Chút tình sông nước

https://i2.wp.com/www.nuiansongtra.com/photos/photos/8/6678.jpgHUY HIEU GIANG DOAN 22 XUNG PHONG .Phu hieu GD27XP. TVQ Collection
Hình ảnh người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã được gắn kết với Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, được thành lập vào năm 1955. Kể từ đó, miền Nam tự do đã được thế giới biết đến, là một Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa; và Thủ Đô Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông.

Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên, là người Chiến Sĩ Bảo An, mà người dân thôn quê thường gọi là Chiến Sĩ Cộng Hòa, hoặc Lính Cộng Hòa, sau này, Lực lượng Bảo An Đoàn đã trở thành Địa Phương Quân.

Ngày ấy, người Chiến Sĩ Bảo An, ngoài nghĩa vụ cầm súng để bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ Bảo An đã từng đi đến những thôn làng xa xôi, để giúp đỡ các địa phương xây dựng hành chánh, để giải thích cho dân chúng biết đến một Chính Thể mới, vừa được khai sinh tại miền Nam: Chính Thể Cộng Hòa.
https://i0.wp.com/vnafmamn.com/VIETNAM%20WAR/ARVN_portrait45.jpg
Đồng thời, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên ấy, còn súng trên vai, tay đốn tre rừng, để bắc những chiếc cầu tre, trên những con suối ở tận hương thôn, để nối đôi bờ, nối những cánh đồng lúa, những nương dâu, để những ngày mưa lũ, người dân quê đi làm công việc nông tang, không còn phải lội giữa giòng nước xoáy hiểm nguy; và để cho những nam nữ Thanh Niên Cộng Hòa giữa đôi bờ dễ dàng gặp gỡ, để cùng trao đổi với nhau về Thể Chế Cộng Hòa vừa mới được khai sáng tại miền Nam. Đặc biệt, là những hình ảnh ở hương thôn, giữa cảnh thanh bình – tự do – no ấm bên lũy tre làng, với những đêm về, dưới ánh trăng lành tỏa sáng trên khắp nẻo đường quê, luôn luôn rộn rã những tiếng cười, tiếng sáo trúc và tiếng đàn Mandoline, hòa cùng tiếng hát ngân vang, đón chào đất nước đã được hồi sinh sau bao cơn binh lửa, với bài ca:

Dựng Một Mùa Hoa:

Chào bình minh hoa ban mai lả lơi
Nhạc dịu êm vang dư âm ngàn nơi
Bên khóm tre tươi, chim hót hoa cười trong nắng yêu đời
Bầy trẻ thơ yêu quê hương đầy vơi
Đồng ruộng tươi vươn lên bao nguồn mới
Sóng lúa chơi vơi, xanh ngát chân trời, dịu màu đẹp tươi
Đây phương Nam, bao la dịu dàng, say sưa câu hoan ca nhịp nhàng
Duyên xưa còn thắm, chung xây cuộc sống, chan chứa mênh mông
Tình miền Nam, như hoa Lan đầy hương
Tìm tự do, gió chim tung bay ngàn hướng
Đây đó vui ca, trong nắng chan hòa
Dựng Một Mùa Hoa.

Đầu năm 1956, khi sắp sửa đến ngày bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, vào ngày 4-3-1956; sau đó, Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa, do Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết ngày 20-10-1956, đã được ban hành ngày 26-10-1956, với đầy đủ Tam quyền Phân lập: Lập Pháp – Hành Pháp và Tư Pháp, thì người Chiến Sĩ Bảo An lại đến với người dân quê, bằng những câu ca dao, để cho người dân ý thức được cuộc bầu cử sắp tới như sau:

“Dù ai buôn bán nơi đâu
Tháng ba, mồng bốn, rủ nhau đi bầu.
Dù ai mua bán trăm bề
Tháng ba, mồng bốn, nhớ về tham gia.
Bầu cử Quốc Hội nước nhà
Cộng Đồng – Nhân Vị – Quốc Gia hùng cường”.

Song nói đến người Chiến Sĩ Bảo An, mà không nhắc đến người Chiến Sĩ Dân Vệ, là một điều vô cùng thiếu sót. Bởi, Lực lượng Dân Vệ, là một Lực lượng vũ trang, trực tiếp đối đầu với “Lực lượng Du Kích” của Việt cộng, mà khởi đầu là “Du Kích Ba Tơ”, và là tiền thân của “Lực lượng vũ trang Liên khu 5” do tướng Việt cộng Nguyễn Chánh cầm đầu. Sau này, “lực lượng du kích” trực tiếp cầm súng đối đầu với dân quân của miền Nam, tại những vùng rừng núi xa xôi.

– Người Chiến Sĩ Dân Vệ, mà sau này đã trở thành Lực Lượng Nghĩa Quân. Ngày ấy, hàng đêm người Chiến Sĩ Dân Vệ luôn luôn tay ghì khẩu súng Mas-36, vai mang những quả lựu đạn chày, đi tuần – canh ở những trạm gác, nơi có những chiếc cổng của bờ rào Ấp Chiến Lược, để bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, vì bọn Du Kích thường tìm cách lẻn xuống các làng thôn để cướp gạo, muối, thực phẩm của đồng bào, đem lên rừng để sống. Đó là những Chiến Sĩ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đã góp máu xương trong công cuộc bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào ruột thịt, và họ đã chết trong âm thầm, không bia đá. Thế rồi, kể từ sau ngày Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, thì các Chiến Sĩ Bảo An và Chiến Sĩ Dân Vệ, đã bị người ta cố tình đưa vào quên lãng!!!
https://i0.wp.com/vnafmamn.com/VIETNAM%20WAR/ARVN_portrait7.jpg
Thế nhân thường nói: Mất rồi mới biết quý, mới biết tiếc. Giờ đây, sau khi nước đã mất, nhà đã tan; qua những cảnh đời tang thương, dâu bể, khi ngược dòng thời gian trở về với một thưở thanh bình, mà không bao giờ còn tìm thấy lại, dù chỉ một lần nào nữa, thì chắc đa số những người con dân nước Việt sẽ thấy quý, thấy tiếc Vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã bị giết chết vào ngày 1-11-1963, chỉ vì Người đã kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đất nước. Chính ngày này, nước Việt Nam Cộng Hòa đã đứng trên bờ của vực thẳm, để rồi cho đến ngày 30-4-1975, thì cả nền móng của nước Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn sụp đổ, rơi ngay xuống tận đáy vực sâu, mà do ngoại nhân với sự tiếp tay của những kẻ vong-nô,vô cùng tàn độc, dã man đã đào sẵn, để vùi chôn một công trình vĩ đại, mà đã được đắp xây bằng cả máu xương của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa!!!

Những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã “biến mất” sau ngày 1-11-1963:

Đó là những Chiến Sĩ đã hy sinh tất cả, khi chấp nhận rời xa mái ấm gia đình tại miền Nam tự do, để đi vào vùng đất địch, không hẹn ước một ngày trở về nơi chốn cũ!!!

Vậy, không có gì bằng, là hãy đọc, để như nghe lại những lời nói của năm nào, vào đêm mồng 6 tháng 8 năm 1960, tại một nơi bí mật; song có mặt của Cố Đại Tá Lê Quang Tung đứng lên hô to khẩu hiệu:

“Trung thành với Tổ Quốc – Xả thân vì lý tưởng Quốc Gia”.

Sau đó, các Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hô theo.

Khi những tiếng hô chấm dứt, thì Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã đọc những lời tiễn đưa các Chiến Sĩ đi vào vùng đất địch như sau:

“Các bạn ra đi hôm nay, là đã vượt ra khỏi tầm bảo vệ của chính phủ. Ra đi, có thể các bạn không hẹn ngày về. Những người con ưu tú của Dân Tộc, đêm nay giã từ Thủ Đô, để lao vào vùng địch, chiến đấu cho tự do và độc lập của Tổ Quốc, cho hòa bình. Vì hẳn các bạn cũng biết, Việt Nam là tiền đồn của thế giới tự do. Các bạn là những Chiến Sĩ Tiên Phong, đi chiến đấu ngay trong lòng địch; để ngăn chặn làn sóng cộng sản xâm nhập vào Nam, tiến đánh hậu phương chúng ta. Đây là một sứ mạng hết sức to lớn, và rất đáng cảm phục.

Thay mặt Tổng Thống, thay mặt chính phủ, tôi trân trọng gởi đến các bạn lời khen ngợi ý chí vô cùng cam đảm của các bạn, lòng yêu nước vô bờ bến của các bạn, khi đơn thương, độc mã dấn thân vào đất địch, để chịu trăm ngàn nguy hiểm, mà không được một sự yểm trợ nào cả. Xin cầu chúc các bạn vượt qua mọi gian lao, nguy hiểm và thành công trong sứ mạng”.

Và cũng tương tự như thế, là những Chiến Sĩ đã được cài lại ở miền Bắc trước ngày 20-7-1954, hoặc có những Chiến Sĩ đã tình nguyện quay trở về miền Bắc ngay sau khi mới di cư vào miền Nam. Những Chiến Sĩ này đã do Ông Phan Quang Đông và Ông Ngô Đình Cẩn sắp xếp, và bí mật lo cho đời sống của họ, khi họ phải sống trong lòng đất địch tại miền Bắc.

Nhưng đau đớn thay, bởi sau khi Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, Ông Phan Quang Đông và Ông Ngô Đình Cẩn bị giết chết. Vì thế, tất cả những Chiến Sĩ này đã bị chặt tay, chặt chân, cắt đứt con đường về; họ phải tự tìm cách để sống trong mỏi mòn, chờ đợi. Cho đến ngày 30-4-1975, khi miền Nam tự do đã rơi vào tay của cộng sản Bắc Việt; thì các Chiến Sĩ này đã hoàn toàn tuyệt vọng; nên có người đã chết trong tức tưởi, trong đau đớn khôn nguôi. Và cho đến tận hôm nay, những người thân của họ, cũng không hề biết nắm xương của những người Chiến Sĩ ấy, đã bị vùi lấp ở một nơi nào trên đất Bắc???!!!

Ôi! Còn gì đau xót và phũ phàng hơn; nếu một mai, Quê Hương ta có tái lập được một nước Việt Nam với thể chế pháp trị hẳn hoi, thì thử hỏi, có còn ai nhắc – nhớ đến những người Chiến Sĩ đã từng dấn thân vào lòng đất địch, sống cùng với những gian nan, nguy hiểm; và chết trong âm thầm, lặng lẽ, lãng quên!!!

