Chút tình sông nước: Ngày 30 tháng tư của tôi

https://i2.wp.com/www.nuiansongtra.com/photos/photos/8/6678.jpgHUY HIEU GIANG DOAN 22 XUNG PHONG .Phu hieu GD27XP. TVQ Collection
Hình ảnh người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã được gắn kết với Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, được thành lập vào năm 1955. Kể từ đó, miền Nam tự do đã được thế giới biết đến, là một Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa; và Thủ Đô Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông.

Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên, là người Chiến Sĩ Bảo An, mà người dân thôn quê thường gọi là Chiến Sĩ Cộng Hòa, hoặc Lính Cộng Hòa, sau này, Lực lượng Bảo An Đoàn đã trở thành Địa Phương Quân.

Ngày ấy, người Chiến Sĩ Bảo An, ngoài nghĩa vụ cầm súng để bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ Bảo An đã từng đi đến những thôn làng xa xôi, để giúp đỡ các địa phương xây dựng hành chánh, để giải thích cho dân chúng biết đến một Chính Thể mới, vừa được khai sinh tại miền Nam: Chính Thể Cộng Hòa.
https://i0.wp.com/vnafmamn.com/VIETNAM%20WAR/ARVN_portrait45.jpg
Đồng thời, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên ấy, còn súng trên vai, tay đốn tre rừng, để bắc những chiếc cầu tre, trên những con suối ở tận hương thôn, để nối đôi bờ, nối những cánh đồng lúa, những nương dâu, để những ngày mưa lũ, người dân quê đi làm công việc nông tang, không còn phải lội giữa giòng nước xoáy hiểm nguy; và để cho những nam nữ Thanh Niên Cộng Hòa giữa đôi bờ dễ dàng gặp gỡ, để cùng trao đổi với nhau về Thể Chế Cộng Hòa vừa mới được khai sáng tại miền Nam. Đặc biệt, là những hình ảnh ở hương thôn, giữa cảnh thanh bình – tự do – no ấm bên lũy tre làng, với những đêm về, dưới ánh trăng lành tỏa sáng trên khắp nẻo đường quê, luôn luôn rộn rã những tiếng cười, tiếng sáo trúc và tiếng đàn Mandoline, hòa cùng tiếng hát ngân vang, đón chào đất nước đã được hồi sinh sau bao cơn binh lửa, với bài ca:

Dựng Một Mùa Hoa:

Chào bình minh hoa ban mai lả lơi
Nhạc dịu êm vang dư âm ngàn nơi
Bên khóm tre tươi, chim hót hoa cười trong nắng yêu đời
Bầy trẻ thơ yêu quê hương đầy vơi
Đồng ruộng tươi vươn lên bao nguồn mới
Sóng lúa chơi vơi, xanh ngát chân trời, dịu màu đẹp tươi
Đây phương Nam, bao la dịu dàng, say sưa câu hoan ca nhịp nhàng
Duyên xưa còn thắm, chung xây cuộc sống, chan chứa mênh mông
Tình miền Nam, như hoa Lan đầy hương
Tìm tự do, gió chim tung bay ngàn hướng
Đây đó vui ca, trong nắng chan hòa
Dựng Một Mùa Hoa.

Đầu năm 1956, khi sắp sửa đến ngày bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, vào ngày 4-3-1956; sau đó, Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa, do Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết ngày 20-10-1956, đã được ban hành ngày 26-10-1956, với đầy đủ Tam quyền Phân lập: Lập Pháp – Hành Pháp và Tư Pháp, thì người Chiến Sĩ Bảo An lại đến với người dân quê, bằng những câu ca dao, để cho người dân ý thức được cuộc bầu cử sắp tới như sau:

“Dù ai buôn bán nơi đâu
Tháng ba, mồng bốn, rủ nhau đi bầu.
Dù ai mua bán trăm bề
Tháng ba, mồng bốn, nhớ về tham gia.
Bầu cử Quốc Hội nước nhà
Cộng Đồng – Nhân Vị – Quốc Gia hùng cường”.

