Chút tình sông nước: Những ngày trước 30 tháng tư

https://i2.wp.com/www.nuiansongtra.com/photos/photos/8/6678.jpgHUY HIEU GIANG DOAN 22 XUNG PHONG .Phu hieu GD27XP. TVQ Collection
Hình ảnh người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã được gắn kết với Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, được thành lập vào năm 1955. Kể từ đó, miền Nam tự do đã được thế giới biết đến, là một Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa; và Thủ Đô Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông.

Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên, là người Chiến Sĩ Bảo An, mà người dân thôn quê thường gọi là Chiến Sĩ Cộng Hòa, hoặc Lính Cộng Hòa, sau này, Lực lượng Bảo An Đoàn đã trở thành Địa Phương Quân.

Ngày ấy, người Chiến Sĩ Bảo An, ngoài nghĩa vụ cầm súng để bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ Bảo An đã từng đi đến những thôn làng xa xôi, để giúp đỡ các địa phương xây dựng hành chánh, để giải thích cho dân chúng biết đến một Chính Thể mới, vừa được khai sinh tại miền Nam: Chính Thể Cộng Hòa.
https://i0.wp.com/vnafmamn.com/VIETNAM%20WAR/ARVN_portrait45.jpg
Đồng thời, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên ấy, còn súng trên vai, tay đốn tre rừng, để bắc những chiếc cầu tre, trên những con suối ở tận hương thôn, để nối đôi bờ, nối những cánh đồng lúa, những nương dâu, để những ngày mưa lũ, người dân quê đi làm công việc nông tang, không còn phải lội giữa giòng nước xoáy hiểm nguy; và để cho những nam nữ Thanh Niên Cộng Hòa giữa đôi bờ dễ dàng gặp gỡ, để cùng trao đổi với nhau về Thể Chế Cộng Hòa vừa mới được khai sáng tại miền Nam. Đặc biệt, là những hình ảnh ở hương thôn, giữa cảnh thanh bình – tự do – no ấm bên lũy tre làng, với những đêm về, dưới ánh trăng lành tỏa sáng trên khắp nẻo đường quê, luôn luôn rộn rã những tiếng cười, tiếng sáo trúc và tiếng đàn Mandoline, hòa cùng tiếng hát ngân vang, đón chào đất nước đã được hồi sinh sau bao cơn binh lửa, với bài ca:

Dựng Một Mùa Hoa:

Chào bình minh hoa ban mai lả lơi
Nhạc dịu êm vang dư âm ngàn nơi
Bên khóm tre tươi, chim hót hoa cười trong nắng yêu đời
Bầy trẻ thơ yêu quê hương đầy vơi
Đồng ruộng tươi vươn lên bao nguồn mới
Sóng lúa chơi vơi, xanh ngát chân trời, dịu màu đẹp tươi
Đây phương Nam, bao la dịu dàng, say sưa câu hoan ca nhịp nhàng
Duyên xưa còn thắm, chung xây cuộc sống, chan chứa mênh mông
Tình miền Nam, như hoa Lan đầy hương
Tìm tự do, gió chim tung bay ngàn hướng
Đây đó vui ca, trong nắng chan hòa
Dựng Một Mùa Hoa.

Đầu năm 1956, khi sắp sửa đến ngày bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, vào ngày 4-3-1956; sau đó, Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa, do Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết ngày 20-10-1956, đã được ban hành ngày 26-10-1956, với đầy đủ Tam quyền Phân lập: Lập Pháp – Hành Pháp và Tư Pháp, thì người Chiến Sĩ Bảo An lại đến với người dân quê, bằng những câu ca dao, để cho người dân ý thức được cuộc bầu cử sắp tới như sau:

“Dù ai buôn bán nơi đâu
Tháng ba, mồng bốn, rủ nhau đi bầu.
Dù ai mua bán trăm bề
Tháng ba, mồng bốn, nhớ về tham gia.
Bầu cử Quốc Hội nước nhà
Cộng Đồng – Nhân Vị – Quốc Gia hùng cường”.

Song nói đến người Chiến Sĩ Bảo An, mà không nhắc đến người Chiến Sĩ Dân Vệ, là một điều vô cùng thiếu sót. Bởi, Lực lượng Dân Vệ, là một Lực lượng vũ trang, trực tiếp đối đầu với “Lực lượng Du Kích” của Việt cộng, mà khởi đầu là “Du Kích Ba Tơ”, và là tiền thân của “Lực lượng vũ trang Liên khu 5” do tướng Việt cộng Nguyễn Chánh cầm đầu. Sau này, “lực lượng du kích” trực tiếp cầm súng đối đầu với dân quân của miền Nam, tại những vùng rừng núi xa xôi.

– Người Chiến Sĩ Dân Vệ, mà sau này đã trở thành Lực Lượng Nghĩa Quân. Ngày ấy, hàng đêm người Chiến Sĩ Dân Vệ luôn luôn tay ghì khẩu súng Mas-36, vai mang những quả lựu đạn chày, đi tuần – canh ở những trạm gác, nơi có những chiếc cổng của bờ rào Ấp Chiến Lược, để bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, vì bọn Du Kích thường tìm cách lẻn xuống các làng thôn để cướp gạo, muối, thực phẩm của đồng bào, đem lên rừng để sống. Đó là những Chiến Sĩ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đã góp máu xương trong công cuộc bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào ruột thịt, và họ đã chết trong âm thầm, không bia đá. Thế rồi, kể từ sau ngày Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, thì các Chiến Sĩ Bảo An và Chiến Sĩ Dân Vệ, đã bị người ta cố tình đưa vào quên lãng!!!
https://i0.wp.com/vnafmamn.com/VIETNAM%20WAR/ARVN_portrait7.jpg
Thế nhân thường nói: Mất rồi mới biết quý, mới biết tiếc. Giờ đây, sau khi nước đã mất, nhà đã tan; qua những cảnh đời tang thương, dâu bể, khi ngược dòng thời gian trở về với một thưở thanh bình, mà không bao giờ còn tìm thấy lại, dù chỉ một lần nào nữa, thì chắc đa số những người con dân nước Việt sẽ thấy quý, thấy tiếc Vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã bị giết chết vào ngày 1-11-1963, chỉ vì Người đã kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đất nước. Chính ngày này, nước Việt Nam Cộng Hòa đã đứng trên bờ của vực thẳm, để rồi cho đến ngày 30-4-1975, thì cả nền móng của nước Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn sụp đổ, rơi ngay xuống tận đáy vực sâu, mà do ngoại nhân với sự tiếp tay của những kẻ vong-nô,vô cùng tàn độc, dã man đã đào sẵn, để vùi chôn một công trình vĩ đại, mà đã được đắp xây bằng cả máu xương của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa!!!

Những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã “biến mất” sau ngày 1-11-1963:

Đó là những Chiến Sĩ đã hy sinh tất cả, khi chấp nhận rời xa mái ấm gia đình tại miền Nam tự do, để đi vào vùng đất địch, không hẹn ước một ngày trở về nơi chốn cũ!!!

Vậy, không có gì bằng, là hãy đọc, để như nghe lại những lời nói của năm nào, vào đêm mồng 6 tháng 8 năm 1960, tại một nơi bí mật; song có mặt của Cố Đại Tá Lê Quang Tung đứng lên hô to khẩu hiệu:

“Trung thành với Tổ Quốc – Xả thân vì lý tưởng Quốc Gia”.

Sau đó, các Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hô theo.

Khi những tiếng hô chấm dứt, thì Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã đọc những lời tiễn đưa các Chiến Sĩ đi vào vùng đất địch như sau:

“Các bạn ra đi hôm nay, là đã vượt ra khỏi tầm bảo vệ của chính phủ. Ra đi, có thể các bạn không hẹn ngày về. Những người con ưu tú của Dân Tộc, đêm nay giã từ Thủ Đô, để lao vào vùng địch, chiến đấu cho tự do và độc lập của Tổ Quốc, cho hòa bình. Vì hẳn các bạn cũng biết, Việt Nam là tiền đồn của thế giới tự do. Các bạn là những Chiến Sĩ Tiên Phong, đi chiến đấu ngay trong lòng địch; để ngăn chặn làn sóng cộng sản xâm nhập vào Nam, tiến đánh hậu phương chúng ta. Đây là một sứ mạng hết sức to lớn, và rất đáng cảm phục.

Thay mặt Tổng Thống, thay mặt chính phủ, tôi trân trọng gởi đến các bạn lời khen ngợi ý chí vô cùng cam đảm của các bạn, lòng yêu nước vô bờ bến của các bạn, khi đơn thương, độc mã dấn thân vào đất địch, để chịu trăm ngàn nguy hiểm, mà không được một sự yểm trợ nào cả. Xin cầu chúc các bạn vượt qua mọi gian lao, nguy hiểm và thành công trong sứ mạng”.

Và cũng tương tự như thế, là những Chiến Sĩ đã được cài lại ở miền Bắc trước ngày 20-7-1954, hoặc có những Chiến Sĩ đã tình nguyện quay trở về miền Bắc ngay sau khi mới di cư vào miền Nam. Những Chiến Sĩ này đã do Ông Phan Quang Đông và Ông Ngô Đình Cẩn sắp xếp, và bí mật lo cho đời sống của họ, khi họ phải sống trong lòng đất địch tại miền Bắc.

Nhưng đau đớn thay, bởi sau khi Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, Ông Phan Quang Đông và Ông Ngô Đình Cẩn bị giết chết. Vì thế, tất cả những Chiến Sĩ này đã bị chặt tay, chặt chân, cắt đứt con đường về; họ phải tự tìm cách để sống trong mỏi mòn, chờ đợi. Cho đến ngày 30-4-1975, khi miền Nam tự do đã rơi vào tay của cộng sản Bắc Việt; thì các Chiến Sĩ này đã hoàn toàn tuyệt vọng; nên có người đã chết trong tức tưởi, trong đau đớn khôn nguôi. Và cho đến tận hôm nay, những người thân của họ, cũng không hề biết nắm xương của những người Chiến Sĩ ấy, đã bị vùi lấp ở một nơi nào trên đất Bắc???!!!