Hình ảnh tiếp nối của Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa:

Sau ngày Vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã Vị Quốc Vong Thân; để tiếp tục bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ vẫn tiếp tục lao mình vào nơi chiến trường lửa khói mịt mù, cận kề với cái chết. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đi vào những trang sử hào hùng của Dân Tộc, với những trận đánh làm khiếp vía quân thù như: Bình Long, An Lộc v…v…

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang, oai hùng, ngạo nghễ đứng trên Cổ thành Quảng Trị, để cắm lá Cờ Vàng ba Sọc Đỏ thân yêu như bài hát: Cờ bay trên Cổ thành Quảng Trị:

“Cờ bay, cờ bay, oai hùng trên thành phố thân yêu
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu
Cờ bay, cờ bay tung Trời, ta về với Quê Hương
Từng ngóng đợi quân ta tiến về ……”

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã vượt phi đạo, tung cánh “chim bằng”, đi vào cõi chết, để bảo vệ vùng Trời miền Nam tự do.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã rời xa đất liền, xa mái ấm gia đình, sống lênh đênh trên mặt trùng dương ngút ngàn khói sóng. Máu xương của người Chiến Sĩ đã hòa quyện và vùi chôn nơi đáy nước trong trận Hải chiến 1974, để bảo vệ Hoàng Sa, hải đảo, bảo vệ hải phận Việt Nam.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa tay súng, vai khoác ba lô, tung cánh dù, nhảy xuống vùng đất địch, bất chấp mọi hiểm nguy.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh dũng đánh đuổi quân thù, tái chiếm Cố đô Huế, Tết Mậu Thân, 1968. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đi tìm đào từng hố, hầm tập thể, để tìm lại xương xác của đồng bào ruột thịt thân yêu.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã “quên mình cứu người” băng bó vết thương cho đổng đội.

– Người nữ Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã không ngại gian nan, vì “Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”, để góp bàn tay vào công cuộc bảo vệ miền Nam Tự Do.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã đem sinh mạng của mình để bảo vệ đồng bào ruột thịt, trên khắp Bốn vùng Chiến thuật, ở những vùng nông thôn, nơi biên phòng, giới tuyến, từ Ấp Bắc, An Lộc, Gio Linh, Khe Sanh, Pleime, A Sao, A Lưới, Trà Bồng, Minh Long, Ba Tơ, An Phước, An Điềm, Khâm Đức, Hậu Đức …v… v…
https://i1.wp.com/vnafmamn.com/photos/a1h8.jpg
Song bên cạnh những chiến công lẫy lừng ấy, có mấy ai hình dung được hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời ngày đêm ghì chặt tay súng, trên những vọng gác, ở những nơi tiền đồn heo hút gió; để rồi liên tưởng đến hình ảnh của người Chiến Sĩ đã bị cộng quân bắn tỉa, trong lúc các Anh đang hướng tầm mắt, để quan sát những di chuyển của địch quân. Bởi vậy, các Anh đã trúng đạn của địch, và thân xác của người Chiến Sĩ đã nhuộm đầy máu đỏ, đã thấm đẫm chiến bào, và người Chiến Sĩ đã rơi từ trên chòi cao của vọng gác xuống nền đất lạnh, trên những bụi gai sắc nhọn giữa rừng khuya, thân xác của người Chiến Sĩ lại phải chịu thêm những vết thương khác, do những nhánh gai rừng đã đâm sâu vào châu thân, máu của người Chiến Sĩ đã chan hòa từ vết đạn thù, đã ứa ra từ những mũi gai rừng, trước khi gục chết tức tưởi giữa núi rừng hoang lạnh. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đem máu xương của mình, để bảo vệ Quê Hương.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với những hy sinh vô bờ bến. Đặc biệt, những đơn vị đã từng đối đầu với cộng quân, ở những nơi biên phòng, giới tuyến. Ở những nơi ấy, suốt ngày đêm người Chiến Sĩ phải đối đầu với không biết bao nhiêu những gian nan, nguy hiểm. Người Chiến Sĩ phải mắc võng ngủ trên những cành cây, để tránh thú dữ, nhưng không khỏi phải làm mồi cho muỗi, vắt. Trên những lối hành quân, mỗi khi dừng bước, người Chiến Sĩ đã phải dùng chiếc nón sắt của mình, múc nước từ những giòng suối, đổ vào bao gạo sấy, để ăn cho đỡ đói. Song cũng có những lần, khi những hạt gạo sấy chưa kịp nở thành cơm, thì đơn vị đã lọt vào ổ phục kích của cộng quân. Để rồi sau đó, có những Chiến Sĩ đã phải ôm xác đồng đội của mình, với bao gạo sấy chưa kịp mở ra, mà nhỏ lệ khóc thương đồng đội, đã chết trong khi bụng đang đói!!!

Ngày ấy, một thời chinh chiến, nếu ai đã từng đến các đơn vị biên phòng, giữa tiếng đạn pháo đì đùng, với những đêm nhìn ánh hỏa châu soi sáng các vùng rừng núi hoang vu, và treo lơ lửng trên những vọng gác quanh các tiền đồn, thì chắc chắn đã thấy được toàn cảnh, là những bức tranh, với những nét điểm xuyết thật tuyệt vời. Đồng thời, cũng thấy được những hy sinh vô bờ bến của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đang nằm sương, gối súng ngay giữa sự sống – chết, hiểm nguy. Sinh mạng của người Chiến Sĩ cũng vô cùng mong manh. Bởi bất cứ lúc nào các Anh cũng có thể bị quân địch tấn công, và có thể sẽ vĩnh viễn bị vùi thây nơi chiến địa!!!

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, là tất cả những gì cao đẹp nhất, hào hùng nhất. Người dân của miền Nam tự do, đã từng chứng kiến những hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, vai mang súng, tay bế em thơ, tay dìu dắt cụ già giữa vùng lửa đạn.

– Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ có những Sĩ quan, mà tất cả những người đã từng cầm súng để bảo vệ từng tấc đất của Quê Hương, hoặc đã từng kề vai, sát cánh bên người Chiến Sĩ, qua những công tác: Tâm Lý Chiến, Công Dân Vụ, Dân Sự Vụ, Dân Ý Vụ …

Họ có thể là những nông phu, song đã ý thức được bổn phận của một con dân nước Việt trong cơn nguy biến, nên có những người dân, khi bất ngờ gặp được người Chiến Sĩ trong lúc lỡ bị lạc trong rừng, sau một trận giao tranh với quân địch, và họ đã nuôi giấu, để sau đó, người Chiến Sĩ được bình an trở về với đơn vị.

Họ có thể là người Mẹ, người vợ, người anh, người chị, người em; song khi lâm cảnh ngộ, trong những lần tấn công của quân địch, lúc cùng đường, phải tử thủ, họ đã cùng sống-chết bên người Chiến Sĩ, họ đã biết sử dụng những quả lựu đạn M.26, để tiêu diệt quân thù, để mở đường máu thoát thân. Hết thảy họ đều là Chiến Sĩ.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ có Lục Quân, mà còn có các Lực lượng như: Quân Cảnh, Cảnh Sát, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn … Riêng về Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ, khi thành lập sau Tết Mậu Thân, 1968, có lẽ mọi người đã nhìn thấy hình ảnh của những Nữ đoàn viên Nhân Dân Tự Vệ, vai mang khẩu súng Carbine M-1, M-2, trông chẳng khác biệt những Thanh Nữ Cộng Hòa của một thưở nào là mấy. Lực lượng này, đã trực tiếp đối đầu với Du kích Việt cộng ở những vùng thôn quê, hẻo lánh.

Một hình ảnh, mà chắc chắn mọi người đều đã biết. Đó là hình ảnh của những Chiến Sĩ Nhân Dân Tự Vệ tại Hố Nai. Họ đã không rời tay súng, cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Song tiếc rằng, khi họ đã bị tử thương bởi những viên đạn của quân thù, thì chẳng có ai nhắc đến!!!

Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa và ngày mất nước: 30-4-1975

Vào một thời oanh liệt, với những chiến công lừng lẫy, làm quân thù phải bạt vía, kinh hồn. Lúc ấy, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa làm sao có thể nghĩ đến một ngày, họ phải buông súng trong uất hận, đau thương!!!

Thế nhưng, sự thật đã xảy ra. Trước ngày mất nước, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải chịu những cảnh bi thương nhất, khi bắt buộc phải buông súng, thì có các vị đã “chết theo thành”, một số may mắn được ra hải ngoại; còn đa số, thì đã phải vào các nhà tù “cải tạo”của Cộng sản Hà Nội, đã phải chịu cảnh hành hạ, đọa đày, cùm kẹp, đói khát, lạnh lẽo, hoặc trở thành người tàn phế, hay đã bỏ mình trong các nhà tù. Song chưa đủ, bởi còn gì đau thương hơn, còn ngôn từ nào để viết, và còn có dòng nước mắt nào, để khóc cho vừa với hình ảnh của những người Chiến Sĩ đã chết, trong khi đôi chân vẫn còn bị siết chặt, vẫn còn rỉ máu trong hai chiếc cùm, treo trên những chiếc thanh sắt, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối; để rồi sau đó, nắm xương tàn của người Chiến Sĩ đã bị vùi chôn bên cạnh những bờ rào kẽm gai oan nghiệt của trại tù “cải tạo”, trên khắp vùng núi rừng từ Nam chí Bắc!!!

Nhưng hôm nay, và mãi mãi cho đến ngàn sau, dẫu thế nhân có viết đến cả hàng nghìn trang sách, cũng không làm sao diễn đạt một cách trọn vẹn những gì mà người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải gánh chịu khi bị sa cơ, thất thế, ở trong các nhà tù “cải tạo”. Bởi, chỉ có chính các vị đã từng qua các nhà tù của cộng sản Hà Nội, thì mới thấu hết được những nỗi đau đớn kinh hoàng ấy; vì “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”.

Chẳng những thế, mà ngày đi vào nhà tù “cải tạo”, thì đã có không ít những Chiến Sĩ đã bị mất cả nhà cửa, vợ con!!!