Song nói đến người Chiến Sĩ Bảo An, mà không nhắc đến người Chiến Sĩ Dân Vệ, là một điều vô cùng thiếu sót. Bởi, Lực lượng Dân Vệ, là một Lực lượng vũ trang, trực tiếp đối đầu với “Lực lượng Du Kích” của Việt cộng, mà khởi đầu là “Du Kích Ba Tơ”, và là tiền thân của “Lực lượng vũ trang Liên khu 5” do tướng Việt cộng Nguyễn Chánh cầm đầu. Sau này, “lực lượng du kích” trực tiếp cầm súng đối đầu với dân quân của miền Nam, tại những vùng rừng núi xa xôi.

– Người Chiến Sĩ Dân Vệ, mà sau này đã trở thành Lực Lượng Nghĩa Quân. Ngày ấy, hàng đêm người Chiến Sĩ Dân Vệ luôn luôn tay ghì khẩu súng Mas-36, vai mang những quả lựu đạn chày, đi tuần – canh ở những trạm gác, nơi có những chiếc cổng của bờ rào Ấp Chiến Lược, để bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, vì bọn Du Kích thường tìm cách lẻn xuống các làng thôn để cướp gạo, muối, thực phẩm của đồng bào, đem lên rừng để sống. Đó là những Chiến Sĩ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đã góp máu xương trong công cuộc bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào ruột thịt, và họ đã chết trong âm thầm, không bia đá. Thế rồi, kể từ sau ngày Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, thì các Chiến Sĩ Bảo An và Chiến Sĩ Dân Vệ, đã bị người ta cố tình đưa vào quên lãng!!!
https://i0.wp.com/vnafmamn.com/VIETNAM%20WAR/ARVN_portrait7.jpg
Thế nhân thường nói: Mất rồi mới biết quý, mới biết tiếc. Giờ đây, sau khi nước đã mất, nhà đã tan; qua những cảnh đời tang thương, dâu bể, khi ngược dòng thời gian trở về với một thưở thanh bình, mà không bao giờ còn tìm thấy lại, dù chỉ một lần nào nữa, thì chắc đa số những người con dân nước Việt sẽ thấy quý, thấy tiếc Vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã bị giết chết vào ngày 1-11-1963, chỉ vì Người đã kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đất nước. Chính ngày này, nước Việt Nam Cộng Hòa đã đứng trên bờ của vực thẳm, để rồi cho đến ngày 30-4-1975, thì cả nền móng của nước Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn sụp đổ, rơi ngay xuống tận đáy vực sâu, mà do ngoại nhân với sự tiếp tay của những kẻ vong-nô,vô cùng tàn độc, dã man đã đào sẵn, để vùi chôn một công trình vĩ đại, mà đã được đắp xây bằng cả máu xương của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa!!!

Những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã “biến mất” sau ngày 1-11-1963:

Đó là những Chiến Sĩ đã hy sinh tất cả, khi chấp nhận rời xa mái ấm gia đình tại miền Nam tự do, để đi vào vùng đất địch, không hẹn ước một ngày trở về nơi chốn cũ!!!

Vậy, không có gì bằng, là hãy đọc, để như nghe lại những lời nói của năm nào, vào đêm mồng 6 tháng 8 năm 1960, tại một nơi bí mật; song có mặt của Cố Đại Tá Lê Quang Tung đứng lên hô to khẩu hiệu:

“Trung thành với Tổ Quốc – Xả thân vì lý tưởng Quốc Gia”.

Sau đó, các Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hô theo.

Khi những tiếng hô chấm dứt, thì Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã đọc những lời tiễn đưa các Chiến Sĩ đi vào vùng đất địch như sau:

“Các bạn ra đi hôm nay, là đã vượt ra khỏi tầm bảo vệ của chính phủ. Ra đi, có thể các bạn không hẹn ngày về. Những người con ưu tú của Dân Tộc, đêm nay giã từ Thủ Đô, để lao vào vùng địch, chiến đấu cho tự do và độc lập của Tổ Quốc, cho hòa bình. Vì hẳn các bạn cũng biết, Việt Nam là tiền đồn của thế giới tự do. Các bạn là những Chiến Sĩ Tiên Phong, đi chiến đấu ngay trong lòng địch; để ngăn chặn làn sóng cộng sản xâm nhập vào Nam, tiến đánh hậu phương chúng ta. Đây là một sứ mạng hết sức to lớn, và rất đáng cảm phục.