Ôi! Còn gì đau xót và phũ phàng hơn; nếu một mai, Quê Hương ta có tái lập được một nước Việt Nam với thể chế pháp trị hẳn hoi, thì thử hỏi, có còn ai nhắc – nhớ đến những người Chiến Sĩ đã từng dấn thân vào lòng đất địch, sống cùng với những gian nan, nguy hiểm; và chết trong âm thầm, lặng lẽ, lãng quên!!!

Hình ảnh tiếp nối của Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa:

Sau ngày Vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã Vị Quốc Vong Thân; để tiếp tục bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ vẫn tiếp tục lao mình vào nơi chiến trường lửa khói mịt mù, cận kề với cái chết. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đi vào những trang sử hào hùng của Dân Tộc, với những trận đánh làm khiếp vía quân thù như: Bình Long, An Lộc v…v…

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang, oai hùng, ngạo nghễ đứng trên Cổ thành Quảng Trị, để cắm lá Cờ Vàng ba Sọc Đỏ thân yêu như bài hát: Cờ bay trên Cổ thành Quảng Trị:

“Cờ bay, cờ bay, oai hùng trên thành phố thân yêu
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu
Cờ bay, cờ bay tung Trời, ta về với Quê Hương
Từng ngóng đợi quân ta tiến về ……”

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã vượt phi đạo, tung cánh “chim bằng”, đi vào cõi chết, để bảo vệ vùng Trời miền Nam tự do.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã rời xa đất liền, xa mái ấm gia đình, sống lênh đênh trên mặt trùng dương ngút ngàn khói sóng. Máu xương của người Chiến Sĩ đã hòa quyện và vùi chôn nơi đáy nước trong trận Hải chiến 1974, để bảo vệ Hoàng Sa, hải đảo, bảo vệ hải phận Việt Nam.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa tay súng, vai khoác ba lô, tung cánh dù, nhảy xuống vùng đất địch, bất chấp mọi hiểm nguy.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh dũng đánh đuổi quân thù, tái chiếm Cố đô Huế, Tết Mậu Thân, 1968. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đi tìm đào từng hố, hầm tập thể, để tìm lại xương xác của đồng bào ruột thịt thân yêu.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã “quên mình cứu người” băng bó vết thương cho đổng đội.

– Người nữ Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã không ngại gian nan, vì “Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”, để góp bàn tay vào công cuộc bảo vệ miền Nam Tự Do.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã đem sinh mạng của mình để bảo vệ đồng bào ruột thịt, trên khắp Bốn vùng Chiến thuật, ở những vùng nông thôn, nơi biên phòng, giới tuyến, từ Ấp Bắc, An Lộc, Gio Linh, Khe Sanh, Pleime, A Sao, A Lưới, Trà Bồng, Minh Long, Ba Tơ, An Phước, An Điềm, Khâm Đức, Hậu Đức …v… v…
https://i1.wp.com/vnafmamn.com/photos/a1h8.jpg
Song bên cạnh những chiến công lẫy lừng ấy, có mấy ai hình dung được hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời ngày đêm ghì chặt tay súng, trên những vọng gác, ở những nơi tiền đồn heo hút gió; để rồi liên tưởng đến hình ảnh của người Chiến Sĩ đã bị cộng quân bắn tỉa, trong lúc các Anh đang hướng tầm mắt, để quan sát những di chuyển của địch quân. Bởi vậy, các Anh đã trúng đạn của địch, và thân xác của người Chiến Sĩ đã nhuộm đầy máu đỏ, đã thấm đẫm chiến bào, và người Chiến Sĩ đã rơi từ trên chòi cao của vọng gác xuống nền đất lạnh, trên những bụi gai sắc nhọn giữa rừng khuya, thân xác của người Chiến Sĩ lại phải chịu thêm những vết thương khác, do những nhánh gai rừng đã đâm sâu vào châu thân, máu của người Chiến Sĩ đã chan hòa từ vết đạn thù, đã ứa ra từ những mũi gai rừng, trước khi gục chết tức tưởi giữa núi rừng hoang lạnh. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đem máu xương của mình, để bảo vệ Quê Hương.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với những hy sinh vô bờ bến. Đặc biệt, những đơn vị đã từng đối đầu với cộng quân, ở những nơi biên phòng, giới tuyến. Ở những nơi ấy, suốt ngày đêm người Chiến Sĩ phải đối đầu với không biết bao nhiêu những gian nan, nguy hiểm. Người Chiến Sĩ phải mắc võng ngủ trên những cành cây, để tránh thú dữ, nhưng không khỏi phải làm mồi cho muỗi, vắt. Trên những lối hành quân, mỗi khi dừng bước, người Chiến Sĩ đã phải dùng chiếc nón sắt của mình, múc nước từ những giòng suối, đổ vào bao gạo sấy, để ăn cho đỡ đói. Song cũng có những lần, khi những hạt gạo sấy chưa kịp nở thành cơm, thì đơn vị đã lọt vào ổ phục kích của cộng quân. Để rồi sau đó, có những Chiến Sĩ đã phải ôm xác đồng đội của mình, với bao gạo sấy chưa kịp mở ra, mà nhỏ lệ khóc thương đồng đội, đã chết trong khi bụng đang đói!!!

Ngày ấy, một thời chinh chiến, nếu ai đã từng đến các đơn vị biên phòng, giữa tiếng đạn pháo đì đùng, với những đêm nhìn ánh hỏa châu soi sáng các vùng rừng núi hoang vu, và treo lơ lửng trên những vọng gác quanh các tiền đồn, thì chắc chắn đã thấy được toàn cảnh, là những bức tranh, với những nét điểm xuyết thật tuyệt vời. Đồng thời, cũng thấy được những hy sinh vô bờ bến của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đang nằm sương, gối súng ngay giữa sự sống – chết, hiểm nguy. Sinh mạng của người Chiến Sĩ cũng vô cùng mong manh. Bởi bất cứ lúc nào các Anh cũng có thể bị quân địch tấn công, và có thể sẽ vĩnh viễn bị vùi thây nơi chiến địa!!!

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, là tất cả những gì cao đẹp nhất, hào hùng nhất. Người dân của miền Nam tự do, đã từng chứng kiến những hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, vai mang súng, tay bế em thơ, tay dìu dắt cụ già giữa vùng lửa đạn.

– Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ có những Sĩ quan, mà tất cả những người đã từng cầm súng để bảo vệ từng tấc đất của Quê Hương, hoặc đã từng kề vai, sát cánh bên người Chiến Sĩ, qua những công tác: Tâm Lý Chiến, Công Dân Vụ, Dân Sự Vụ, Dân Ý Vụ …

Họ có thể là những nông phu, song đã ý thức được bổn phận của một con dân nước Việt trong cơn nguy biến, nên có những người dân, khi bất ngờ gặp được người Chiến Sĩ trong lúc lỡ bị lạc trong rừng, sau một trận giao tranh với quân địch, và họ đã nuôi giấu, để sau đó, người Chiến Sĩ được bình an trở về với đơn vị.

Họ có thể là người Mẹ, người vợ, người anh, người chị, người em; song khi lâm cảnh ngộ, trong những lần tấn công của quân địch, lúc cùng đường, phải tử thủ, họ đã cùng sống-chết bên người Chiến Sĩ, họ đã biết sử dụng những quả lựu đạn M.26, để tiêu diệt quân thù, để mở đường máu thoát thân. Hết thảy họ đều là Chiến Sĩ.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ có Lục Quân, mà còn có các Lực lượng như: Quân Cảnh, Cảnh Sát, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn … Riêng về Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ, khi thành lập sau Tết Mậu Thân, 1968, có lẽ mọi người đã nhìn thấy hình ảnh của những Nữ đoàn viên Nhân Dân Tự Vệ, vai mang khẩu súng Carbine M-1, M-2, trông chẳng khác biệt những Thanh Nữ Cộng Hòa của một thưở nào là mấy. Lực lượng này, đã trực tiếp đối đầu với Du kích Việt cộng ở những vùng thôn quê, hẻo lánh.

Một hình ảnh, mà chắc chắn mọi người đều đã biết. Đó là hình ảnh của những Chiến Sĩ Nhân Dân Tự Vệ tại Hố Nai. Họ đã không rời tay súng, cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Song tiếc rằng, khi họ đã bị tử thương bởi những viên đạn của quân thù, thì chẳng có ai nhắc đến!!!

Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa và ngày mất nước: 30-4-1975

Vào một thời oanh liệt, với những chiến công lừng lẫy, làm quân thù phải bạt vía, kinh hồn. Lúc ấy, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa làm sao có thể nghĩ đến một ngày, họ phải buông súng trong uất hận, đau thương!!!

Thế nhưng, sự thật đã xảy ra. Trước ngày mất nước, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải chịu những cảnh bi thương nhất, khi bắt buộc phải buông súng, thì có các vị đã “chết theo thành”, một số may mắn được ra hải ngoại; còn đa số, thì đã phải vào các nhà tù “cải tạo”của Cộng sản Hà Nội, đã phải chịu cảnh hành hạ, đọa đày, cùm kẹp, đói khát, lạnh lẽo, hoặc trở thành người tàn phế, hay đã bỏ mình trong các nhà tù. Song chưa đủ, bởi còn gì đau thương hơn, còn ngôn từ nào để viết, và còn có dòng nước mắt nào, để khóc cho vừa với hình ảnh của những người Chiến Sĩ đã chết, trong khi đôi chân vẫn còn bị siết chặt, vẫn còn rỉ máu trong hai chiếc cùm, treo trên những chiếc thanh sắt, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối; để rồi sau đó, nắm xương tàn của người Chiến Sĩ đã bị vùi chôn bên cạnh những bờ rào kẽm gai oan nghiệt của trại tù “cải tạo”, trên khắp vùng núi rừng từ Nam chí Bắc!!!

Nhưng hôm nay, và mãi mãi cho đến ngàn sau, dẫu thế nhân có viết đến cả hàng nghìn trang sách, cũng không làm sao diễn đạt một cách trọn vẹn những gì mà người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải gánh chịu khi bị sa cơ, thất thế, ở trong các nhà tù “cải tạo”. Bởi, chỉ có chính các vị đã từng qua các nhà tù của cộng sản Hà Nội, thì mới thấu hết được những nỗi đau đớn kinh hoàng ấy; vì “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”.