Tuy nhiên, ngoài những cảnh đời bi thảm ấy, đã có rất nhiều Chiến Sĩ được gia đình hết lòng lo lắng. Những người Mẹ, người vợ, người con, người anh, người chị, người em của người Chiến Sĩ, đã băng rừng, vượt suối, đi đến tận những nơi rừng thiêng nước độc, để mang đến cho người thân của họ những món quà; song đặc biệt và cao quý nhất, vẫn là những món quà tinh thần. Vì đó, chính là “món ăn” đã nuôi sống người tù “cải tạo” để người Chiến Sĩ có đủ niềm tin và hy vọng, chờ đợi một ngày trở về, sum họp với gia đình.

Và giờ đây, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời tung hoành trên khắp chiến trường xưa, đang sống nơi hải ngoại; dù mái tóc đã bạc mầu, đôi mắt không còn tinh tường nữa; song ý chí quang phục Quê Hương vẫn không hề thay đổi. Vì thế, đa số đã và đang dấn thân vào con đường tranh đấu cho một nước Việt Nam Tự Do-Dân Chủ thực sự.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, sống đời lưu vong, nhưng ngày đêm vẫn vọng tưởng Cố Hương, vẫn nhớ tiếc về những năm tháng của một thuở đã xa, mà lòng rưng rưng, mà tim quặn thắt; bởi chỉ còn biết tìm lại qua những câu hát, lời thơ của một thời đã mất:

Đẹp thay Chính Thể Cộng Hòa
Vui thay tiếng hát, câu ca Thanh Bình
Cộng Hòa như ánh Bình Minh
Như giòng nước mát, như tình lúa xanh.

15-6-2011

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

” data-medium-file=”” data-large-file=”” />Huy hieu giang doan 57 tuan tham .JPGGiang doan 91 truc loi, LLDNTU

Hoàng Nhật Thơ

</div>
<p><strong>Cuộc chiến Việt Nam trên mặt trận quân sự thật sự chấm dứt lúc 1:15 trưa ngày 1 tháng 5, 1975 sau khi Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Tiểu Khu Chương Thiện cùng các chiến sĩ dưới quyền bị sa vào tay giặc.</p>
<p></strong></p>
<p>Trước đó một ngày, tức là vào lúc 10:30 sáng ngày 30 tháng 4, 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh kêu gọi các đơn vị, quân nhân các cấp thuộc QL/VNCH buông súng, sau này cũng có người gọi ông Dương Văn Minh là tổng thống “vi hiến.” Trong phạm vi bài viết này, tôi không bàn về hai chữ “vi hiến” hay hợp hiến, mà tôi chỉ nhắc lại giờ phút lịch sử sang trang máu của 35 năm về trước, để cùng chia sẻ niềm đau thương dân tộc và “Vinh Danh-Tưởng Niệm-Tri Ân” những Người Lính VNCH. Sau lời kêu gọi buông súng của ông Dương Văn Minh, một số đơn vị trưởng và cấp chỉ huy vì không muốn người dân và thuộc cấp phải đổ máu trong giờ thứ 25, nên đã ra lệnh kéo mảnh vải trắng lên ngọn cờ tại đơn vị, chấp nhận chấm dứt chiến tranh. Từ ngày đau thương đó đến nay đã 35 năm, mảnh vải trắng đó bị xem là lá cờ đầu hàng. Không, VNCH bị bán đứng chớ Người Lính VNCH không thua; Miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm, nhưng Người Lính VNCH không đầu hàng. Người Lính VNCH chẳng những can trường để chiến thắng mà còn can trường ngay cả trong chiến bại. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã hãnh diện và hiên ngang thay mặt cho toàn thể QL/VNCH chứng minh điều đó. Người Lính VNCH không bao giờ thua hoặc đầu hàng Cộng Sản. Mảnh vải trắng được Người Lính VNCH trân trọng, nghiêm trang từ từ kéo lên đỉnh ngọn cờ, kèm theo hai dòng lệ nhạt nhòa trong ngày tang thương đó là “VÀNH KHĂN TANG TỔ QUỐC”!</p>
<p><a href="http://hung-viet.org/images/file/7-bjyTVj0wgBADxw/duongvanminhtrongdinhdoclap.jpg"><img class="nw-img-responsive imgcontent" src= alt="duongvanminhtrongdinhdoclap" width="463" height="648" /></a></p>
<p>Mùa Xuân đến rồi qua đi, để lại trong lòng người Việt tha hương một nỗi buồn man mác trên con đường viễn xứ… Tháng Tư lại đến, gợi nhớ trong chúng ta một Tháng Tư của 35 năm về trước… Một Tháng Tư mà cả một quân đội hùng mạnh, thiện chiến nhất Đông Nam Á phải tan hàng vì sự phản bội của đồng minh, một quân đội bách chiến, bách thắng bị trói tay trên bàn cờ chính trị thế giới; Một Tháng Tư mà cả quê hương Việt Nam bị Cộng Sản Bắc Việt nhuộm đỏ bằng máu của Quân Dân Cán Chính VNCH; Một Tháng Tư mà cả một dãy giang san Việt Nam hoa gấm bị bọn Cộng Sản phá tan nát, nhận chìm trong máu và nước mắt của 85 triệu người dân Việt trong suốt 35 năm qua. “Tháng Tư Đen 1975”…!!!</p>
<p>Trở ngược dòng lịch sử… Trong suốt chiều dài của cuộc chiến trên quê hương Việt Nam, Người Lính VNCH đã dâng hiến cả cuộc đời cho quê hương, Tổ Quốc, đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn để hoàn thành trách nhiệm mà Tổ Quốc giao phó: “Bảo Quốc-An Dân.”</p>
<p>Chúng ta không thể nào quên được hình ảnh Người Lính VNCH bước trên những đống gạch vụn đổ nát trộn lẫn xác đồng đội và giặc thù dưới từng cơn mưa đạn của địch quân giăng kín cả đất trời để cắm ngọn cờ chiến thắng trên Cổ Thành Quảng Trị vào ngày 16 tháng 9, 1972; Hình ảnh của những Người Lính VNCH tiến lên trong lửa khói mịt mờ, những trận mưa pháo kinh hoàng của quân thù, máu chảy theo mỗi bước đi để chiếm lại từng tấc đất của quê hương, từng căn nhà góc phố cho người dân nơi thị trấn An Lộc vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972,…</p>
<p>Người Lính VNCH gục ngã trên khắp các mặt trận lớn nhỏ, thân xác của họ nát tan trong đạn pháo của quân thù để cho đất Mẹ được an vui; Máu của họ tuôn chảy khắp nẻo đường đất nước thấm vào lòng đất Mẹ cho ruộng lúa xanh tươi hoặc một phần thân thể gởi lại trên chiến trường mục rã theo thời gian. Tất cả sự hy sinh đó là để bảo vệ hai chữ Tự Do cho Miền Nam Việt Nam.</p>
<p><a href="http://hung-viet.org/images/file/RIULDzZj0wgBACBI/taichiemcothanhquangtri1972-3.jpg"><img class="nw-img-responsive imgcontent" src="http://hung-viet.org/images/file/RIULDzZj0wgBACBI/taichiemcothanhquangtri1972-3.jpg&quot; alt="taichiemcothanhquangtri1972-3" width="468" height="646" /></a><br />
Nhưng… đớn đau thay! Người Lính VNCH đã bị người bạn đồng minh phản bội, bức tử phải buông tay súng ngày 30 tháng 4, 1975, để rồi bao nhiêu người đã tuẫn tiết chết theo vận nước, hằng ngàn người đã bị bọn Cộng Sản hành quyết ngay sau khi bọn chúng cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam, hằng trăm ngàn Quân Cán Chính bị đưa vào 200 trại tù khổ sai, khắc nghiệt trên hai miền Nam Bắc, nhận lãnh sự trả thù đê tiện, hèn hạ bằng những cực hình tra tấn dã man, độc ác của bọn cộng sản vô thần khát máu, khoảng một trăm sáu mươi lăm ngàn người (165,000) đã chết trong các trại tù khổ sai, khoảng sáu mươi lăm ngàn (65,000) Quân Cán Chính VNCH chết mất xác vì bị thủ tiêu.</p>
<p>Dòng đời lặng lẽ trôi qua thoáng đó đã 35 năm. Dù cát bụi thời gian có chôn vùi tất cả và mọi việc sẽ đi vào lãng quên, nhưng có những sự việc, hình ảnh sẽ mãi mãi trường tồn với thời gian, trơ gan cùng tuế nguyệt… đó là hình ảnh, sức chiến đấu phi thường và sự hy sinh cao cả của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.</p>
<p>Chúng tôi, những Người Lính VNCH nhắc lại dĩ vãng không phải để tiếc nuối một thời quá khứ vàng son, danh vọng. Đời Người Lính VNCH đầu đội trời quê cha, chân bước đi trên mảnh đất mẹ, đôi vai gầy bé nhỏ gánh vác cả giang san, lưng mang balô trĩu nặng tình yêu quê hương dân tộc, đối diện với cái chết từng giây, từng phút; Đường hành quân trong rừng sâu, núi thẳm cả tháng không thấy ánh nắng mặt trời, đôi giày trận chưa hề được tháo ra một lần, nuốt vội vã những buổi cơm gạo sấy dưới cơn mưa tầm tã rồi tiếp bước quân hành. Cuộc đời của Người Lính như thế thì đâu có gì là vàng son, danh vọng… Nếu có danh vọng chăng là chúng tôi hãnh diện và tự hào được khoác vào mình bộ quân phục của QLVNCH; Vàng son của Người Lính là đem máu xương để đổi lấy sự thanh bình cho quê hương.</p>
<p>Chúng tôi nhắc lại dĩ vãng để cho những thế hệ trẻ sau này hiểu rõ về một quá khứ bi hùng, sự hy sinh của Người Lính VNCH. Nhờ những sự hy sinh đó mà chúng ta còn được hít thở bầu không khí tự do ngày hôm nay; Chúng tôi cũng muốn cho thế hệ trẻ đang sống trong nước hiểu rõ về tánh nhân bản và chính nghĩa của Người Lính VNCH. Người Lính VNCH không phục vụ cho bất cứ đảng phái, tổ chức hay cá nhân nào, Người Lính VNCH đi chiến đấu với một trách nhiệm và lý tưởng duy nhất “Bảo Quốc-An Dân.”</p>
<p>Có một số người thiển cận đã đổ hết trách nhiệm lên Người Lính VNCH về quốc nạn 30 tháng 4, 1975, cũng có nhiều cấp chỉ huy, lãnh đạo đã đứng ra nhận lãnh trách nhiệm này. Nếu nói như thế thì tội cho Người Lính VNCH quá! Người Lính VNCH đã làm hết sức của mình.</p>
<p>Người Lính VNCH dù không còn đầy đủ vũ khí, đạn dược và đã bị người bạn đồng minh bỏ rơi, nhưng họ vẫn tiếp tục chiến đấu trong đơn độc với tỷ lệ một (1) chọi sáu (6) tới giờ thứ 25 của cuộc chiến. Cuối cùng vì quân lệnh, vì kỷ luật của quân đội mà Người Lính đành nghẹn ngào gãy tay súng! Người Lính đã làm tròn trách nhiệm mà Tổ Quốc giao phó. Một bằng chứng hùng hồn và cụ thể là không có một mảnh đất nào của Miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản chiếm mà Người Lính VNCH không lấy lại được trong 20 năm chinh chiến.</p>
<p>Nếu Miền Nam Việt Nam chế tạo được vũ khí, đạn dược, chiến đấu cơ, chiến hạm và các phương tiện thiết bị chiến tranh, thì đừng nói chi là bọn Cộng Sản Việt Nam, mà trên thế giới này khó tìm ra được một quân đội nào được xem là đối thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.</p>
<p>Trong thời chiến, Người Lính VNCH là người chịu nhiều gian nan, cực khổ và hiểm nguy nhất, nhưng họ lại là những người bất hạnh, tang thương nhất sau cuộc chiến.</p>
<p>Những Người Lính VNCH may mắn đến được bến bờ tự do từ những ngày hỗn loạn cuối Tháng Tư Đen cho đến những chuyến vượt biển kinh hoàng, những chuyến bay ra đi theo diện H.O hoặc chương trình đoàn tụ. Dù họ ra đi bằng phương tiện hay diện nào đi nữa, không phải là họ sợ hoặc trốn chạy cộng sản. Họ ra đi với một lý do duy nhất “Người Lính VNCH không đội trời chung với Cộng Sản.”</p>
<p>Người Lính VNCH buông súng chấm dứt cuộc chiến trên mặt trận quân sự để chuyển qua một mặt trận mới trong cuộc chiến mới. Đó là mặt trận chính trị trong cuộc chiến “Nhân Bản,” cuộc chiến nhân bản này chỉ có một trận chiến duy nhất và sẽ là trận thư hùng cuối cùng, chúng ta dùng Lá Cờ Vàng Chính Nghĩa khai tử, bôi xóa vĩnh viễn đảng CSVN trong dòng lịch sử dân tộc Việt Nam nói riêng và dòng lịch sử thế giới nói chung.</p>
<p>Cho đến ngày hôm nay, 35 năm sau cuộc chiến, Người Lính trẻ nhất của QLVNCH cũng đã trên 50 tuổi… những cấp chỉ huy, lãnh đạo thì sương tuyết đã phủ trắng mái đầu. Những Người Lính VNCH bây giờ mắt đã yếu, thân thể không còn khỏe mạnh, tráng kiện như ngày xưa, nhưng ý chí và lý tưởng của họ vẫn không phai sờn theo dòng thời gian nghiệt ngã của tạo hóa, dù họ đang sống ấm no nơi xứ lạ quê người, họ vẫn đem những chuỗi ngày còn lại đóng góp công sức vào công cuộc đấu tranh giải thể bạo quyền Cộng Sản Việt Nam để mang lại sự tự do, hạnh phúc, ấm no cho 85 triệu người dân trong nước và những thế hệ mai sau.</p>
<p>Tất cả những sự hy sinh của Người Lính VNCH được trang trọng lưu vào trang sử của quê hương kèm theo bốn chữ mang đầy đủ ý nghĩa nhất “Tổ Quốc Ghi Ơn.”</p>
<p>Ba mươi lăm năm (35) chỉ là một thoáng so với thời gian vô cùng tận của tạo hóa, nhưng lại là chuỗi ngày dài đau thương của dân tộc Việt. Ba mươi lăm năm qua, vết thương cũ hầu như chưa một lần khép kín nhưng đau buồn thay… Những hình ảnh kinh hoàng, hoang mang, sợ hãi chen lấn nhau trong những ngày cuối “Tháng Tư Đen” khi giặc tràn về thành phố; Những hình ảnh vượt biển cả chống chọi với phong ba bão táp, trực diện với thần chết để đi tìm hai chữ “Tự Do” hầu như đã phai mờ trong lòng của một số người; Cuộc sống cơm no, áo ấm nơi xứ lạ đã làm cho họ quên ngày đại tang của quê hương; Họ đã đem cuộc sống vật chất xa hoa nơi đất khách phủ lấp đi sự hy sinh cao cả của Người Lính VNCH. Họ đã thờ ơ, lãnh đạm với sự tan nát của Quê Hương cùng với sự khổ đau, tang tóc của 85 triệu người dân trong nước. Tàn nhẫn hơn nữa là họ đã quay về quỳ mọp bắt tay hợp tác với giặc, những kẻ đã từng sát hại thân nhân của họ và truy đuổi họ vào con đường chết…Hỡi ơi…!</p>
<p>Xin đừng vứt bỏ hai chữ “Quốc Hận” bên lề đường viễn xứ. Xin đừng nhẫn tâm đâm thêm một nhát dao vào lưng những Người Lính VNCH đang ôm nỗi quốc hờn lưu vong biệt xứ hoặc đang lê lết cuộc đời tăm tối, tang thương trên quê hương Việt Nam. Xin đừng phản bội những người đã gục ngã, những người đang nằm trong lao tù vì công cuộc đấu tranh giải thể bạo quyền CSVN.</p>
<p>Hãy đóng góp công sức, góp một bàn tay cho công cuộc đấu tranh này sớm thành công.</p>
<p>Xin đừng để con đường viễn xứ mỗi ngày mỗi dài thêm.</p>
<p><em><strong>(Tưởng Niệm Quốc Hận)<br />
<strong>“Mũ Đen” Hoàng Nhật Thơ</strong></strong></em></p>
</div>
</div>
</div>
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />Huy hieu giang doan 42 ngan chan