Thay mặt Tổng Thống, thay mặt chính phủ, tôi trân trọng gởi đến các bạn lời khen ngợi ý chí vô cùng cam đảm của các bạn, lòng yêu nước vô bờ bến của các bạn, khi đơn thương, độc mã dấn thân vào đất địch, để chịu trăm ngàn nguy hiểm, mà không được một sự yểm trợ nào cả. Xin cầu chúc các bạn vượt qua mọi gian lao, nguy hiểm và thành công trong sứ mạng”.

Và cũng tương tự như thế, là những Chiến Sĩ đã được cài lại ở miền Bắc trước ngày 20-7-1954, hoặc có những Chiến Sĩ đã tình nguyện quay trở về miền Bắc ngay sau khi mới di cư vào miền Nam. Những Chiến Sĩ này đã do Ông Phan Quang Đông và Ông Ngô Đình Cẩn sắp xếp, và bí mật lo cho đời sống của họ, khi họ phải sống trong lòng đất địch tại miền Bắc.

Nhưng đau đớn thay, bởi sau khi Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, Ông Phan Quang Đông và Ông Ngô Đình Cẩn bị giết chết. Vì thế, tất cả những Chiến Sĩ này đã bị chặt tay, chặt chân, cắt đứt con đường về; họ phải tự tìm cách để sống trong mỏi mòn, chờ đợi. Cho đến ngày 30-4-1975, khi miền Nam tự do đã rơi vào tay của cộng sản Bắc Việt; thì các Chiến Sĩ này đã hoàn toàn tuyệt vọng; nên có người đã chết trong tức tưởi, trong đau đớn khôn nguôi. Và cho đến tận hôm nay, những người thân của họ, cũng không hề biết nắm xương của những người Chiến Sĩ ấy, đã bị vùi lấp ở một nơi nào trên đất Bắc???!!!

Ôi! Còn gì đau xót và phũ phàng hơn; nếu một mai, Quê Hương ta có tái lập được một nước Việt Nam với thể chế pháp trị hẳn hoi, thì thử hỏi, có còn ai nhắc – nhớ đến những người Chiến Sĩ đã từng dấn thân vào lòng đất địch, sống cùng với những gian nan, nguy hiểm; và chết trong âm thầm, lặng lẽ, lãng quên!!!

Hình ảnh tiếp nối của Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa:

Sau ngày Vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã Vị Quốc Vong Thân; để tiếp tục bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ vẫn tiếp tục lao mình vào nơi chiến trường lửa khói mịt mù, cận kề với cái chết. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đi vào những trang sử hào hùng của Dân Tộc, với những trận đánh làm khiếp vía quân thù như: Bình Long, An Lộc v…v…

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang, oai hùng, ngạo nghễ đứng trên Cổ thành Quảng Trị, để cắm lá Cờ Vàng ba Sọc Đỏ thân yêu như bài hát: Cờ bay trên Cổ thành Quảng Trị:

“Cờ bay, cờ bay, oai hùng trên thành phố thân yêu
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu
Cờ bay, cờ bay tung Trời, ta về với Quê Hương
Từng ngóng đợi quân ta tiến về ……”

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã vượt phi đạo, tung cánh “chim bằng”, đi vào cõi chết, để bảo vệ vùng Trời miền Nam tự do.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã rời xa đất liền, xa mái ấm gia đình, sống lênh đênh trên mặt trùng dương ngút ngàn khói sóng. Máu xương của người Chiến Sĩ đã hòa quyện và vùi chôn nơi đáy nước trong trận Hải chiến 1974, để bảo vệ Hoàng Sa, hải đảo, bảo vệ hải phận Việt Nam.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa tay súng, vai khoác ba lô, tung cánh dù, nhảy xuống vùng đất địch, bất chấp mọi hiểm nguy.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh dũng đánh đuổi quân thù, tái chiếm Cố đô Huế, Tết Mậu Thân, 1968. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đi tìm đào từng hố, hầm tập thể, để tìm lại xương xác của đồng bào ruột thịt thân yêu.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã “quên mình cứu người” băng bó vết thương cho đổng đội.

