơn vị với tôi) bế một thằng con và tôi ôm một thằng nữa, cố lấn tới cầu thang và 3 cha con chúng tôi đã lên đuợc tàu không bị đuổi xuống vì tôi có con nhỏ; suốt nửa ngày các con tôi không có một giọt nước, đứa nào đứa nấy trông ngơ ngác mệt đừ. Nửa giờ sau, mấy anh lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ cho chặt dây cột chiếc LCM và kéo neo chạy vì thấy có một số ghe của các lính Ðịa Phương Quân và Cảnh sát đang chạy từ phía Dương Ðông xuống An Thới để kiếm phương tiện Hải Quân mà họ nghĩ rằng là Việt Cộng. Cũng vì kéo neo đi gấp rút như thế nên có một số gia đình bị chia ly bởi sự mù quáng và nhát gan của mấy anh lính Mỹ và bạn Hiệp cũng cùng chung một số phận với các đồng bào và các Sĩ Quan khác đã bị bỏ lại. Dù sao, tôi cũng xin cám ơn anh Thuyền trưởng chiếc LCM đó, đã chịu đựng và tuân lệnh tôi để đưa mọi người ra đến tàu Mỹ; anh đã không có dịp được lập thành tích là giữ tàu để nộp cho chính quyền mới, và cám ơn bạn Hiệp đã đi bên cạnh tôi đến phút chót; nhờ có quý vị mà gia đình tôi mới được đoàn tụ và hưởng sự Tự Do cho đến ngày hôm nay. Tôi biết trong thâm tâm Hiệp rất khó khăn trong quyết định đi hay ở, đặc biệt trong thời gian hỗn loạn ấy. Sau này Hiệp và gia đình cũng đã được định cư tai Tiểu bang Georgia sau vài năm bị cải tạo. Cũng may, phải chăng đó là một sự an bài, nếu gia đình chúng tôi được chiến hạm Hải quân vớt và biết đâu rằng lại ở trên chiến hạm HQ 602 như CHT của đơn vị tôi, để rồi cũng sẽ bị tù tội và gia đình tôi sẽ ra sao ngay sau khi HQ 602 trở về Việt Nam trên đường di tản như những người khác. Tuy gia đình chúng tôi đã vượt thoát, nhưng cha mẹ, các em tôi của cả hai bên vợ chồng tôi đã bị bỏ lại tại Sài Gòn.
Sau 4 năm vật lộn với cuộc sống, với hai bàn tay trắng, không có lấy một nghề nào trong tay ngoài cái nghề hải nghiệp mà giờ đây không còn xử dụng được tại nơi gia đình tôi sinh sống. Tôi đã làm đủ nghề miễn là làm sao để sinh tồn cho vợ con tại một thành phố nhỏ Lebanon và sau đó là Nashville, thuộc tiễu bang Tennessee, tôi đã cố gắng dành dụm được một số tiền để chuẩn bị cho một chuyến viễn Tây trong đời, tránh cái giá lạnh của vùng đất heo hút này; dù rằng chưa quen chạy nhiều trên các xa lộ Mỹ, bởi vì trong suốt 4 năm tôi chỉ biết đi làm ban ngày và ban đêm đến trường Ðại Học Cộng Ðồng để học thêm Anh ngữ và điện tử, đâu có nhiều thì giờ để chở vợ con đi đây đi đó như các gia đình khác. Một vài gia đình quen biết ở gần tôi cũng đã bỏ Nashville để về Texas hay California nơi vùng nắng ấm, và vì thế càng tạo cho tôi một quyết tâm đi tì.

Với kỹ nghệ điện tử phát triển mạnh tại Silicon Valley, còn được mệnh danh là Thung Lủng Hoa Vàng, người Việt trên khắp các Tiểu bang Hoa Kỳ đã di chuyển ồ ạt về miền đất hứa như gia đình tôi đã thực hiện, cuộc sống người dân Việt tỵ nạn tại đây đã được thăng hoa. Trước khi di chuyển qua California, gia đình người bảo trợ Mỹ đã nói với tôi là :”You are crazy!” khi chúng tôi đến chào từ giã họ để về California. Làm sao không crazy được trong khi gia đình tôi với 5 đứa con còn quá nhỏ, đứa lớn nhất đang học lớp 2. Người Bảo trợ có sự suy nghĩ của Ông ta, nhưng với sự suy nghĩ và tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, nhất là sự tự tin của một Sĩ Quan Hải Quân cũng như với sự giúp đỡ của bạn bè xa gần, gia đình tôi sẽ vượt thoát được các sự trở ngại của cuộc sống tạm dung. Một chuyến viễn Tây đầy hứa hẹn của chúng tôi không thể nào so sánh được với chuyến ra đi không biết mình sẽ đi về đâu, và không biết ngày mai ra sao của ngày buồn thảm 30 tháng 4 năm 1975, trong một chuyến hải hành dài mà chúng tôi không được xử dụng la bàn hay làm point trên một hải đồ, hoàn toàn để cho người khác quyết định số phận của mình.
Ai bảo hải đảo ngục tù?
An ninh bảo đảm, lu bù tiền vô
Không có đĩ điếm ma cô
Ăn no tắm biển long nhong tối ngày

Cuộc sống an nhàn thảnh thơi,
Dập dìu sóng vỗ, từ từ trôi xa
Mặn nồng nước biển, biển Ðông
Mặn nồng hạnh phúc vợ chồng thêm con.
Sống trên đảo Phú Quốc, xa rời nơi chốn phồn hoa và cám dỗ của đô thị, xa rời những tiếng bom đạn ầm ầm của B52 vang vọng hay của đạn pháo kích hằng ngày đêm, đi lính Hải Quân không hiểm nguy khi chiến đấu, với cảm tình nồng hậu giúp đỡ của các Bạn cùng khóa, và rất nhiều người, giờ đây nghĩ lại mới thấy đời mình có phước mà không biết.

Tháng 5 năm 2005 vừa qua, tôi đã có dịp trở về thăm lại Tennessee, thăm lại những nơi, những con đường phố xá mà gia đình chúng tôi đã ở và đã đi qua với tâm trạng bồi hồi xúc động. Ðặc biệt là thăm lại gia đình người bảo trợ đã giúp đỡ gia đình chúng tôi trong suốt thời gian ở đây. Họ đã vui mừng ôm tôi để chào mừng tôi trở về thăm họ. Một lần nữa tôi đã cám ơn họ, mặc dù phong tục tập quán Ðông-Tây khó hòa hợp, nhưng nó vẫn có một cái gì mà chúng tôi không thể phủ nhận, đó là tình người, tình nhân loại cao quý của người Mỹ.
Tạ ơn Trời, tạ ơn Ðất, tạ ơn Người, tạ ơn nước Mỹ đã cho chúng tôi và nhiều người Việt Nam được hưởng sự Tự Do và Hạnh Phúc.

California August 15, 2005

Nguyễn Văn Vang

http://www.denhihocap.com/thovan20/nvvang.html

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s