Thân tặng các bạn NM2 đã một thời phục vụ tại các giang đoàn vùng Đặc Khu Rừng Sát: 27XP (TT Hồng, LT Khiết, TV Tồn); 22XP (PC Hùng); 57TT (KN Thành, NL Thọ, TH Tài); 91Trục Lôi (HV Dự), …. Riêng tặng NKH Mỹ (42NC, LLĐN 99), chuyến công tác cuối cùng tại Tân An. 

PV Tố – M6514

Một số chi tiết về ngày tháng có thể thiếu chính xác.

Sông Nước Miền Nam và Quê Tôi

Tôi được sinh ra và lớn lên tại làng Tân Chánh, Cần Đước một vùng quê miền Nam nằm sát bên bờ dòng sông Vàm Cỏ. Đây là một vùng quê với ruộng đồng sông nước mênh mông, một năm với hai mùa mưa nắng. Mùa nắng hay mùa khô, thường vắng những trận mưa, bắt đầu với cái thời tiết mát mẻ khoảng trước Tết cho đến cái khô nóng của tháng sáu tháng bảy. Trong mùa khô, gió từ biển thổi qua trên mặt đất, cây cỏ và các dòng sông; những cơn gió tạo cơ hội cho nước mặn từ biển tràn vào. Mùa mưa hàng năm theo ngay sau đó. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng bảy âm lịch. Những ngày không mưa thì vẫn là cái nóng bức nhưng nếu đã mưa thì lại mát mẻ, ngọt ngào mang đầy sự sống đến từng mảnh vườn thửa ruộng. Trong những tháng nầy nước sông chậm rải chuyển từ mặn thành ngọt hơn; và là dấu hiệu của mùa trồng lúa bận rộn thật sự bắt đầu.

Quê tôi ở miền Nam được coi là vùng đất rất mộc mạc, hơi khô khan, có nhiều phần không thể so với miền Tây trù phú, nhiều mộng mơ bên bờ hai sông Tiền, sông Hậu.

Dù vậy, tôi lúc nào cũng yêu thương quê mình vô cùng. Tại vùng quê đó, tôi đã trải qua đủ đầy hương vị của những tháng năm tuổi thơ, ngay từ cái thời chưa tới 10 tuổi.  Đó là những năm 1956, 1957, 1958, …. Từ nơi đó, lúc nào tôi cũng gần gũi với thiên nhiên, mà điển hình là với ruộng đồng, các dòng sông cùng nhiều ngọn rạch. Các sông rạch mà ngay từ cái thuở thơ ngây đó, tôi và rất nhiều bạn bè cùng lứa như từ lúc nào đã hòa nhập vào chúng một cách tự nhiên. Chẳng hạn như bất chợt trong một tháng năm nào đó bọn tôi bổng biết ra rằng mình đã tự nhiên biết bơi lội, lặn hụp trong lúc lớn lên; chưa nghe có đứa nào phải cần chuồn chuồn cắn rún mới biết bơi; mặc dù còn quá xa để đúng phương pháp. Mỗi ngày đi học chúng tôi đều phải bước qua 2 cây cầu lớn và vài cây cầu nhỏ trên đoạn đường đất khoảng 4 cây số. Đoạn đường nầy mùa mưa thì trơn trợt như có thoa mở, đi lại vất vả khỏi nói. Nhưng mùa nắng thì rất tốt hơn. Khoảng giửa đường, đầu cầu Ông Du trước khi về đến nhà là nơi cho một đám nhóc tụi tôi tụ tập bày trò. Nơi đó chúng tôi đã bơi lội, đánh đáo bắn bi, sau khi lội bộ hơn 2 cây số, sau giờ tan trường. Nhiều khi còn mê chơi cho đến khi có người lớn xách roi đi tìm mới chịu tan hàng. Không biết từ lúc nào các dòng sông nầy như đã trở thành máu huyết của từng đứa. Trong những tháng năm đó tuổi thơ của tụi tôi chỉ là hình ảnh của những lần bắt cua, bắt còng, câu cá; là những lúc đánh đáo bắn bi. Tuổi thơ của tụi tôi còn là việc chèo ghe, bơi xuồng và leo cây, hái trái. Tôi sẽ không bao giờ quên được những mảnh ruộng, nhánh sông, khóm cây mà tôi đã đi qua trong các dịp rong chơi trong những năm tháng êm đềm.