– Người nữ Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã không ngại gian nan, vì “Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”, để góp bàn tay vào công cuộc bảo vệ miền Nam Tự Do.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã đem sinh mạng của mình để bảo vệ đồng bào ruột thịt, trên khắp Bốn vùng Chiến thuật, ở những vùng nông thôn, nơi biên phòng, giới tuyến, từ Ấp Bắc, An Lộc, Gio Linh, Khe Sanh, Pleime, A Sao, A Lưới, Trà Bồng, Minh Long, Ba Tơ, An Phước, An Điềm, Khâm Đức, Hậu Đức …v… v…
https://i1.wp.com/vnafmamn.com/photos/a1h8.jpg
Song bên cạnh những chiến công lẫy lừng ấy, có mấy ai hình dung được hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời ngày đêm ghì chặt tay súng, trên những vọng gác, ở những nơi tiền đồn heo hút gió; để rồi liên tưởng đến hình ảnh của người Chiến Sĩ đã bị cộng quân bắn tỉa, trong lúc các Anh đang hướng tầm mắt, để quan sát những di chuyển của địch quân. Bởi vậy, các Anh đã trúng đạn của địch, và thân xác của người Chiến Sĩ đã nhuộm đầy máu đỏ, đã thấm đẫm chiến bào, và người Chiến Sĩ đã rơi từ trên chòi cao của vọng gác xuống nền đất lạnh, trên những bụi gai sắc nhọn giữa rừng khuya, thân xác của người Chiến Sĩ lại phải chịu thêm những vết thương khác, do những nhánh gai rừng đã đâm sâu vào châu thân, máu của người Chiến Sĩ đã chan hòa từ vết đạn thù, đã ứa ra từ những mũi gai rừng, trước khi gục chết tức tưởi giữa núi rừng hoang lạnh. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đem máu xương của mình, để bảo vệ Quê Hương.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với những hy sinh vô bờ bến. Đặc biệt, những đơn vị đã từng đối đầu với cộng quân, ở những nơi biên phòng, giới tuyến. Ở những nơi ấy, suốt ngày đêm người Chiến Sĩ phải đối đầu với không biết bao nhiêu những gian nan, nguy hiểm. Người Chiến Sĩ phải mắc võng ngủ trên những cành cây, để tránh thú dữ, nhưng không khỏi phải làm mồi cho muỗi, vắt. Trên những lối hành quân, mỗi khi dừng bước, người Chiến Sĩ đã phải dùng chiếc nón sắt của mình, múc nước từ những giòng suối, đổ vào bao gạo sấy, để ăn cho đỡ đói. Song cũng có những lần, khi những hạt gạo sấy chưa kịp nở thành cơm, thì đơn vị đã lọt vào ổ phục kích của cộng quân. Để rồi sau đó, có những Chiến Sĩ đã phải ôm xác đồng đội của mình, với bao gạo sấy chưa kịp mở ra, mà nhỏ lệ khóc thương đồng đội, đã chết trong khi bụng đang đói!!!

Ngày ấy, một thời chinh chiến, nếu ai đã từng đến các đơn vị biên phòng, giữa tiếng đạn pháo đì đùng, với những đêm nhìn ánh hỏa châu soi sáng các vùng rừng núi hoang vu, và treo lơ lửng trên những vọng gác quanh các tiền đồn, thì chắc chắn đã thấy được toàn cảnh, là những bức tranh, với những nét điểm xuyết thật tuyệt vời. Đồng thời, cũng thấy được những hy sinh vô bờ bến của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đang nằm sương, gối súng ngay giữa sự sống – chết, hiểm nguy. Sinh mạng của người Chiến Sĩ cũng vô cùng mong manh. Bởi bất cứ lúc nào các Anh cũng có thể bị quân địch tấn công, và có thể sẽ vĩnh viễn bị vùi thây nơi chiến địa!!!

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, là tất cả những gì cao đẹp nhất, hào hùng nhất. Người dân của miền Nam tự do, đã từng chứng kiến những hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, vai mang súng, tay bế em thơ, tay dìu dắt cụ già giữa vùng lửa đạn.

– Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ có những Sĩ quan, mà tất cả những người đã từng cầm súng để bảo vệ từng tấc đất của Quê Hương, hoặc đã từng kề vai, sát cánh bên người Chiến Sĩ, qua những công tác: Tâm Lý Chiến, Công Dân Vụ, Dân Sự Vụ, Dân Ý Vụ …

Họ có thể là những nông phu, song đã ý thức được bổn phận của một con dân nước Việt trong cơn nguy biến, nên có những người dân, khi bất ngờ gặp được người Chiến Sĩ trong lúc lỡ bị lạc trong rừng, sau một trận giao tranh với quân địch, và họ đã nuôi giấu, để sau đó, người Chiến Sĩ được bình an trở về với đơn vị.