Chẳng những thế, mà ngày đi vào nhà tù “cải tạo”, thì đã có không ít những Chiến Sĩ đã bị mất cả nhà cửa, vợ con!!!

Tuy nhiên, ngoài những cảnh đời bi thảm ấy, đã có rất nhiều Chiến Sĩ được gia đình hết lòng lo lắng. Những người Mẹ, người vợ, người con, người anh, người chị, người em của người Chiến Sĩ, đã băng rừng, vượt suối, đi đến tận những nơi rừng thiêng nước độc, để mang đến cho người thân của họ những món quà; song đặc biệt và cao quý nhất, vẫn là những món quà tinh thần. Vì đó, chính là “món ăn” đã nuôi sống người tù “cải tạo” để người Chiến Sĩ có đủ niềm tin và hy vọng, chờ đợi một ngày trở về, sum họp với gia đình.

Và giờ đây, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời tung hoành trên khắp chiến trường xưa, đang sống nơi hải ngoại; dù mái tóc đã bạc mầu, đôi mắt không còn tinh tường nữa; song ý chí quang phục Quê Hương vẫn không hề thay đổi. Vì thế, đa số đã và đang dấn thân vào con đường tranh đấu cho một nước Việt Nam Tự Do-Dân Chủ thực sự.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, sống đời lưu vong, nhưng ngày đêm vẫn vọng tưởng Cố Hương, vẫn nhớ tiếc về những năm tháng của một thuở đã xa, mà lòng rưng rưng, mà tim quặn thắt; bởi chỉ còn biết tìm lại qua những câu hát, lời thơ của một thời đã mất:

Đẹp thay Chính Thể Cộng Hòa
Vui thay tiếng hát, câu ca Thanh Bình
Cộng Hòa như ánh Bình Minh
Như giòng nước mát, như tình lúa xanh.

15-6-2011

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

” data-medium-file=”” data-large-file=”” />Giang doan 91 truc loi, LLDNTU

Hoàng Nhật Thơ

</div>
<p><strong>Cuộc chiến Việt Nam trên mặt trận quân sự thật sự chấm dứt lúc 1:15 trưa ngày 1 tháng 5, 1975 sau khi Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Tiểu Khu Chương Thiện cùng các chiến sĩ dưới quyền bị sa vào tay giặc.</p>
<p></strong></p>
<p>Trước đó một ngày, tức là vào lúc 10:30 sáng ngày 30 tháng 4, 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh kêu gọi các đơn vị, quân nhân các cấp thuộc QL/VNCH buông súng, sau này cũng có người gọi ông Dương Văn Minh là tổng thống “vi hiến.” Trong phạm vi bài viết này, tôi không bàn về hai chữ “vi hiến” hay hợp hiến, mà tôi chỉ nhắc lại giờ phút lịch sử sang trang máu của 35 năm về trước, để cùng chia sẻ niềm đau thương dân tộc và “Vinh Danh-Tưởng Niệm-Tri Ân” những Người Lính VNCH. Sau lời kêu gọi buông súng của ông Dương Văn Minh, một số đơn vị trưởng và cấp chỉ huy vì không muốn người dân và thuộc cấp phải đổ máu trong giờ thứ 25, nên đã ra lệnh kéo mảnh vải trắng lên ngọn cờ tại đơn vị, chấp nhận chấm dứt chiến tranh. Từ ngày đau thương đó đến nay đã 35 năm, mảnh vải trắng đó bị xem là lá cờ đầu hàng. Không, VNCH bị bán đứng chớ Người Lính VNCH không thua; Miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm, nhưng Người Lính VNCH không đầu hàng. Người Lính VNCH chẳng những can trường để chiến thắng mà còn can trường ngay cả trong chiến bại. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã hãnh diện và hiên ngang thay mặt cho toàn thể QL/VNCH chứng minh điều đó. Người Lính VNCH không bao giờ thua hoặc đầu hàng Cộng Sản. Mảnh vải trắng được Người Lính VNCH trân trọng, nghiêm trang từ từ kéo lên đỉnh ngọn cờ, kèm theo hai dòng lệ nhạt nhòa trong ngày tang thương đó là “VÀNH KHĂN TANG TỔ QUỐC”!</p>
<p><a href="http://hung-viet.org/images/file/7-bjyTVj0wgBADxw/duongvanminhtrongdinhdoclap.jpg"><img class="nw-img-responsive imgcontent" src= alt="duongvanminhtrongdinhdoclap" width="463" height="648" /></a></p>
<p>Mùa Xuân đến rồi qua đi, để lại trong lòng người Việt tha hương một nỗi buồn man mác trên con đường viễn xứ… Tháng Tư lại đến, gợi nhớ trong chúng ta một Tháng Tư của 35 năm về trước… Một Tháng Tư mà cả một quân đội hùng mạnh, thiện chiến nhất Đông Nam Á phải tan hàng vì sự phản bội của đồng minh, một quân đội bách chiến, bách thắng bị trói tay trên bàn cờ chính trị thế giới; Một Tháng Tư mà cả quê hương Việt Nam bị Cộng Sản Bắc Việt nhuộm đỏ bằng máu của Quân Dân Cán Chính VNCH; Một Tháng Tư mà cả một dãy giang san Việt Nam hoa gấm bị bọn Cộng Sản phá tan nát, nhận chìm trong máu và nước mắt của 85 triệu người dân Việt trong suốt 35 năm qua. “Tháng Tư Đen 1975”…!!!</p>
<p>Trở ngược dòng lịch sử… Trong suốt chiều dài của cuộc chiến trên quê hương Việt Nam, Người Lính VNCH đã dâng hiến cả cuộc đời cho quê hương, Tổ Quốc, đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn để hoàn thành trách nhiệm mà Tổ Quốc giao phó: “Bảo Quốc-An Dân.”</p>
<p>Chúng ta không thể nào quên được hình ảnh Người Lính VNCH bước trên những đống gạch vụn đổ nát trộn lẫn xác đồng đội và giặc thù dưới từng cơn mưa đạn của địch quân giăng kín cả đất trời để cắm ngọn cờ chiến thắng trên Cổ Thành Quảng Trị vào ngày 16 tháng 9, 1972; Hình ảnh của những Người Lính VNCH tiến lên trong lửa khói mịt mờ, những trận mưa pháo kinh hoàng của quân thù, máu chảy theo mỗi bước đi để chiếm lại từng tấc đất của quê hương, từng căn nhà góc phố cho người dân nơi thị trấn An Lộc vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972,…</p>
<p>Người Lính VNCH gục ngã trên khắp các mặt trận lớn nhỏ, thân xác của họ nát tan trong đạn pháo của quân thù để cho đất Mẹ được an vui; Máu của họ tuôn chảy khắp nẻo đường đất nước thấm vào lòng đất Mẹ cho ruộng lúa xanh tươi hoặc một phần thân thể gởi lại trên chiến trường mục rã theo thời gian. Tất cả sự hy sinh đó là để bảo vệ hai chữ Tự Do cho Miền Nam Việt Nam.</p>
<p><a href="http://hung-viet.org/images/file/RIULDzZj0wgBACBI/taichiemcothanhquangtri1972-3.jpg"><img class="nw-img-responsive imgcontent" src="http://hung-viet.org/images/file/RIULDzZj0wgBACBI/taichiemcothanhquangtri1972-3.jpg&quot; alt="taichiemcothanhquangtri1972-3" width="468" height="646" /></a><br />
Nhưng… đớn đau thay! Người Lính VNCH đã bị người bạn đồng minh phản bội, bức tử phải buông tay súng ngày 30 tháng 4, 1975, để rồi bao nhiêu người đã tuẫn tiết chết theo vận nước, hằng ngàn người đã bị bọn Cộng Sản hành quyết ngay sau khi bọn chúng cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam, hằng trăm ngàn Quân Cán Chính bị đưa vào 200 trại tù khổ sai, khắc nghiệt trên hai miền Nam Bắc, nhận lãnh sự trả thù đê tiện, hèn hạ bằng những cực hình tra tấn dã man, độc ác của bọn cộng sản vô thần khát máu, khoảng một trăm sáu mươi lăm ngàn người (165,000) đã chết trong các trại tù khổ sai, khoảng sáu mươi lăm ngàn (65,000) Quân Cán Chính VNCH chết mất xác vì bị thủ tiêu.</p>
<p>Dòng đời lặng lẽ trôi qua thoáng đó đã 35 năm. Dù cát bụi thời gian có chôn vùi tất cả và mọi việc sẽ đi vào lãng quên, nhưng có những sự việc, hình ảnh sẽ mãi mãi trường tồn với thời gian, trơ gan cùng tuế nguyệt… đó là hình ảnh, sức chiến đấu phi thường và sự hy sinh cao cả của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.</p>
<p>Chúng tôi, những Người Lính VNCH nhắc lại dĩ vãng không phải để tiếc nuối một thời quá khứ vàng son, danh vọng. Đời Người Lính VNCH đầu đội trời quê cha, chân bước đi trên mảnh đất mẹ, đôi vai gầy bé nhỏ gánh vác cả giang san, lưng mang balô trĩu nặng tình yêu quê hương dân tộc, đối diện với cái chết từng giây, từng phút; Đường hành quân trong rừng sâu, núi thẳm cả tháng không thấy ánh nắng mặt trời, đôi giày trận chưa hề được tháo ra một lần, nuốt vội vã những buổi cơm gạo sấy dưới cơn mưa tầm tã rồi tiếp bước quân hành. Cuộc đời của Người Lính như thế thì đâu có gì là vàng son, danh vọng… Nếu có danh vọng chăng là chúng tôi hãnh diện và tự hào được khoác vào mình bộ quân phục của QLVNCH; Vàng son của Người Lính là đem máu xương để đổi lấy sự thanh bình cho quê hương.</p>
<p>Chúng tôi nhắc lại dĩ vãng để cho những thế hệ trẻ sau này hiểu rõ về một quá khứ bi hùng, sự hy sinh của Người Lính VNCH. Nhờ những sự hy sinh đó mà chúng ta còn được hít thở bầu không khí tự do ngày hôm nay; Chúng tôi cũng muốn cho thế hệ trẻ đang sống trong nước hiểu rõ về tánh nhân bản và chính nghĩa của Người Lính VNCH. Người Lính VNCH không phục vụ cho bất cứ đảng phái, tổ chức hay cá nhân nào, Người Lính VNCH đi chiến đấu với một trách nhiệm và lý tưởng duy nhất “Bảo Quốc-An Dân.”</p>
<p>Có một số người thiển cận đã đổ hết trách nhiệm lên Người Lính VNCH về quốc nạn 30 tháng 4, 1975, cũng có nhiều cấp chỉ huy, lãnh đạo đã đứng ra nhận lãnh trách nhiệm này. Nếu nói như thế thì tội cho Người Lính VNCH quá! Người Lính VNCH đã làm hết sức của mình.</p>
<p>Người Lính VNCH dù không còn đầy đủ vũ khí, đạn dược và đã bị người bạn đồng minh bỏ rơi, nhưng họ vẫn tiếp tục chiến đấu trong đơn độc với tỷ lệ một (1) chọi sáu (6) tới giờ thứ 25 của cuộc chiến. Cuối cùng vì quân lệnh, vì kỷ luật của quân đội mà Người Lính đành nghẹn ngào gãy tay súng! Người Lính đã làm tròn trách nhiệm mà Tổ Quốc giao phó. Một bằng chứng hùng hồn và cụ thể là không có một mảnh đất nào của Miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản chiếm mà Người Lính VNCH không lấy lại được trong 20 năm chinh chiến.</p>
<p>Nếu Miền Nam Việt Nam chế tạo được vũ khí, đạn dược, chiến đấu cơ, chiến hạm và các phương tiện thiết bị chiến tranh, thì đừng nói chi là bọn Cộng Sản Việt Nam, mà trên thế giới này khó tìm ra được một quân đội nào được xem là đối thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.</p>
<p>Trong thời chiến, Người Lính VNCH là người chịu nhiều gian nan, cực khổ và hiểm nguy nhất, nhưng họ lại là những người bất hạnh, tang thương nhất sau cuộc chiến.</p>
<p>Những Người Lính VNCH may mắn đến được bến bờ tự do từ những ngày hỗn loạn cuối Tháng Tư Đen cho đến những chuyến vượt biển kinh hoàng, những chuyến bay ra đi theo diện H.O hoặc chương trình đoàn tụ. Dù họ ra đi bằng phương tiện hay diện nào đi nữa, không phải là họ sợ hoặc trốn chạy cộng sản. Họ ra đi với một lý do duy nhất “Người Lính VNCH không đội trời chung với Cộng Sản.”</p>
<p>Người Lính VNCH buông súng chấm dứt cuộc chiến trên mặt trận quân sự để chuyển qua một mặt trận mới trong cuộc chiến mới. Đó là mặt trận chính trị trong cuộc chiến “Nhân Bản,” cuộc chiến nhân bản này chỉ có một trận chiến duy nhất và sẽ là trận thư hùng cuối cùng, chúng ta dùng Lá Cờ Vàng Chính Nghĩa khai tử, bôi xóa vĩnh viễn đảng CSVN trong dòng lịch sử dân tộc Việt Nam nói riêng và dòng lịch sử thế giới nói chung.</p>
<p>Cho đến ngày hôm nay, 35 năm sau cuộc chiến, Người Lính trẻ nhất của QLVNCH cũng đã trên 50 tuổi… những cấp chỉ huy, lãnh đạo thì sương tuyết đã phủ trắng mái đầu. Những Người Lính VNCH bây giờ mắt đã yếu, thân thể không còn khỏe mạnh, tráng kiện như ngày xưa, nhưng ý chí và lý tưởng của họ vẫn không phai sờn theo dòng thời gian nghiệt ngã của tạo hóa, dù họ đang sống ấm no nơi xứ lạ quê người, họ vẫn đem những chuỗi ngày còn lại đóng góp công sức vào công cuộc đấu tranh giải thể bạo quyền Cộng Sản Việt Nam để mang lại sự tự do, hạnh phúc, ấm no cho 85 triệu người dân trong nước và những thế hệ mai sau.</p>
<p>Tất cả những sự hy sinh của Người Lính VNCH được trang trọng lưu vào trang sử của quê hương kèm theo bốn chữ mang đầy đủ ý nghĩa nhất “Tổ Quốc Ghi Ơn.”</p>
<p>Ba mươi lăm năm (35) chỉ là một thoáng so với thời gian vô cùng tận của tạo hóa, nhưng lại là chuỗi ngày dài đau thương của dân tộc Việt. Ba mươi lăm năm qua, vết thương cũ hầu như chưa một lần khép kín nhưng đau buồn thay… Những hình ảnh kinh hoàng, hoang mang, sợ hãi chen lấn nhau trong những ngày cuối “Tháng Tư Đen” khi giặc tràn về thành phố; Những hình ảnh vượt biển cả chống chọi với phong ba bão táp, trực diện với thần chết để đi tìm hai chữ “Tự Do” hầu như đã phai mờ trong lòng của một số người; Cuộc sống cơm no, áo ấm nơi xứ lạ đã làm cho họ quên ngày đại tang của quê hương; Họ đã đem cuộc sống vật chất xa hoa nơi đất khách phủ lấp đi sự hy sinh cao cả của Người Lính VNCH. Họ đã thờ ơ, lãnh đạm với sự tan nát của Quê Hương cùng với sự khổ đau, tang tóc của 85 triệu người dân trong nước. Tàn nhẫn hơn nữa là họ đã quay về quỳ mọp bắt tay hợp tác với giặc, những kẻ đã từng sát hại thân nhân của họ và truy đuổi họ vào con đường chết…Hỡi ơi…!</p>
<p>Xin đừng vứt bỏ hai chữ “Quốc Hận” bên lề đường viễn xứ. Xin đừng nhẫn tâm đâm thêm một nhát dao vào lưng những Người Lính VNCH đang ôm nỗi quốc hờn lưu vong biệt xứ hoặc đang lê lết cuộc đời tăm tối, tang thương trên quê hương Việt Nam. Xin đừng phản bội những người đã gục ngã, những người đang nằm trong lao tù vì công cuộc đấu tranh giải thể bạo quyền CSVN.</p>
<p>Hãy đóng góp công sức, góp một bàn tay cho công cuộc đấu tranh này sớm thành công.</p>
<p>Xin đừng để con đường viễn xứ mỗi ngày mỗi dài thêm.</p>
<p><em><strong>(Tưởng Niệm Quốc Hận)<br />
<strong>“Mũ Đen” Hoàng Nhật Thơ</strong></strong></em></p>
</div>
</div>
</div>
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />Huy hieu giang doan 57 tuan tham .JPGHuy hieu giang doan 42 ngan chan