Quê tôi được kể là nghèo nhưng chưa bao giờ đói. Giống như phần lớn nhiều gia đình khác, mọi sinh hoạt đời sống của từng gia đình được hình thành một cách tự nhiên cho thích nghi với cái thiên nhiên hai mùa mưa nắng. Phần lớn mọi gia đình thường theo nghề chính lâu đời là làm ruộng nhưng cũng cố gắng sắp xếp để cho người đàn ông chủ gia đình có thêm nghề nữa xa nhà như lên Saigon chạy xích lô hoặc làm phu khuân vác tại các bến sông Bình Đông, Chợ Lớn. Gia đình tôi cũng vậy, nhưng ba tôi chọn nghề đi ghe buôn như một số họ hàng thân thích. Phần đám nhóc nhỏ tụi tôi cũng không có ngoại lệ. Theo tháng năm, tụi tôi càng lúc càng phải giúp đở gia đình nhiều hơn. Ngoài chuyện tới trường chăm chỉ học hành, khi cần thiết đều phải phụ giúp gia đình. Như trường hợp tôi, bắt đầu mùa mưa thì lo phụ giúp má tôi trong công việc ruộng nương. Những việc như cuốc đất, gieo mạ, lo xong mùa cấy, đến cắt cỏ. Khi mùa mưa đã đến hoàn toàn, sau màn cắt cỏ, sẽ qua gia đoạn bón phân; rồi lúa bắt đầu trổ đòng đòng, việc trồng lúa coi như xong. Chỉ chờ lúa chín là bắt đầu mùa gặt vào cuối năm. Nói chung, đối với người lớn mùa mưa là cơ hội của ấm no nhưng tụi nhỏ tôi lại là hình ảnh tiêu biểu của nhiều điều cơ cực. Do vậy tụi tôi thích mùa hè nhiều hơn. Vừa không phải đi học, lại nhàn rổi và có nhiều dịp vui chơi. Khi bắt đầu lớn hơn một chút, điều mà tôi thích nhất là trong 3 tháng hè mỗi năm tôi theo ba tôi đi ghe, có dịp dong ruổi qua nhiều vùng sông nước.

Tôi thường theo ba tôi trong hai, ba tháng hè đi ghe buôn trên các sông rạch miền Nam. Tùy theo diễn biến trong nhu cầu mua bán, sự sắp xếp mỗi năm có thể khác nhau.

Nếu là cần mua bán đồ gốm lu khạp thì lộ trình sẽ là từ quê nhà tới Lái Thiêu Bình Dương qua ngã sông Sài gòn. Bận trở lại sẽ theo sông Cầu Rạch Ông, sông Cần Giuộc, Kinh Nước Mặn, sông Vàm Cỏ, Kinh Chợ Gạo, ra vàm Kỳ Hôn. Từ vàm Kỳ Hôn nếu hướng về thượng nguồn Tiền Giang sẽ qua tỉnh lỵ Mỹ Tho, đi ngang Bình Đức, Kinh Xáng, lên Gạch Gầm, tới chợ Lách đến tận Sa Đéc, Hồng Ngự, Tân Châu. Hoặc theo hạ nguồn ra hướng biển, sẽ xuống Giao Hòa; băng ngang qua sông Ba Lai để đến tỉnh lỵ Bến Tre qua sông Hàm Luông. Trên sông Hàm Luông, nếu ra gần cửa thì tới Ba Tri hoặc đi vào trong thì cuối cùng cũng lại đến chợ Lách.

Nếu cần cát gạch cho xây cất thì phải đến sông Đồng Nai qua Cát Lái, tới Biên Hòa chở về dạo bán cũng tại Miền Tây. Cũng có nhiều khi phải tới Long Điền, Bà Rịa chuyên chở muối về cho các hảng làm nước mắm cũng lại quanh quẩn Mỹ Tho, Bến Tre, hoặc Châu Đốc.

Do vậy không biết từ lúc nào sau năm 10 tuổi tôi đã thành thuộc nằm lòng các vùng  Bình Dương, Biên Hòa, Bà Rịa, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc, Cao Lảnh, Tân Châu, Hồng Ngự.

Thật ra với tôi, cuộc sống sông hồ có quá nhiều điều hấp dẫn. Nó có một chút gì mong manh, bấp bênh, lè phè; nhưng lại mang nhiều nét tùy hứng, không có nhiều gò bó.

Chiếc ghe của gia đình tôi dĩ nhiên chỉ là một loại ghe bầu Cần Đước. Ba tôi đã dành dụm một thời gian dài, phải trải qua mấy năm được mùa mới có đủ vốn mua được chiếc ghe để thêm kế sinh nhai. Lúc đầu là chiếc ghe tương đối nhỏ. Nó có cái mủi đỏ nhọn cong; có cặp mắt với 2 màu trắng đen to, thật linh động mà mấy anh em tôi thường được ba tôi cho sơn phết lại trước các dịp cúng kiến dưới ghe. Ghe loại nhỏ nầy có 3 chèo; một chèo lái đàng sau bên trái, 2 chèo khác ở hai bên đàng mủi. Lúc bắt đầu vào nghề thì tôi thủ một trong hai vị trí chèo trước nầy. Ông anh tôi hoặc một người làm công giử vị trí còn lại. Như tất cả các ghe bầu Cần Đước, loại ghe chỉ chèo tay nầy có cái bánh lái không to, không cao; và hai loại tay lái, một ngắn một dài. Khi vận chuyển, ba tôi thường chèo phía sau đồng thời trách nhiệm luôn tay lái; bằng cách kẹp cái tay lái ngắn dưới háng khoảng giửa 2 chân lấy thế để đẩy tay lái qua phải, qua trái. Nguyên tắc dễ dàng, là đẩy tay lái qua phải thì mủi ghe sẽ hướng qua bên trái; và ngược lại. Những năm trước 1960, khi phương tiện máy móc còn chưa được biết tới, hầu hết các ghe đều phải xử dụng thêm buồm. Ghe bầu Cần Đước dùng buồm chỉ một cánh. Cột buồm, cách làm buồm; cách kéo buồm, điều khiển buồm đều theo phương pháp đơn giản từ thời ông bà truyền lại. Khi chạy buồm người cầm lái có thể dùng tay lái dài, ngồi trên một cái ghế hoặc đứng ngay trên mui ghe để được thoải mái hơn. Sau mấy năm theo ba tôi, dần dà tôi cũng quen thuộc, am hiểu thật nhiều về loại ghe bầu Cần Đước. Dĩ nhiên khi tập tành mọi chuyện phải đi từ dễ đến khó.  Tôi bắt đầu từ mái chèo, tập lái, rồi qua tới xài buồm. Buồm mang đến nhiều thích thú.  Nhưng đáng tiếc nó là loại giản dị chỉ có một buồm.

Từ những năm sau 1960, ghe tàu có phần tân tiến hơn. Cũng như phần lớn nhiều gia đình, ba tôi giờ có thể đổi thành chiếc ghe khác lớn hơn. Đồng thời cũng tậu thêm một chiếc ghe máy nhỏ thường được gọi là ghe ủi để thay thế cánh buồm và các mái chèo với sức người. Dân quê không biết từ đâu cũng nghĩ và tạo được loại ghe ủi như vậy. Gọi là máy ủi nhưng thật ra nó đang làm công việc như của một cái tugboat loại nhỏ, cũng kéo cũng đẩy tùy lúc, đơn giản nhưng không kém phần tiện lợi. Loại ghe lớn hơn nầy có bánh lái cao to, tay lái dài.

(Xem hình với chiếc ghe bầu Cần Đước đang chở đầy hàng có bánh lái cao to, tay lái dài. Cái máy ủi phía sau, có mui nhỏ chổ phòng lái trang bị vô lăng và chổ ngồi cho người lái)

Đó là một chút để có khái niệm về loại ghe bầu Cần Đước.

Ở giai đoạn sơ khai máy móc chưa được phổ biến, để đi từ Cầu Rạch Ông, Sài gòn đến Mỹ Tho (hoặc ngược lại từ Mỹ Tho về Sài gòn), người ta còn nghĩ ra cách tập họp thành một đội ngũ gồm đủ loại ghe lớn nhỏ, rồi dùng 1 chiếc tàu kéo chừng vài trăm mã lực. Hãy hình dung một hoạt cảnh vui vẻ trong đó một chiếc tàu dòng kéo một đoàn ghe từ 7, 8 chục nhiều khi đến cả trăm chiếc lớn nhỏ.  Đoàn tàu ghe nầy di chuyển chậm chạp theo chiều nước ròng (nước xuống) từ Cầu Rạch Ông, qua Cần Giuộc; dừng lại tại một đầu của Kinh Nước Mặn chờ nước lớn (nước lên) mới tà tà đi theo sông Vàm Cỏ, qua Kinh Chợ Gạo, Bình Phục Nhứt, tới vàm Kỳ Hôn. Rồi cuối cùng giải tán tại Mỹ Tho ngang cù lao Rồng. Kiểu cách nầy tuy chậm chạp nhưng nói lên cái phong thái vô cùng lè phè, nhàn nhã của đời sống sông rạch miền Nam. Tùy theo điều kiện của dòng nước trên lộ trình, nhiều khi phải mất cả vài ngày mới đi được từ Sài gòn tới Mỹ Tho. Điều tốt là bà con trên mấy cái ghe không phải làm gì. Có thể tụ lại thành nhóm chè chén, hát hò, đánh cờ tướng, ca vọng cổ …

Kế tiếp, những năm khi việc dùng máy móc được bắt đầu phổ biến thì những người quen biết cũng có thể tụ tập lại 2, 3 chiếc ghe rồi dùng một máy ủi. Chỉ cần một người thay phiên lái. Cũng là để có dịp gặp gở vui chơi thoải mái. (Xem hình bên)

Theo tôi, dù là di chuyển ở miền Nam bằng loại ghe nào, phương cách nào, cảnh vật ghi nhận được ở hai bên bờ đều là điều khó mà kiếm được ở bất cứ nơi đâu. Hai bên bờ các dòng sông thường có rất nhiều loại cây mọc lên do thiên nhiên; nhiều nhất là dừa nước, cây đước, cây bần. …. Những đám cây nầy lúc nào cũng mang đến cái vẻ xanh tươi mát mẻ của đất trời.

Ban đêm nếu bất chợt muốn dừng lại tại một khúc sông nào đó, các ghe thường thả neo gần một bên bờ hay giản dị hơn là cứ buộc vào một nhánh bần nhánh mắm đang đưa ra sông.  Trong những đêm như vậy mọi người sẽ có dịp để biết cái gì là lập lòe đom đóm. Hồi nhỏ tôi đã từng có lần tò mò rón rén tới đứng sát cạnh các nhánh mắm nhánh bần để được tận mắt nhìn từng con, từng nhóm đom đóm. Lúc đó tôi khám phá ra rằng bọn chúng lập lòe, chớp tắt nhưng theo một nhịp độ hẳn hoi. Tôi cũng tìm ra là thỉnh thoảng nếu có một con có lẽ là trật nhịp, chính nó sẽ phải bay đi nơi khác. Bây giờ khi nhớ tới điều đó tôi lại không biết có đúng hay không.

Còn ban ngày trong cái không gian êm ả thì tôi lại hay chú tâm tới tiếng kêu của con bìm bịp. Bìm bịp là một loại chim ngày xưa tôi từng nghe đề cập tới nhưng chưa bao giờ có dịp nhìn tận mắt. Nhưng tiếng kêu của nó là báo hiệu nước lớn (nước lên). Thông thường tiếng kêu thường bắt đầu âm thanh khô khốc rất nhanh như: cộc, cộc, cộc , …; rồi liền tiếp theo: bịp, .., bịp, .., bịp, …Thời xưa khi đang canh nước lớn nước ròng (lên xuống), tiếng báo hiệu của nó được coi là khá chính xác và đáng tin cậy. Như đang nằm ngủ trưa chờ nước lớn bỗng nghe tiếng của chim bìm bịp là phải giật mình bật dậy; dù có mệt te tua cũng phải chuẩn bị lên đường cho kịp con nước. Hãy nghe câu than thở:

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê

Hai câu ca dao nói lên sự uể oải, lười biếng, … nhưng vẫn có một chút gì đó vợ đang âu yếm an ủi chồng.

Nếu đã nói về con bìm bịp, không thể không nhắc tới lục bình.  Trên sông rạch miền Nam, lục bình có mặt tại thật nhiều nơi.  Tuy nhiên tôi không quan tâm mấy đến loại lục bình trong các hồ ao, trong các nơi nước đọng dơ bẩn thành phố. Tôi chỉ muốn nói đến loại lục bình hững hờ, theo nước ròng trôi ra, nước lớn trôi vô trên các mặt sông.  Lục bình là biểu tượng cho những gì lè phè và lập đi lập lại.

Nhớ hoài lúc nhỏ bọn anh em tôi thường hay bị mắng, tụi mày “ăn như xáng xúc, làm như lục bình trôi”.

Ban đêm nếu bất chợt muốn dừng lại tại một khúc sông nào đó, các ghe thường thả neo gần một bên bờ hay giản dị hơn là cứ buộc vào một nhánh bần nhánh mắm đang đưa ra sông.  Trong những đêm như vậy mọi người sẽ có dịp để biết cái gì là lập lòe đom đóm. Hồi nhỏ tôi đã từng có lần tò mò rón rén tới đứng sát cạnh các nhánh mắm nhánh bần để được tận mắt nhìn từng con, từng nhóm đom đóm. Lúc đó tôi khám phá ra rằng bọn chúng lập lòe, chớp tắt nhưng theo một nhịp độ hẳn hoi. Tôi cũng tìm ra là thỉnh thoảng nếu có một con có lẽ là trật nhịp, chính nó sẽ phải bay đi nơi khác. Bây giờ khi nhớ tới điều đó tôi lại không biết có đúng hay không.

Còn ban ngày trong cái không gian êm ả thì tôi lại hay chú tâm tới tiếng kêu của con bìm bịp. Bìm bịp là một loại chim ngày xưa tôi từng nghe đề cập tới nhưng chưa bao giờ có dịp nhìn tận mắt. Nhưng tiếng kêu của nó là báo hiệu nước lớn (nước lên). Thông thường tiếng kêu thường bắt đầu âm thanh khô khốc rất nhanh như: cộc, cộc, cộc , …; rồi liền tiếp theo: bịp, .., bịp, .., bịp, …Thời xưa khi đang canh nước lớn nước ròng (lên xuống), tiếng báo hiệu của nó được coi là khá chính xác và đáng tin cậy. Như đang nằm ngủ trưa chờ nước lớn bỗng nghe tiếng của chim bìm bịp là phải giật mình bật dậy; dù có mệt te tua cũng phải chuẩn bị lên đường cho kịp con nước. Hãy nghe câu than thở:

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê

Hai câu ca dao nói lên sự uể oải, lười biếng, … nhưng vẫn có một chút gì đó vợ đang âu yếm an ủi chồng.

Nếu đã nói về con bìm bịp, không thể không nhắc tới lục bình.  Trên sông rạch miền Nam, lục bình có mặt tại thật nhiều nơi.  Tuy nhiên tôi không quan tâm mấy đến loại lục bình trong các hồ ao, trong các nơi nước đọng dơ bẩn thành phố. Tôi chỉ muốn nói đến loại lục bình hững hờ, theo nước ròng trôi ra, nước lớn trôi vô trên các mặt sông.  Lục bình là biểu tượng cho những gì lè phè và lập đi lập lại.

Nhớ hoài lúc nhỏ bọn anh em tôi thường hay bị mắng, tụi mày “ăn như xáng xúc, làm như lục bình trôi”.

Nhiệm vụ của giang đoàn xung phong là tuần tiểu và yểm trợ các đơn vị bộ binh 2 bên bờ Lòng Tàu và Soài Rạp. Công việc thường ngày là rải quân đóng chốt dọc 2 bên sông Lòng Tàu và Soài Rạp; phần lớn chính là bên sông Lòng Tàu. Tiểu Đoàn ĐPQ 359 Đặc Khu Rừng Sát của Thiếu Tá Kham có 4 đại đội ĐPQ 1, 2, 3, 4 địa bàn hoạt động từ Phước Khánh (phía bên kia của căn cứ hải quân Nhà Bè) đến Cần Giờ bằng Lòng Tàu; bên sông Soài Rạp thì rất ít có vụ đổ quân đóng chốt; chỉ thỉnh thoảng đi theo hộ tống tàu bè từ Nhà Bè về Bến Lức, Tân An, hoặc Kinh Chợ Gạo. Loại công tác hộ tống thường được chấm dứt và bàn giao tại đồn Rạch Cát. Tuy nhiên, cũng có đôi khi tôi theo đoàn hộ tống đến tận Bến Lức.

Nói cho cùng thì sau mấy năm phục vụ với cái môi trường mẫu mực hơn ở hạm đội, tôi lại thấy mình rất dễ thích nghi hơn với đời sống giang đỉnh. Cuộc sống giang đỉnh khá nhàn rổi và ít bị câu thúc. Một lần nhận lệnh công tác xuống vùng thì ít nhất là từ 1 tuần cho tới cả tháng. Trong thời gian công tác, khi cần các giang đỉnh có thể thay phiên về căn cứ để lo vấn đề tiếp liệu hoặc lương bổng. SQTT theo nguyên tắc lúc nào cũng phải hiện diện tại vùng. Dĩ nhiên nếu muốn dù về Saigon chơi nửa hoặc cả ngày thì vẫn có thể sắp xếp đi theo các giang đỉnh nầy.

https://dongsongcu.files.wordpress.com/2017/07/6cc4e-25c4259025e125ba25b7c2bkhu2br25e125bb25abng2bs25c325a1t.jpg?w=485&h=626

(Một số ghi chú trong sơ đồ chỉ liên quan đến các tiểu đoạn sau)

Sau khi xuống vùng không lâu, tôi chợt khám phá ra mình không xa lạ bao nhiêu đối với nhiều nơi của Đặc Khu Rừng Sát. Thì ra nhiều năm về trước tôi đã từng theo ba tôi qua lại một số nơi của vùng nầy. Những địa danh như Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp (An Thịt), sông Vàm Sát, từng khúc sông, hàng đáy, những đám đước, … với tôi thật ra vô cùng quen thuộc.

Từ Nhà Bè theo sông Soài Rạp sẽ gặp quận lỵ Quảng Xuyên bên trái.  Ra thêm một đoạn nữa, sông Soài Rạp sẽ là ranh giới của ĐKRS và tỉnh Long An. Bắt đầu từ đó bên phải sông là tỉnh Long An. Công tác giử an ninh cho lộ trình nầy tương đối nhẹ nhàng.

Theo sông Lòng Tàu, từ ngã ba Nhà Bè ra tới Ngã Ba Đồng Tranh thì bên trái sông thuộc tỉnh Biên Hòa. Từ Ngã Ba Đồng Tranh, nếu tiếp tục theo sông Lòng Tàu ra biển thì lộ trình sẽ xuyên qua giửa ĐKRS. Nếu rẽ qua sông Đồng Tranh thì sông Đồng Tranh trở thành ranh giới của 2 tỉnh Biên Hòa, Phước Tuy với ĐKRS. VC đặt áp lực trên phần lảnh thổ nầy nhiều hơn. Nơi giáp ranh của ĐKRS và 2 tỉnh Biên Hòa, Phước Tuy là địa bàn hoạt động của Đoàn 10 Đặc Công VC. Một khi tìm được sơ hở trong vấn đề phòng thủ, Đoàn 10 có thể với tay tới kho đạn Thành Tuy Hạ, CC/Cát Lái, hoặc các tàu thuyền đi lại trên sông Lòng Tàu.