Thân tặng các bạn NM2 đã một thời phục vụ tại các giang đoàn vùng Đặc Khu Rừng Sát: 27XP (TT Hồng, LT Khiết, TV Tồn); 22XP (PC Hùng); 57TT (KN Thành, NL Thọ, TH Tài); 91Trục Lôi (HV Dự), …. Riêng tặng NKH Mỹ (42NC, LLĐN 99), chuyến công tác cuối cùng tại Tân An. 

PV Tố – M6514

https://dongsongcu.files.wordpress.com/2017/07/6cc4e-25c4259025e125ba25b7c2bkhu2br25e125bb25abng2bs25c325a1t.jpg?w=485&h=626

 

Lúc đó là mấy ngày cuối tháng ba, đầu tháng tư, khi chiến cuộc đã sôi sục bước vào một giai đoạn mới. Qua tin tức, nhiều tỉnh miền Trung thất thủ. Cũng qua tin tức đã có nhiều đoàn người di tản bằng đường biển vào Nam từ miền Trung. Tôi nhận được lệnh công tác dẫn chiếc 6514 của tôi, thêm vài chiếc khác như RPC, FOM, LCM6 xuống vùng, trấn đóng một đoạn thủy lộ sông Lòng Tàu từ Vũng Tàu vô Sài Gòn. Thượng cấp nhận trách nhiệm giử cho Sài gòn ổn định. Lệnh hành quân là phải bằng mọi giá ngăn chận tất cả những ghe tàu di tản từ miền Trung, quân sự lẫn dân sự, không để họ dùng thủy lộ Lòng Tàu vào thẳng Sài gòn; phải yêu cầu họ quay lại và đổ bộ lên Vũng Tàu. Các tàu chạy chậm như rùa của giang đoàn Xung Phong lại dùng trong trường hợp nầy thật không thích hợp chút nào. Tuy nhiên thượng cấp cũng xin được một chiếc PGM của hạm đội, 2 chiếc PCF của HĐ3 và gởi thêm vài chiếc PBR của 57TT, chỉ để phòng hờ khi cần. Lực lượng chính vẫn là của tụi tôi. Hàng ngày đám giang đỉnh tụi tôi phải chạy tới lui trên sông Lòng Tàu từ sông Ngã Bảy đến Thiềng Liềng. Loại công tác lần nầy hoàn toàn không giống các lần khác trước đó. Không có đổ quân đóng chốt ,đánh đấm, hành quân gì hết. Phần lớn trong công tác, chúng tôi đã gặp các đoàn dân sự, ghe đánh cá loại lớn, có vận tốc nhanh hơn các giang đỉnh của chúng tôi nhiều. Chúng tôi thật sự rất vất vả rượt chận họ.  Chúng tôi cũng gặp các đoàn người di chuyển chậm chạp trên các xà lan có tàu kéo, các ghe đánh cá loại nhỏ hơn đã tơi tả chạy vào từ miền Trung. Tôi đã thấy những ánh mắt tang thương, sợ hải, hoang mang, tuyệt vọng. Tôi như đã đọc được trong mắt họ là đang muốn tìm tới một nơi an toàn. Có lẽ với họ lúc bấy giờ Sài gon là nơi an toàn nhất mà họ phải đến. Vậy mà tôi phải dùng đủ mọi cách để buộc họ phải quay lại Vũng Tàu. Vì đó là lệnh của thượng cấp. Hầu hết là phải hù dọa bằng nòng súng 40 ly của chiếc 6514 hay các khẩu đại liên 30. Từ chuyến công tác nầy, từ lúc nào không biết, trong lòng tôi đã dâng lên một cảm giác bất nhẫn xót xa.

Một vài lần khác trong công tác, cũng đụng phải hải quân phe ta trên vài chiếc LCM8 lạc lõng hoặc một toán 4, 5 chiếc yabuta của duyên đoàn. Gặp trường hợp nầy thì sự việc có phần khó khăn hơn nhiều. Dùng súng thuyết phục không xong thì phải năn nỉ, hết nhu tới cương, miễn sao được việc.

Nhớ có lần trước khi thành công buộc một chiếc xà lan có tàu kéo quay lại Vũng Tàu, chúng tôi đã giải giao về Tiểu Khu Gia Định vài anh lính vô kỷ luật, làm loạn giở trò hiếp đáp cướp bóc trong lúc di tản trên xà lan. Họ làm bậy rồi bị các quân nhân đàng hoàng khác trên đó khống chế, bắt trói. Gặp trường hợp như vậy, phải cho giang đỉnh chuyển giao họ về căn cứ ở Nhà Bè.

tien-phong-dinh-monitor

Cuối cùng tôi cũng qua hết thời gian công tác, bàn giao vùng và thấy thư thái hơn trở về căn cứ.  Rồi lại như thường lệ, sáng vô đơn vị, hết giờ làm việc lại dọt về Saigon quanh quẩn cùng gia đình, với cái tâm tư vui được ngày nào hay ngày nấy.

Cho đến một hôm tình cờ đặt chân lên cầu tàu căn cứ. Từ lúc xong công tác cho vấn đề dân di tản, tôi cũng ít tìm dịp bước xuống cầu tàu. Hôm đó tại cầu tàu chung của hai giang đoàn 22XP & 27XP tôi đã tình cờ thấy gia đình Trung Tá Nghĩa (K13). Ông là cháu ruột của Tông Tông Thiệu. Ông đang làm Quận Trưởng quận Quảng Xuyên. Tại cầu tàu tình cờ tôi thấy một nhóm độ chục người đang tay xách nách mang chuyển lên các chiếc PBR. Dò hỏi mấy thằng em đang đứng nhìn gần đó mới biết là gia đình của ông quận đang trực chỉ xuống Quảng Xuyên. Hơn lúc nào hết tôi thấy thật xao xuyến, có linh cảm mãnh liệt rằng có một điều gì đó người khác biết mà mình không biết. Bổng dưng cảm thấy rất bức rức khó chịu, nhiều nổi lo âu. Cũng mấy lúc gần đây khi ngồi tán dóc, tình cờ đụng đến đề tài di tản ngoài Trung, một vài ông Thượng sĩ lớn tuổi người Bắc kể lại kinh nghiệm đau thương của nhiều gia đình di cư năm 1954. Những trường hợp đau thương trong đó cha mẹ con cái, vợ chồng; phân ly kẻ Nam, người Bắc.  Nghe nhiều những chuyện như vậy rồi thêm vào hình ảnh bận rộn mới đây của gia đình TrT Nghĩa tại cầu tàu, tôi chợt nghĩ mình có lẽ mình phải làm cái gì đó để chuẩn bị. Cuối ngày khi về đến nhà tôi đã bàn tính với gia đình. Muốn sắp xếp là ngày hôm sau xuống đơn vị tôi sẽ tìm cách sắp đặt lại phòng ốc.  Để ngày hôm sau nữa Dung sẽ xuống Nhà Bè vào ở luôn trong căn cứ, chuẩn bị cho tình huống tồi tệ nhất.

Nhưng nhiều khi người tính còn không bằng trời tính. Ngày hôm sau, khoảng 20 tháng 4, tôi vào đơn vị.  Chưa kịp làm gì thì tôi được thông báo có cuộc họp hành quân khẩn cấp, được biết là tối quan trọng. CHT Long (K16) chủ tọa buổi họp. Ông cầm trong tay một công điện. Ông cho biết nội dung công điện là LLĐN 99 yêu cầu GĐ27XP đại diện tất cả GĐXP dẫn 6 chiếc LCM8 về Long An để phối hợp hành quân cùng với các giang đoàn khác và SĐ22 bộ binh (SĐ22 từ ngoài Trung rút về tái phối trí).

CHT cũng cho biết theo tinh thần công điện thì đây được coi như một cuộc hành quân phối hợp cấp cao, thâm niên hiện diện của hải quân là PĐĐ Phú (K2), kế đó là ĐT Dõng (K8). Công điện chỉ thị rỏ rằng các đơn vị trưởng hải quân phải đích thân dẫn giang đỉnh tới họp hành quân tại Tân An (Long An). Lẽ ra CHT phải đi nhưng ông giải thích đang có công tác khẩn, không thể vắng mặt, nên CHP Hà (K18) sẽ thay mặt ông, cùng tôi và Thiếu Úy Nghiệp (K24) dẫn giang đỉnh tới Long An phó hội.

Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau trong lúc đang chờ lên đường, sự việc lại thay đổi một chút. CHP Hà cho gọi tôi vào phòng, có CHT Long ở đó. Cả hai thông báo cho tôi biết CHP cũng có công tác khẩn cấp khác nên cuối cùng chỉ có tôi và Nghiệp lên đường. CHT nói: “Anh là sĩ quan duy nhất trong đơn vị có kinh nghiệm ở giang đỉnh nhiều nhất. Ở giang đỉnh anh cũng là sĩ quan gương mẫu, có đầy đủ tư cách nhất. Do đó anh có thể thay mặt tôi và CHP để dẫn 6 chiếc LCM8 về Long An tham dự họp hành quân.”

Chưa bao giờ tôi thấy buồn cười cho thân phận mình nhiều như vậy. Tôi dĩ nhiên tự biết về mình nhiều hơn ai hết. Nếu phải tự đánh giá, tôi biết mình không tệ quá tệ; nhưng để là người gương mẫu, có tư cách nhất, thì hãy còn xa rất xa. Đã hai năm kể từ ngày về đây, lúc nào chức vụ của tôi cũng chỉ là một SQGĐ bình thường trong một đám SQGĐ khác, lại còn kèm thêm cái chức vụ thuyền trưởng monitor bất đắc dĩ.  Chưa bao giờ tôi được coi trọng như lúc nầy.  Sau nầy mặc dù đã trải qua rất nhiều năm, tôi vẫn không hiểu tại sao bỗng dưng tại cái thời điểm đó cái gì của tôi cũng là nhất hết !!!

Vậy là lần nầy tôi ra vùng không có chiếc 6514 thân thuộc. Cũng nên nói thêm một chút chi tiết về 6 chiếc LCM8. Trong lần hành quân nầy chiếc LCM8 duy nhất của GĐ27XP đang lại trong tình trạng sửa chửa. Trong công điện, tham dự hành quân tất cả LCM8 là từ các nơi khác biệt phái thẳng tới Tân An đặt dưới quyền chỉ huy của GĐ27XP . Tôi còn nhớ một số nơi như 30XP, 28XP, …. Chỉ có riêng chiếc LCM8 hiện tại đang nằm chờ tôi ở cầu tàu là chiếc vừa được biệt phái tới từ căn cứ HQ Chợ Mới (Long Xuyên). Trong chuyến công tác tôi khám phá ra rằng anh thuyền trưởng rất hiền lành, vui tính và tận tình. Chỉ có điều bây giờ tôi đã không còn nhớ tên và cấp bậc chính xác. Trong suốt chuyến công tác tôi và Nghiệp đã cắm dùi trên chiếc nầy. Được một điều tốt là chiếc LCM8 nầy phần sau có mái che nắng mưa, có thể căng võng từ phòng lái tới các trụ bên ngoài nên lúc nào cũng thấy rất thoải mái.

Lúc gần giửa trưa, cầm lệnh công tác trong tay tôi cùng Nghiệp leo lên chiếc LCM8 do căn cứ Chợ Mới biệt phái tới, rời Nhà Bè trực chỉ Long An. Ra đi mà lòng tê tái. Trước lúc lên đường tôi chỉ kịp viết vội mấy dòng vắn tắt cho Dung biết việc chuẩn bị không thành và chàng đang “đi vào nơi gió cát …”.

Từ Nhà Bè đi Tân An, đường đi tôi thuộc nằm lòng. Một lúc sau đã qua khỏi Quảng Xuyên được một đoạn. Tôi biết bên phải tôi đã là địa phận Rạch Núi, thuộc Long An. Từ đây ra tới đồn Rạch Cát (dân địa phương vùng tôi ở gọi là đồn Rạch Cốc) thuộc địa phận xã Kinh Nước Mặn gặp sông Vàm Cỏ, bên mặt đều thuộc tỉnh Long An. Rồi tàu tới ngang Bắc Cầu Nổi (dân bên phía Gò Công như NKH Mỹ thì gọi là phà Mỹ Lợi). Tôi biết từ cầu bắc nầy bước lên bờ phía Cần Đước, bên trái có cái đồn nghĩa quân. Chỉ cần đi chưa quá 100m, cũng ở bên trái, là nhà thằng Long ngày xưa bạn học cùng lớp với cả hai vợ chồng tôi, sau nầy đi Thủ Đức rồi về quân vận.