Ngoài thời gian rải quân đóng chốt buổi sáng và bốc quân buổi chiều, phần lớn thời gian là thảnh thơi, tổ chức lai rai trên các giang đỉnh không phải là không có thể. Cá, tôm, bia, nước đá nhiều khi được biếu tặng từ các ghé đánh cá. Sò, ốc len, cua lột, chim chép, rượu đế, … có thể tìm mua từ các ghe địa phương hoặc trong các vựa tại địa phương như Tam Thôn Hiệp hoặc Tân Thạnh. Thỉnh thoảng lính ĐPQ săn được heo rừng, kỳ đà trong khi vào bìa rừng đóng chốt cũng có thể đem biếu tặng. Nhiều khi còn được sự mời mọc của các sĩ quan ĐĐT của TĐ/359ĐPQ.

Cứ vài ba tháng ĐKRS lại tổ chức hành quân. Tham dự dĩ nhiên gồm có TĐ359/ĐPQ của TT Kham, GĐ22XP, 27XP, 57TT, toán Hải Kích của Cảnh Nhái (K20). Thông thường trước giờ xuất quân các LCM6 đã bốc quân tại các ĐĐ1, 2, 3, 4 /TĐ359.  CHT hoặc CHP thường có mặt trên chiếc 6007 của Hồng. Sau khi Hồng rời đi, chức vụ thuyền trưởng được giao cho người khác. Tôi thì trách nhiệm chiếc 6514 cho gần tới ngày cuối. Nhiều khi tôi được tăng phái thêm 1 sĩ quan đàn em như Nghiệp hoặc Ngà (cùng K24). Những dịp có đàn em K24 như vậy tôi thích chui vào thủ khẩu 40 ly Bofors, để đàn em nghe máy và nhận lệnh từ bộ chỉ huy hành quân. Muốn ngồi bên trong khẩu 40 ly,tôi đùa với đám nhân viên là vì ấm hơn đở lạnh cẳng. Tùy theo sắp xếp, chiếc 6514, RPC, FOM, cũng có thể mang theo một tiểu đội trinh sát ĐPQ. Theo đội hình thì toán Hải Kích của Cảnh Nhái sẽ vào trước trấn ở một phía nào đó. Chiếc 6514 của tôi sẽ vào tham gia dọn bãi bằng khẩu 40 ly, súng cối 81, hoặc MK19. Mọi chuyện đều êm đẹp là lúc các LCM6 sẽ bắt đầu ủi bãi đổ quân.

Tôi vẫn còn nhớ rất nhiều điều.

Trong các vũ khí trên chiếc 6514, tôi thích nhất là tự mình dùng khẩu 40 ly. Nó rất nhanh khi xử dụng liên thanh.  Nhưng tôi lại thích nhịp từng phát hơn. Bắn từng phát chính xác, dễ điều chỉnh theo mục tiêu trên bờ, dễ tiếp đạn và nhất là đở bị kẹt đạn. Khi trực xạ dọn bãi bằng khẩu 40 ly tôi có thể thấy cây rừng bị cắt đứt, ngã rạp trên mặt đất, một cách rất hữu hiệu. Tôi không thích ụ súng cối 81 ở hầm chính giửa tàu; có một lần TS/TP Hòa bỏ trái đạn vô nòng, nó tọt xuống rồi im re; báo hại Hòa phải gở rời cái ống phóng, khéo léo nghiêng trút trái đạn ra, cầm lấy, rồi thả nhẹ xuống sông. Tôi cũng không thích đụng tới khẩu MK19 ở trên sàn chính của tàu, đầy bất trắc. Một lần tôi thấy cũng TS Hòa hướng cây MK19 lên bờ để khai hỏa dọn bãi. Sau khi nhấn một cái, liền có hàng loạt bum bùm bum phía trong bìa rừng. Rồi tự nhiên lại có một đầu đạn nổi hứng không chịu bay ra xa hướng vô mục tiêu, mà lại hạ cánh xuống sàn tàu sát gần chân của xạ thủ. Tôi cũng ớn cái hầm đầu đạn 81 ở giửa tàu. Các giang đỉnh GĐ XP không có giàn chống B40. Thử nghĩ nếu một trái B40 dính vào hầm đạn 81 thì lên bàn thờ sớm.

tien-phong-dinh-giang-doan-xung-phong

Tôi còn nhớ mấy lần không êm đẹp khi đổ quân. Một lần vào ban ngày, buổi sáng, tại Tắc Ông Kèo, gần Ngã Ba Đồng Tranh. Chỉ là vào lúc dọn bãi, VC lại phản pháo ngay bằng B40 xen lẩn thượng liên. Chiếc 6514 của tôi đang ở ngay vị trí đầu và đang khai hỏa.  Lúc đó TS/VC Bé đang ở tay lái, tôi đang ngồi trên ghế bên phải của TS/VC Bé, sát bên tôi là khẩu đại liên 30. Khó mà tưởng tượng, khó mà tin là từ chổ ngồi đó tôi lại có thể nhìn thấy bóng đen, mặc dù rất mờ, của mấy trái B40 bay sát hông tàu. Lúc đầu tôi không nghĩ cái bóng là của B40. Một vài trái B40 sau khi chạm nước còn nhảy lên như cá giởn mặt sông. Không có trái B40 nào trúng chiếc 6514 của tôi. Nhưng lại có trái trúng ngay hầm máy, phía dưới ghế ngồi lái của chiếc FOM đang chạy sát bên hông chiếc 6514. Lần đó Th/U Nguyên (K24) của 22XP bị thương, phỏng nặng, nhưng không chết. Sau đó Nguyên được đưa lên chiếc monitor của tôi, và PBR của 57TT chuyển lên bờ, sau cùng được trực thăng đưa đi.

Một lần hành quân khác, theo kế hoạch đội hình bắt đầu từ xã Tam Thôn Hiệp theo một nhánh sông nhỏ, dự định xuất kỳ bất ý xông ra, tiến thẳng qua bờ bên kia của sông Đồng Tranh. Theo lệnh hành quân, việc làm ăn bắt đầu lúc 4, 5 giờ sáng sớm. Nhưng có lẽ vì ghi nhận sai giờ giấc thủy triều một chút,nên mặc dù một số LCM6 đã hoàn thành nhiệm vụ, vài chiếc khác hơi chậm chạp chưa ra khỏi đầu ngọn sông nhỏ. Ai cũng biết thủy triều vùng nầy lên xuống rất nhanh. Cựa quậy một chút thì trời cũng đã sáng, các con cá chưa kịp đổ quân nầy bắt đầu nằm phơi bụng luôn trên bãi sình. Báo hại toán ĐPQ phải rời giang đỉnh, bò lên bìa rừng làm công tác phòng thủ. Hôm đó chắc VC ăn chay, chỉ tặng vài quả súng cối vô mấy chiếc đang mắc cạn rồi thôi, không gây thiệt hại gì đáng kể.

Một lần khác trên sông Thị Vải, phía tỉnh Phước Tuy. Lúc chuẩn bị đổ quân là khoảng 2 hoặc 3 giờ sáng. Dọn bãi xong, chiếc 6514 của tôi đang nằm yểm trợ giửa dòng, mấy LCM6 bắt đầu ủi vào. Tức khắc ngay lúc ấy, B40 đồng loạt rộ lên sát gần bãi ủi. Từ giửa sông tôi bổng như thấy đầy trời pháo bông. Quá may.  Nếu có trái B40 nào bắn xuyên được qua cửa đổ bộ của các LCM6 đang chở đầy quân thì cả đám lảnh đủ. Tuy nhiên vẫn không phải hoàn toàn may mắn, một trái đã đi dọc theo sát hông một chiếc LCM6 mang theo xuống sông một HSQ/GĐ22XP. Anh HSQ đã mất đi và vì quá sâu trong vùng hoạt động của Đoàn 10 VC, sau đó không kiếm được xác.

Rất có thể, Hùng Sùi (K21) cũng có mặt trong các cuộc hành quân nầy.

Còn có một chuyện nữa, không dính gì tới vấn đề hành quân, đánh đấm. Nhưng lại có chi tiết liên quan nhiều đến chuyện của vợ chồng tôi và đồng thời có thể có ảnh hưởng đến sự nghiệp của CHT Hiền. Lúc đó và vào giửa tháng 7 năm 1974. Hôm đó tôi rời vùng sau mấy tuần công tác.  Hôm đó trở về đơn vị trong tư thế sẵn sàng để nhận lảnh một nhiệm vụ khác ngàn lần trọng đại hơn. Tôi về đi phép lấy vợ.  Giấy nghỉ phép 3 tuần đã được sếp lớn phê chuẩn từ trước. Một vài sĩ quan giang đỉnh cũng bày đặt theo về, lấy lý do là để đưa tiển.  Tất cả cùng quá giang về trên một chiếc LCM6. Về đến bến. Tại phía thượng dòng của cầu tàu, chiếc LCM6 đưa đít cặp và buộc vào đầu ngoài nhất của cái ponton.  Sau khi tôi ghé vào doanh trại làm một số thủ tục cần thiết, cả đám giang đỉnh gồm sĩ quan và đoàn viên kéo ra một cái quán ngay gần trước cổng vào giang đoàn, bắt đầu lai rai. Phải uống tới bến vì đa số trong đám chiều nay đã phải quay lại vùng. Và nhất là chút nữa đây tôi lại bắt đầu có được 3 tuần phép quan trọng nhất trong đời.  Không biết bao lâu sau, một thủy thủ trong căn cứ hớt hơ hớt hãi chạy ra cho biết:

“Mấy ông thầy ơi, chiếc LCM6 của mấy ông dùng về căn cứ đang sắp bị chìm …. ”

Trung van dinh LCM-6 thuoc LDTG.jpg

Cứ như vậy cả đám phải tan hàng cùng chạy ùa vào cầu tàu. Khi vào đến đó tôi thấy CHT Hiền ngồi trên chiếc RPC7001 đang ở ngay phía trước ngã ba. Ngay trước mũi chiếc PRC không xa là chiếc LCM6, lúc đó chỉ còn thấy một chút chổ ngồi lái phía sau và một phần của cánh cửa đổ bộ phía trước. CHT có lẽ đang điều động mấy thằng em thủy thủ để cột một cái phao đánh dấu vị trí của chiếc tàu sắp chìm.  Có như vậy thì việc trục vớt sẽ dễ dàng hơn sau nầy. Nhưng có thể việc xảy ra nhanh quá, cuối cùng việc nầy không thành và chiếc LCM6 từ từ biến mất dưới làn nước đục ngầu ngay mặt sông phía trước căn cứ Hải Quân Nhà Bè. Không biết ai đó trong đám sĩ quan giang đỉnh, Liêm (K20) hay Nghiệp, Ngà (K24) cũng có lẽ thấy không êm, quay qua tôi:

– Đã như thế nầy, đã cầm phép trong tay, hãy mau mau dông đi. Chuyện gì hãy tính sau.