Qua khỏi Bắc Cầu Nổi, bên tay phải đã là nơi tôi được sinh ra, xã Tân Chánh.  Ngồi trên trên chiếc Chợ Mới nhìn về phía Bắc. Tôi đương nhiên biết chỉ khoảng 45 cây số, đường chim bay, là thành phố Sài gòn thân yêu. Dung đang ở đó. Hơn thế nữa, quận lỵ Cần Đước nơi vợ chồng tôi đi học từ lớp vở lòng cho tới khi xong Trung học cũng cách vị trí hiện tại không hơn 4,5 cây số. Ấp Đình, xã Tân Chánh, nơi tôi được sinh ra lại càng  gần hơn, chỉ khoảng 3 cây số.  Còn nữa, quê nội của Đốc (K21) bên đầu cầu sông Lưu (ấp Hòa Quới) mới là nơi gần nhất. Từ vị trí tàu, tôi biết hết chổ nào là bến đò Bà Nhờ (thuộc xã Tân Ân, quê ngoại tôi). Tôi cũng biết ngay từ đó nếu đi thẳng theo đường sông sẽ đến bến đò Xã Bảy (thuộc xã Phước Tuy) sẽ thành sông Vàm Cỏ Đông đi về Bến Lức. Nhưng trước khi tới bến đò Xã Bảy tôi đã rẽ trái qua Vàm Cỏ Tây, trực chỉ Tân An. Tất cả các địa danh quen thuộc, tính theo đường chim bay, đều rất gần, quá gần nhưng giờ dường như xa diệu vợi. Nhìn về phía xa, tôi thấy rỏ không khí chiến tranh đang gần kề. Đó là ngày 20 tháng tư. Lúc bây giờ khoảng 3, 4 giờ chiều trên sông Vàm Cỏ.  Từ lúc rời Nhà Bè đã có một trận mưa nhỏ trái mùa, lất phất không đủ làm ướt nhưng mang theo nhiều vẻ buồn phiền. Nhìn về phía Bắc từ vị trí chiếc Chợ Mới, tôi nghe thật nhiều tiếng đại bác đì đùng, rền vang không dứt. Tôi thấy đây đó từng cuộn khói bốc lên.  Một vài chiếc chiến đấu cơ loại khu trục chúi xuống cất lên nhìn như có chút gì cô đơn, bất lực. Từ những ngày còn trẻ thơ cho tới lúc rời quê đi học xa, tôi đã từng sống trong vùng xôi đậu, gần gủi quá nhiều với chiến tranh. Những năm gần đây tôi cũng từng được coi như có chút kinh nghiệm đánh đấm. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy buồn phiền và thấy bất an đến như vậy.

Cứ như vậy, rất trể khoảng chiều ngày 20 tháng tư đó, tôi tới thị xã Tân An. Những chiếc LCM8 từ các đơn vị khác cũng lần lượt tới trình diện. Từ lúc đó tôi chính thức trở thành SQTT của tất cả 6 chiếc LCM8.

trung-van-dinh-lcm6

Tân An là tỉnh lỵ của tỉnh Long An. Quê Cần Đước của tôi mặc dù thuộc Long An nhưng dân quê tôi lại tiện lợi tới lui Sài gòn hơn. Vì quận lỵ Cần Đước chỉ cách Sài gòn có 36 cây số theo liên tỉnh lộ 50 tới cầu Nhị Thiên Đường, đường vào Xóm Củi. Trong nhiều năm, mặc dù có thể dùng các hương lộ nối liền liên tỉnh lộ 50 với quốc lộ 4 tại Bình Chánh, hoặc Gò Đen. Nhưng các đường nầy đều quá xấu và kém an ninh.  Để tới Tân An mọi người đều chọn qua ngã Sài gòn. Do vậy Tân An trong lòng mọi người không mấy gần gũi bằng Sài gòn. Lâu lắm nhiều năm trước tôi đã tới Tân An một lần để thi bằng lấy bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Sau đó có thêm vài ba lần thăm viếng trong thời gian ông anh theo học trường Sư Phạm tại đó.

Ngày hôm sau tôi đến trình diện và tham dự buổi họp đầu tiên tại Bộ Chỉ Huy hành quân của LLĐN 99. Trên phương diện hệ thống chỉ huy lúc đó tôi thay mặt CHT/GĐ27XP đến họp một cuộc hành quân cấp cao trong đó có các GĐ27XP, 42NC, 59TT, Phóng Thủy Hỏa, SĐ22BB, Hải Kích, …. Thâm niên hiện diện nhất của hải quân có ĐĐ Phú, kế đó là ĐT Dõng.

Sau khi buổi họp chấm dứt, ĐĐ Phú và ĐT Dõng muốn chứng kiến trình trạng kỷ thuật sẵn sàng của các LCM8. Không may cho tôi là lúc thử, có một chiếc không hạ được cửa đổ bộ. Và thượng cấp đã nổi giận. Thượng cấp cũng không cho tôi có cơ hội trình bày một tiếng, để phân bua rằng mới ngày hôm qua mấy chiếc LCM8 nầy vẫn còn nằm đâu đó các đơn vị hải quân vùng 3, vùng 4. Chuyện tiếp theo là 2 ông mắng tôi như tát nước. Bây giờ đã lâu rồi tôi không nhớ ông nào trong hai đại thượng cấp (hoặc cả hai) đã xưng hô mầy tao với tôi, và không tiếc ngay cả lời chưởi thề, trước mặt mấy thằng em thủy thủ. Từ thuở nhỏ tôi xuất thân từ gia đình nghèo, nhưng tôi học hành cũng tạm được. Từ lúc vào hải quân cho tới bây giờ, dù tôi vẫn còn là một sĩ quan trẻ tép riu; từ thuở còn bầm dập bởi đàn anh tại quân trường, cho tới bây giờ tôi cũng đã trải qua biết bao lần ba chìm bảy nổi. Tôi chưa bao giờ có thói quen chưởi thề hoặc hạ nhục bất cứ ai. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi được trực tiếp kề cận hai đại quan cao cấp như vậy và cũng là lần đầu tiên bị giũa một trận te tua. Hồi nhỏ tôi thường nghe từ ông bà, ba má tôi hay từ những người lớn tuổi là khi nhận được bổng lộc bất ngờ thì phải thật cẩn thận, chỉ sợ không có đủ phước để mà hưởng. Điều đó dường như đang ứng nghiệm cho tôi trong hai ngày nầy. Mới ngày hôm qua vô duyên vô cớ tôi được hai hai thẩm quyền tại đơn vị ban cho lời khen cái gì cũng nhất. Hôm nay lại coi như có cơ may, ngàn năm một thuở kề cận hai đại thẩm quyền, ơn mưa móc đâu chưa thấy mà đại họa đã trút xuống đầu. Hai ông còn đòi gởi công điện trả tôi về đơn vị gốc và yêu cầu thay bằng một sĩ quan xứng đáng khác.Hai ông không biết là trong thâm tâm tôi, tôi đang mong có người xuống thay thế để tôi quay lại căn cứ.Đó là điều tôi cầu còn không được. Và dĩ nhiên là việc nầy đã không xảy ra.

Việc trách mắng rồi cũng đi qua. Hai đại thẩm quyền tiến tới bờ sông bước xuống chiếc PBR chờ sẵn; một chiếc PBR khác có vẻ là chiếc trong vai trò hộ tống cũng đang chờ gần bên. Bấy giờ tôi mới chú ý tới 2 chiếc PBR để thấy rằng mỗi chiếc đều được trang bị một dàn 2, 3 khẩu M60 đạn dây lủng lẳng,trông rất oai phong. Rồi hai ông rời đi.

Dù bị thượng cấp ban cho một vố nặng, có chút oan uổng, nhưng công vụ là công vụ. Thượng cấp thì lúc nào cũng vẫn là thượng cấp. Hơn nữa tôi cũng không thể nào mong mình sẽ bị nạn thêm một lần nữa. Tôi trở lại chổ đậu gần dinh Tỉnh Trưởng bắt đầu theo lệnh sắp xếp. Chiếc LCM8 bị trở ngại cửa đổ bộ đã được sửa xong. Việc đầu tiên của tôi là đưa chiếc Chợ Mới tới túc trực và buộc vào một đầu của cái ponton dầu đang cột vào cầu tàu ngay trước dinh tỉnh trưởng, cách cầu Tân An trên QL4 không xa. Đầu kia của cái ponton được chừa trống để lúc nào cũng có chổ cho các giang đỉnh cặp vô lấy nhiên liệu.  Như vậy kể từ hôm đó ngoài việc tham gia chở lính khi có hành quân, chiếc Chợ Mới của tôi sẽ túc trực 24/24 tại một đầu của cái ponton dầu. Mục đích là để khi cần, chiếc Chợ Mới có thể cỏng cái ponton dầu nhanh chóng rời đi. Dịp nầy tôi gặp Tr/U Tư, SQ Tiếp Liệu trách nhiệm cái ponton dầu. Tôi nhận ngay ra Tư trước cũng thuộc ĐĐ19D Quang Trung. Các LCM8 khác nằm rải rác không xa, hoặc ủi bãi, thả neo phía bên nầy cầu Tân An.

Ngày kế, 22 tháng tư. Cuộc hành đầu tiên trong chuyến công tác. Như bao cuộc hành quân đổ bộ khác, bắt đầu bằng các LCM8 ủi bãi vào bờ để bốc các ĐĐ của SĐ22BB. Dàn đội hình, các giang đỉnh của 42NC rồi tới 2 cái Zippo, PBR tiến lên mở đường tiến về hướng tây. Thủ Thừa, mục tiêu cuối cùng của cuộc hành lần nầy còn cách xa một đoạn đường thật dài, xa diệu vợi. Nhưng khác rất nhiều với tất cả các lần trước ở ĐKRS, khi một số giang đỉnh mở đường vừa rời dạ cầu Tân An, ngay trên Quốc Lộ 4, qua phía bên kia thì bên tai đã mơ hồ nghe từng loạt tiếng đì đùng từ xa từ hướng Tây. Kế tiếp là chỉ khoảnh khắc sau, từng loạt tiếng xé gió và sau cùng là từng tiếng nổ, từng cụm khói, cột nước bốc lên ngay từ lòng sông phía trước mặt. Cuối cùng thì tất cả cũng hiểu ra là đang nằm trong tầm pháo kích của Cộng quân. Cũng may là không có thiệt hại nào đáng kể được báo cáo.Sau đó đoàn tàu lui ra, củng cố đội hình, rồi lại tiến lên thêm vài lần nữa. Nhưng lần nào cũng vậy, vừa thò đầu qua dạ cầu Tân An thì đạn pháo địch lại bay đến. Rốt cuộc thì việc di chuyển để rời xa cầu Tân An còn không xong, nói chi đến chuyện tiến về mục tiêu ở hướng Thủ Thừa. Tin tức được xác nhận ngay sau đó là cộng quân đã dùng cả 2 loại đại bác 130 ly và hỏa tiển 122 ly trong các đợt pháo kích vừa rồi.

Ngày kế nữa cũng vậy, cứ qua cầu là bị ăn đạn pháo.  Còn có tin và suy luận rằng đề lô VC đã túc trực đâu đó gần cầu Tân An.

Sáng sớm ngày 24 tháng tư, Nghiệp lại bên tôi than thở và ngỏ ý muốn chuồn về Sài gòn. Nghiệp lúc đó có một cô em gái hậu phương tên Nga, đang thời kỳ nồng thắm. Trong lúc chiến sự nhiểu nhương như những tháng ngày nầy mà mấy ngày trước, khi lên đường công tác Nghiệp lại không kịp có được một lời từ giả.

Nghiệp năn nỉ: “Đàn anh để thằng em về ghé qua an ủi Nga một chút kẻo tội nghiệp. Đàn anh đừng lo, sáng ngày mai xuống liền, …”.  Tôi không biết làm sao nhưng cũng không nở cản. Vả lại nhân tiện tôi cũng muốn nhờ Nghiệp ghé qua nhà gặp Dung với vài điều nhắn gởi.

Vì chỉ cần nghe Nghiệp nhắc nhở đến cô bồ tên Nga, tôi lại nhớ tới Dung, tới chuyện của gia đình TrT Nghĩa. Rồi tới chuyện CHT/CHP tìm đủ lý do nấn ná bám lại gần Sài gòn, tôi biết mình phải một lần nữa nghĩ tới chuyện sắp xếp cho Dung bằng cách nào đó xuống tận Tân An. Dung có ông anh Phát con của ông bác thứ hai đang là một sĩ quan làm việc nhiều năm tại Tân An. Lại thêm thật tình cờ, tôi vừa biết được chổ làm việc của anh Phát lại cách không xa chổ tôi đậu tàu. Tôi căn dặn Nghiệp nhiều lần là phải ghé qua nhà tôi ngay khi tới Sài gòn với lời nhắn để Dung có thể xuống ngay cùng ngày. Rồi Dung có thể tạm trú nơi nhà anh hai Phát phòng khi tình hình trở nên tồi tệ hơn.

Cũng nên nói rỏ hơn, tại thời điểm năm 1975, những ý tưởng liên quan về di tản đều chỉ đơn giản là sẽ rút về một nơi nào đó để tiếp tục chiến đấu, chẳng hạn như Vùng 4 hoặc Phú Quốc. Anh thuyền trưởng chiếc Chợ Mới của tôi là dân Hòa Hảo, sinh trưởng tại Long Xuyên. Anh cho biết trước ngày lên đường nhận công tác nầy, quê của anh vẫn hoàn toàn yên bình, chưa thấy có chút gì không khí chiến tranh.

Thế là Nghiệp dù về Sài gòn sáng sớm ngày 24. Suốt ngày hôm đó tôi ngồi nhìn đồng hồ. Đường từ Tân An về Sài gòn rất gần, chưa tới một giờ. Cả ngày 24 tôi không nhận có tin tức nào của Dung.  Cả ngày hôm sau cũng vậy. Và tôi cũng không thấy bóng dáng Nghiệp trở lại.

Ngày 26. Cuối cùng buổi chiều ngày hôm đó Nghiệp gọi tôi qua cái máy truyền tin 46. Nghiệp đang gọi nhờ qua máy truyền tin tại căn cứ Hải Quân Bến Lức. Qua đó Nghiệp cho biết cộng quân đã đánh bứt QL4 khoảng giửa Cầu Voi và Cầu Ván. Nghiệp đang ở Bến Lức chờ khai thông QL4 mà vẫn chưa có tin tức gì, QL4 vẫn còn bị gián đoạn. Hôm đó đã là ngày 26. Nghiệp có vẻ khá hốt hoảng, bồn chồn.  Rời bỏ khu vực hành quân, không sợ bị đưa ra tòa án quân sự mặt trận mới là lạ.

Từ ngày 26, tôi không còn nghe Bộ Chỉ Huy hành quân nhắc nhở gì đến việc tiếp tục đổ quân tái hành quân gì nữa. Hàng ngày đám giang đỉnh tụi tôi chỉ biết lè phè và ngao ngán chờ đợi.

Từ ngày xuống đây tình cờ gặp lại Mỹ (K21). Mỹ ở 42NC, CK mà cũng theo ra vùng hành quân. Mỹ lúc ở Quang Trung khá thân với tôi; cùng trung đội 1 cao giò của 19D. Sau khi ra Nha Trang, Mỹ theo ngành CK sáng nước. Có thể ví von như “xa quê hương ngộ cố tri”.  Một thân một mình trong một hoàn cảnh kỳ cục như thế nầy, lại gặp được một thằng bạn cùng khóa. Kể ra tôi cũng còn được ông Trời ưu ái. Hai thằng thường mắc võng kế bên, trên chiếc Chợ Mới của tôi, tha hồ mà tán dóc. Thêm nữa, hai đứa tụi tôi đều vừa mới lập gia đình chưa quá năm. Cả hai đều có vợ là cô giáo. Vợ chồng Mỹ lại có tin sắp có đứa con đầu lòng. Hai thằng tha hồ tỉ tê …

Bắt đầu từ ngày 26 tình hình lại biến chuyển theo một chiều hướng khác. Cộng quân bây giờ bắt đầu mở màn trò pháo kích vô Tân An. Hơn thế nữa, mỗi ngày 3 cử: sáng, trưa, chiều có sắp xếp giờ giấc một cách tương đối là khoảng 8:00 giờ, 12 giờ trưa, và 5 giờ chiều. Lúc đầu bà con không biết, sau lần đầu bị pháo, cứ ứng chiến mệt mỏi suốt ngày; sẵn sàng trong tư thế tác chiến áo giáp nón sắt, có thể rút tàu ra giửa sông bất cứ lúc nào. Khi biết vụ pháo kích theo lịch trình rồi thì sáng sớm tụi tôi cũng lên bờ đi chợ, dạo qua các hàng quán; cà phê, ăn sáng; thu lượm tin chiến sự. Gần trước 8 giờ rút giây thả tàu ra giửa sông chờ xong pháo kích. Sau đó thì lo việc nấu ăn trước trận pháo buổi trưa. Rồi buổi chiều cũng vậy. Đám tụi tôi chủ trương phải no bụng trước khi có chuyện gì xảy ra. Kinh nghiệm cho biết khi bắt đầu chơi kiểu nầy, cộng quân đang ở thế thượng phong. Mỗi cử pháo kéo dài chỉ khoảng 15, 20 phút với chừng 5, 10 quả đạn. Phần lớn rớt xuống các nơi dân cư trên bờ. Chỉ 15, 20 phút nhưng thấy dài thăm thẳm. Sau mỗi lần, theo tin tức xác nhận được thì chúng cũng đều bao gồm cả đại bác 130 ly và hỏa tiển 122 ly.

Ngày 27.  Cũng vẫn cái màn được cho ăn đạn pháo đúng giờ như ngày trước đó.  Những sinh hoạt khác cũng không có gì thay đổi. Hai ngày qua Nghiệp vẫn còn túc trực tại Bến Lức chờ cơ hội trở lại vùng công tác. Cuối cùng tôi cũng khuyên Nghiệp trở về căn cứ GĐ27XP để trình diện; có thể bị trách phạt nhưng còn có hy vọng thoát khỏi cái tội đào ngũ. Bớt đi Nghiệp, giờ đây cả 6 chiếc LCM8 chỉ còn có một mình tôi thuộc GĐ27XP. Tất cả các HSQ và đoàn viên khác đều được các nơi khác biệt phái tới, những người nầy một tuần lễ trước đây vẫn hoàn toàn xa lạ, tôi chưa từng có dịp phục vụ chung.

(Khi mọi chuyện đã qua nhiều năm sau nầy, tôi bắt đầu ráp nối lại mọi chi tiết. Thì ra ngày 24 về tới Sài gòn, bất kể được tôi dặn dò như thế nào, do chỉ lo dành thì giờ ham chơi du hí với Nga, cho tới hơn một ngày sau, chiều ngày 25 Nghiệp mới tới gặp Dung. Vì quá trể, sáng sớm ngày 26 khi Dung khi ra tới bến xe ở Sài gòn thì được biết QL4 bị gián đoạn giửa Cầu Voi Cầu Ván. Rốt cuộc phải quay về.

Nghiệp nghe lời khuyên, trở về trình diện đơn vị, sang Mỹ năm 1975. Năm 1981 cũng lò mò tới phiên tôi. Khoảng năm 1983, Nghiệp ghé qua căn apartment ở San Bernardino, CA thăm vợ chồng tôi, cũng có đôi lời phân bua, nhắc lại nhiều chuyện củ, rồi nhìn nhau cười trừ)

Ngày 28. Chuyện lạ xãy ra. Buổi tối như thường lệ, tôi đang nằm trên cái võng của chiếc Chợ Mới nghe tiếng rọt rẹt buồn tẻ của cái máy truyền tin 46. Lúc đó chắc cũng đã gần giửa khuya, tôi bỗng nghe tiếng quát tháo từ hướng cái ponton dầu.  Lúc ngồi dậy nhìn sang thì thấy hai giang đỉnh đang cặp song song ở đầu kia của cái ponton, ngay chổ lấy dầu. Giửa ponton dầu là 2 chiếc PBR cũng nằm song song với nhau, không biết từ lúc nào, vẫn với mấy dàn M60. Trên ponton tôi thấy có mặt ĐĐ Phú. Trước mặt ông, TrU tiếp liệu Tư lúng ta lúng túng dường như đang phân bua điều gì. Rồi tôi thấy thượng cấp quát tháo gì đó với Tư và sau đó quát về hướng hai chiếc giang đỉnh.  Cuối cùng, chỉ chốc lát sau hai chiếc giang đỉnh mở dây rời đi. Rồi thượng cấp cũng đi khỏi với 2 chiếc PBR. Tôi thật tò mò thắc mắc một lúc rồi lại thiếp đi trong giấc ngủ với nhiều lo lắng thường ngày.