Cứ thế mà tôi dọt tuốt.

Chiều ngày hôm sau, lúc tôi còn ở nhà Sài gòn, Nghiệp ghé qua rên rỉ:

– Ngày hôm qua, lúc tụi nó cặp cầu có lẽ tại cột dây ẩu quá. Mũi thượng dòng, đưa đít vô cầu, có lẽ cột dây căng không đều. Nước ròng hôm qua chảy xuống mạnh quá, tàu nghiêng một bên rồi bị kẹt, vô nước nhiều. Rốt cuộc đứt dây trôi đi. Quá xui là ngày hôm qua CHT không kịp đánh dấu thành ra giờ nầy không biết nó đang yên nghỉ ở chổ nào, mặc dù chắc cũng gần đâu đó. Thằng thuyền trưởng chắc sẽ lảnh củ. Sáng nay trong buổi họp, CHT cho biết sẽ đình chỉ hết mọi công tác và phép tắc cho tới tìm được chiếc tàu. Chuyện nầy lớn nha, nếu phải báo cáo tổn thất, ông chắc bị phiền không ít.  Đàn anh có phép lại là phép cưới vợ, thôi cứ an tâm vui vẻ.  Chuyện nầy có tụi tui lo.

Ngày đám cưới của tôi, một ngày tháng bảy. Tổ chức tại Cần Đước. Cả đám sĩ quan giang đỉnh không ai có mặt. Chỉ có Tr/U Chung (K4, OCS), lúc đó là sĩ quan trên căn cứ, đại diện GĐ đến dự. Cùng đi với Chung là cô em gái của Chung. Chung cho biết:

– Mầy số tốt, không có mặt tại giang đoàn lúc nầy. Vẫn chưa tìm ra chiếc LCM6, CHT đang nổi khùng. Các sĩ quan giang đỉnh không ai đến dự đám cưới được. Tất cả bị quây như dế, đang được chia thành phân đoàn;  mỗi sĩ quan được lệnh phải ngồi trên một giang đỉnh trực máy 24/24, ngày đêm thay phiên rà tới rà lui ngay tại ngã ba sông Nhà Bè. Ngoài ra, CHT còn nhờ sự trợ giúp từ bạn bè CHT các giang đoàn như, Trục Lôi, Trục Vớt, đặc biệt là người nhái Trục Vớt.

Đám cưới xong, hai vợ chồng tôi rong chơi Đà Lạt rồi về. Thoát cái, hôm sau đã là ngày trở về đơn vị. Chiều hôm đó nghe lời nhắn, Nghiệp và Ngà (cùng K24) ghé qua nhà cập nhật tin tức. Nhìn Nghiệp, Ngà mà tôi thấy tức cười. Cả hai lúc nầy cả người đều hốc hác, đen thui.  Tôi đã đoán ra nhưng vẫn làm bộ dò hỏi, châm chọc. Hai người cho biết: “… tình hình vẫn như củ. CHT quây tụi nầy te tua còn hơn bị brimade, không thở nổi. Rồi có lẽ do bực bội quá, hai thằng đàn em cằn nhằn: thật là cá lớn nuốt cá bé. (CHT Hiền – K12, Song Ngư 1, cá lớn; Nghiệp & Ngà – K24, Song Ngư 2, cá bé). Ngày mai vô, đàn anh cũng nên chuẩn bị tâm tư…”.

Ngày trở về trình diện đơn vị.  Gặp tôi, sau màn tay bắt mặt mừng chiếu lệ, CHP Hà cho biết:

“Sướng nha, mấy tuần nay anh hưởng trăng mật huy hoàng, sung sướng quá, làm sao biết đám tụi nầy ở đây nhọc nhằn đến như thế nào. Cho anh hưởng thêm hết ngày hôm nay. Bắt đầu ngày mai anh cũng tham gia công việc tìm kiếm như tụi tôi, …”

Rồi CHP đi đâu đó, một lúc sau quay lại:

– Mấy ngày trước CHT mới mời được một thầy (sư) tới để cúng tế cầu may. Hôm nay thầy tới. Việc cúng tế sẽ diễn ra trên chiếc 6514 của anh. Anh cũng nên có mặt.

Sau đó chiếc 6514 rời bến chạy ra giửa dòng tại ngã ba “Ai về Gia Định Đồng Nai thì về”.  Có nhà sư lo phần cúng tế trên đó, trước một bàn thờ Phật, đầy đủ nhang khói hoa quả. Cũng có CHP Hà thay CHT ra giửa sông, cùng tôi và tất cả nhân viên khác. Chiếc 6514 chạy lòng vòng. Bắt đầu là nhà sư với tiếng kinh, tiếng mỏ; thỉnh thoảng lại đốt giấy tiền, vàng bạc thả xuống sông. Rồi CHP bước vào đốt nhang cúng vái. Phần tôi, tôi chỉ đứng nhìn từ xa xa. Tôi thật tâm thấy không hào hứng nhiều với mấy chuyện nầy. Vả lại tôi đang nghĩ đến việc sẽ bắt đầu nhọc nhằn kể từ ngày hôm sau; và nhất là vẫn còn thấy tiếc nuối mấy tuần phép ngắn ngủi vừa qua.

Sau khi chấm dứt phần của ông, CHP thình lình quay sang tôi, nói:

– Anh là thuyền trưởng chiếc nầy. Trong đơn vị tụi nó đồn anh mát tay lắm. Cũng ra đây cúng vái một chút đi.

Trước mặt nhân viên, mặc dù không mấy tin những việc như thế nầy, tôi cũng thấy không thể từ chối. Tôi đành bước lên đốt nhang và cúi đầu khấn vái theo bài bản. Vậy mà chuyện lạ đã xảy ra. Trong khi tôi còn đang đứng đó trước bàn cúng, từ trong cái máy truyền tin đã có tiếng reo: “Dính rồi, … dính rồi, …”. Ngay lúc đó tôi ngở ngàng, còn không biết chuyện gì xảy ra thì CHP lắc đầu giải thích:

– Là có chiếc nào đó quanh đây, tụi nó rà dính vật gì đó, … Nhưng mấy tuần nay vẫn cứ rà dính hoài. Ngày nào cũng vậy, không dính cái nầy thì cũng là cái khác.  Đủ thứ trên đời đang nằm chờ dính dưới đáy sông. Phải chờ người nhái xuống dưới mới biết được.

Vậy mà lần nầy dính thiệt. Một lúc không lâu sau người nhái xác nhận sự thật, một giang đỉnh đàng kia đã tìm được chiếc LCM6 chìm.  Chiếc 6514 quay về bến. CHP kéo cả nhóm giang đỉnh xuống Câu Lạc Bộ giang đoàn kêu cả đống bia để ăn mừng. Lúc đó CHP nói với tôi:

–  Anh mát tay thiệt, chỉ cần cúng vái một chút xíu mà linh ứng liền. Hôm nay CHT không có mặt trong đơn vị nhưng tôi đã tường trình mọi việc. CHT đã đồng ý thưởng cho anh thêm 3 ngày phép đặc biệt.

Thế là tôi lại phơi phới ra về. Ngày hôm sau đã không phải bị phơi nắng phơi khô theo giang đỉnh rà kiếm nữa mà lại còn được thêm 3 ngày phép.  Ai lại không thống khoái !!!

Sau nầy tôi mới nghe được nhiều chi tiết hơn. Việc dò tìm khó như vậy là do chiếc LCM6 sau khi chìm xuống tới đáy sông lại nằm vào một vị thế gần như lật úp đưa cái lườn lên, chỉ còn lộ ra một phần rất nhỏ của cây cột căng vải che nắng mưa ở phòng lái. Ngày hôm đó cái móc của dụng cụ rà may mà lại cắn ngay vô cây cột. Nếu không thì không biết còn gian nan đến bao giờ.

Những chuyện như vậy đã làm cho đám nhân viên trên 6514 và cả đám giang đỉnh càng cho rằng tôi thuộc dạng mát tay. Phần tôi, tôi không tin vào việc mình có mát tay hay không.  Trong đời, tất cả chỉ là sự tình cờ.

Trong thời gian phục vụ tại ĐKRS, ngoài Khiết, Hồng, và Tồn cùng đơn vị, tôi đã gặp nhiều K21 khác: PC Hùng Sùi (22XP); KN Thành, NL Thọ, TH Tài (57TT); HV Dự (91TL).

Có những sĩ quan giang đỉnh 27XP khác mà lúc nào tôi cũng thấy rất gần gủi như Liêm (K20), Công & Minh (K22), Nghiệp & Ngà (K24). Gần gủi đủ để cùng nhau chia xẻ thật nhiều vui buồn, những lúc trong vùng công tác hay những khi lai rai nơi này chổ nọ.

Mặc dù là thuyền trưởng bất đắc dĩ của chiếc 6514, tôi cũng có một ít thuộc cấp rất dễ thương, thật gần gủi, gồm có: ThS/VC Tín, TrS1/VC Bé, TrS/TP Hòa, TrS1/CK Quốc, HS/VC Phúc, HS1/TP Nghiệp, HS/TV Châu.

Từ từ rồi tôi cảm thấy mình hoàn toàn thích nghi với cuộc sống giang đỉnh. Phần lớn thời gian của tôi là ở ngoài vùng. Hết lệnh công tác nầy, lại tới lệnh công tác khác. Những ngày về căn cứ, gần phân nửa thời gian trong giờ làm việc là la cà ở các cà phê, quán nhậu quanh Nhà Bè. Hết giờ làm việc thì dọt về Sài gòn, tụi tôi đám cưới mới vừa hơn nửa năm.

Rồi thời gian tiếp tục lặng lẽ trôi,..và tôi đã qua hết năm thứ hai tại GĐ27XP.  Bấy giờ đã là cuối tháng 3, 1975.

PV Tố – M6514

http://taiton2049.blogspot.com.au/search/label/Ch%C3%BAt%20T%C3%ACnh%20S%C3%B4ng%20N%C6%B0%E1%BB%9Bc

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s