Sáng sớm hôm sau, đã là ngày 28 tháng tư. Lúc tôi thức dậy, hãy còn quá sớm. Mấy thằng em nhiều thằng vẫn còn ngủ. Đang đánh răng, rửa mặt tôi bỗng lại nghe tiếng quát tháo. Lần nầy từ chiếc monitor của giang đoàn bạn đang thả neo giửa sông cách chổ tôi không xa. Rồi tôi thấy một sĩ quan lon lá hẳn hoi, cấp tá, từ đâu đó dưới phòng ngủ hớt hơ hớt hãi đi lên, theo lối bên trái về hướng mủi. Còn đang ngơ ngác không biết chuyện gì, tôi lại thấy ĐĐ Phú cũng từ dưới bước nhanh lên. Trên tay ông là khẩu súng nhỏ (giờ không nhớ là colt 45 hay rouleau) chĩa về hướng ông sĩ quan phía trước. Thì ra thượng cấp đang đuổi theo ông sĩ quan. Chiếc monitor nầy có trang bị một khẩu Howitzer 105 ly. Chỉ thêm có mấy bước nữa, khi ông sắp tới vị trí của cái nòng của khẩu 105 ly đang chận ngang, thì thượng cấp đuổI kịp. Bấy giờ thượng cấp vừa quát tháo vừa bước tới. Sau cùng ông dừng lại trong tư thế nửa ngồi nửa như dựa vô nòng khẩu 105. Trong tay vẫn là khẩu súng nhỏ. Nhưng bây giờ họng của nó lại kê vô đầu ông sĩ quan, bắt ông quỳ xuống.  Mọi chuyện xãy ra gần sát bên trái của cái nòng đang chỉ hướng trước mủi của khẩu 105. Ông sĩ quan đã quỳ xuống. Tôi nghe câu được câu mất như là những lời kết tội: ” … tối qua đã bị bắt tại trận, …., qua mặt, …”; “… sáng nay lại cải lệnh lạm dụng đưa tàu đi, … bất tuân thượng lệnh, …”. Rồi thì thượng cấp tuyên bố lột lon và bắt đầu thi hành. Sau đó mọi chuyện kết thúc, ông sĩ quan coi như bị lột lon, cách chức, và lập tức bị áp giải theo thượng cấp trên 2 chiếc PBR.  Từ giờ phút nầy, ông sĩ quan coi như bị quản thúc.

Giang toc dinh PPR tuan tieu tren song

Chỉ một lúc sau, đầu đuôi câu chuyện được truyền miệng trở thành câu chuyện có đầu đuôi thứ lớp hơn. Chỉ là tối qua ông sĩ quan định cho 2 giang đỉnh đến ponton lấy dầu rồi cho dọt về Nhà Bè hay nơi nào đó để bốc gia đình. Thượng cấp biết được tin tức, tới quạt cho một trận. Nhưng chưa đủ để làm cho ông sĩ quan bỏ ý định. Bằng cách nào đó, ông vẫn cả gan tìm cách có được đủ nhiên liệu, cho 2 con cá rời vùng dông mất. Hậu quả là sáng ngày tin tức về 2 con cá lén rời vùng bị lộ ra, thượng cấp đã nổi giận nên mới có màn dí súng, lột lon, cách chức như vừa rồi. Trưa hôm đó, qua hệ thống truyền tin hành quân tôi cũng biết thêm nhiều chi tiết qua các công điện báo cáo và đề nghị của thượng cấp về sự việc đã xãy ra.

Ngày 28 rồi cũng đi qua. Vẫn với những hoang mang, lo lắng. Vẫn với những lần pháo kích của địch theo lịch trình sáng trưa chiều. Mấy ngày nầy tôi và cả đám đoàn viên, ngoài chuyện tránh đạn, ăn sáng, lên bờ lấy tin tức, ăn trưa, ăn tối, … không biết làm gì. Từ từ cả đám trở nên trầm mặc; hoặc nằm hoặc ngồi ngơ ngác nghe vẫn tiếng rè rẹt thỉnh thoảng vang lên từ cái máy truyền tin ở nên nầy hoặc là tiếng lải nhải từ cái radio ở bên kia.

Vài ngày qua có tin Tân An bị cô lập, cắt đứt ở 2 đầu; giửa Cầu Voi Cầu Ván phía Bắc, và ngã ba Trung Lương ở phía Nam. Máy truyền tin và cái radio là hai phương tiện nối liền cái đám tàu bè tụi tôi với BCH hành quân và thế giới bên ngoài. Cái máy truyền tin thì lần lần dường như không còn hữu hiệu trong việc hành quân. Nào có nhận được lệnh lạc gì đâu. Nhiều lúc nghĩ đám nầy có lẽ giống như đám con bị bỏ chợ. Trên băng tần truyền tin cứ một lúc lại nghe những riêng tư thăm hỏi, tương tự như thế nầy:

– Anh Dũng, Anh Dũng … đây Bắc Bình …

– Bắc Bình đây Anh Dũng, nghe. Nói đi.

– Anh Dũng, Anh Dũng, vặn lên 2 nấc, có cái nầy cho qua, nghe rỏ trả lời, …

(được hiểu có nghĩa là: thằng B muốn gọi thằng A, đổi tần số lên 2 nấc để nói chuyện riêng, …)

Cái radio thì càng lúc càng rộn ràng, khẩn cấp hơn với quá nhiều biến chuyển, đặc biệt nhất là tình hình Sài gòn. Tình hình Sài gòn biến chuyển một cách nhanh chóng và lộn xộn. Cũng hôm nay ngày 28, tại Sài gòn cụ Hương đã trao quyền lại cho Big Minh.

Rồi qua ngày 29. Sáng nay trên cái radio Vũ Văn Mẫu đọc đi đọc lại cái thông cáo của Big Minh yêu cầu Mỹ gấp rút rời khỏi VN.

Buổi tối ngày 29, tôi thẩn thờ ngồi trên chiếc Chợ Mới. Vẫn một bên là cái radio, một bên là cái máy truyền tin. Hồi chiều gặp Mỹ trước giờ ăn pháo kích tối theo giờ, tán dóc ba điều bốn chuyện, rồi chán quá không biết nói gì thêm. Sau đó Mỹ xuống tàu biểu mấy thằng em tháo dây dông mất.

Mấy ngày nay tôi quá rảnh nên có thể dành nhiều thì giờ hơn theo dỏi qua hệ thống truyền tin hành quân. Hệ thống truyền tin bắt đầu thật bận rộn. Nhưng cũng vẫn không phải vì công vụ mà vì những bàn tính thăm hỏi, toàn là bàn bạc chuyện riêng tư. Tiếng gọi nhau liên tục, dùng tần số trực hành quân xong lập tức liền rủ nhau đi qua tần số khác nói chuyện tiếp. Tôi ngồi bên cái máy, tiếp tục theo dỏi các mẫu đối đáp mong tìm được chút manh mối mới. Với mục đích đó, khi nghe được đề nghị chuyển đổi tần số lên xuống, tôi cũng lò dò đuổi theo để tiếp tục nghe thêm những lời đối đáp sau đó. Lúc nầy mọi quy tắc an ninh truyền tin bài bản dường như không còn cần thiết. Nhiều câu đối đáp trao đổi được bạch hóa hoàn toàn.

Dùng cách đơn giản nhưng tẳn mẳn, tằn mằn mất thì giờ như vậy mà cuối cùng tôi cũng góp nhặt được 2 mẫu tin đặc biệt. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ hầu hết các chử trong 2 mẫu truyền tin ngắn nhưng đặc biệt . Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ hầu hết các chử trong 2 mẫu tin đó.

– Mẫu tin thứ nhất như thế nầy: “Thừa lệnh ĐĐ liên lạc ĐĐ Minh. Đuợc gia đình ĐĐ Minh cho biết đã về quê bằng WHEC5”

– Mẫu tin thứ hai: “Đã tìm mọi cách liên lạc với ĐĐ Thủy và nhiều bạn bè khác. Không có ai trả lời. Tất cả đều “BÌNH SA LẠC NHẠN”.

Rồi tôi ngồi đó yên lặng đoán già đoán non. Hai chử ĐĐ không kèm theo tên thì chắc chắn là đại thẩm quyền nhà mình. Nhưng tại sao ĐĐ Minh lại về quê mà bằng chiếc WHEC5 (HQ5). Trong những ngày nầy để về quê trong đất liền, nếu mà là tôi thì chắc tôi không dùng WHEC, mà sẽ khoái dùng PBR cho nhanh và dễ xoay trở. Nếu là một nơi tương đối an toàn chắc tôi sẽ chỉ dùng PCF. Hơn nữa, tại sao lại là “Bình Sa Lạc Nhạn”. Trong tiểu thuyết người ta chỉ ví von “nhạn lạc ngư trầm” (chim sa cá lặn) để tả các giai nhân. Không lẽ anh chàng thủy thủ vô tuyến không biết dùng chử.

Cuối cùng, sau một lúc lâu tôi cũng tạm đưa ra một phỏng đoán chung cho cả 2 bản tin. Có lẽ cả hai bản tin đều ngầm báo cho ĐĐ nhà mình biết là các sếp lớn đã rời bỏ Sài gòn về vùng 4 hoặc Phú Quốc. Có lẽ do chàng vô tuyến kẹt từ ngữ nên dùng tạm “bình sa lạc nhạc” để tránh mấy chử kém thi vị hơn như cao bay xa chạy chăng?

Rồi tôi bỗng nhớ ra là từ sau buổi trưa hôm qua, ngày 28, tôi đã không còn thấy hai chiếc PBR (PBR với các dàn M60).  Cặp PBR bài trùng nầy nếu còn ở quanh đây, không thể nào không nhận ra, tôi thế nào cũng thấy.  Đồng nghĩa với không có hai đại thẩm quyền trong vùng. Hình ảnh và câu chuyện lột lon, cách chức ngày hôm trước lại có dịp trở về.

(Chỉ mấy ngày sau, khi về đến Sài gòn tôi mới biết mình chỉ đoán trúng có một nửa. Cao bay xa chạy là đúng; nhưng các ông không về vùng 4, các ông chỉ đơn giản Ra Khơi.)

Rất trể đã khuya đêm 29. Rồi một lúc nữa là qua nửa đêm, bắt đầu ngày 30, từ cái máy truyền tin 46 tôi lạnh toát người nghe hằng loạt những tiếng gọi nhau kêu cứu ơi ới, tuyệt vọng, phẫn uất, tức tưởi, …, Lần lượt các căn cứ Trà Cú, Gò Dầu, Bến Kéo bị cộng quân tràn ngập.

Lúc ấy mới chỉ là mấy giờ đồng hồ đầu tiên của ngày 30.

PV Tố – M6514

http://taiton2049.blogspot.com.au/search/label/Ch%C3%BAt%20T%C3%ACnh%20S%C3%B4ng%20N%C6%B0%E1%BB%9Bc

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s