Họ có thể là người Mẹ, người vợ, người anh, người chị, người em; song khi lâm cảnh ngộ, trong những lần tấn công của quân địch, lúc cùng đường, phải tử thủ, họ đã cùng sống-chết bên người Chiến Sĩ, họ đã biết sử dụng những quả lựu đạn M.26, để tiêu diệt quân thù, để mở đường máu thoát thân. Hết thảy họ đều là Chiến Sĩ.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ có Lục Quân, mà còn có các Lực lượng như: Quân Cảnh, Cảnh Sát, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn … Riêng về Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ, khi thành lập sau Tết Mậu Thân, 1968, có lẽ mọi người đã nhìn thấy hình ảnh của những Nữ đoàn viên Nhân Dân Tự Vệ, vai mang khẩu súng Carbine M-1, M-2, trông chẳng khác biệt những Thanh Nữ Cộng Hòa của một thưở nào là mấy. Lực lượng này, đã trực tiếp đối đầu với Du kích Việt cộng ở những vùng thôn quê, hẻo lánh.

Một hình ảnh, mà chắc chắn mọi người đều đã biết. Đó là hình ảnh của những Chiến Sĩ Nhân Dân Tự Vệ tại Hố Nai. Họ đã không rời tay súng, cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Song tiếc rằng, khi họ đã bị tử thương bởi những viên đạn của quân thù, thì chẳng có ai nhắc đến!!!

Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa và ngày mất nước: 30-4-1975

Vào một thời oanh liệt, với những chiến công lừng lẫy, làm quân thù phải bạt vía, kinh hồn. Lúc ấy, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa làm sao có thể nghĩ đến một ngày, họ phải buông súng trong uất hận, đau thương!!!

Thế nhưng, sự thật đã xảy ra. Trước ngày mất nước, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải chịu những cảnh bi thương nhất, khi bắt buộc phải buông súng, thì có các vị đã “chết theo thành”, một số may mắn được ra hải ngoại; còn đa số, thì đã phải vào các nhà tù “cải tạo”của Cộng sản Hà Nội, đã phải chịu cảnh hành hạ, đọa đày, cùm kẹp, đói khát, lạnh lẽo, hoặc trở thành người tàn phế, hay đã bỏ mình trong các nhà tù. Song chưa đủ, bởi còn gì đau thương hơn, còn ngôn từ nào để viết, và còn có dòng nước mắt nào, để khóc cho vừa với hình ảnh của những người Chiến Sĩ đã chết, trong khi đôi chân vẫn còn bị siết chặt, vẫn còn rỉ máu trong hai chiếc cùm, treo trên những chiếc thanh sắt, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối; để rồi sau đó, nắm xương tàn của người Chiến Sĩ đã bị vùi chôn bên cạnh những bờ rào kẽm gai oan nghiệt của trại tù “cải tạo”, trên khắp vùng núi rừng từ Nam chí Bắc!!!

Nhưng hôm nay, và mãi mãi cho đến ngàn sau, dẫu thế nhân có viết đến cả hàng nghìn trang sách, cũng không làm sao diễn đạt một cách trọn vẹn những gì mà người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải gánh chịu khi bị sa cơ, thất thế, ở trong các nhà tù “cải tạo”. Bởi, chỉ có chính các vị đã từng qua các nhà tù của cộng sản Hà Nội, thì mới thấu hết được những nỗi đau đớn kinh hoàng ấy; vì “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”.

Chẳng những thế, mà ngày đi vào nhà tù “cải tạo”, thì đã có không ít những Chiến Sĩ đã bị mất cả nhà cửa, vợ con!!!

Tuy nhiên, ngoài những cảnh đời bi thảm ấy, đã có rất nhiều Chiến Sĩ được gia đình hết lòng lo lắng. Những người Mẹ, người vợ, người con, người anh, người chị, người em của người Chiến Sĩ, đã băng rừng, vượt suối, đi đến tận những nơi rừng thiêng nước độc, để mang đến cho người thân của họ những món quà; song đặc biệt và cao quý nhất, vẫn là những món quà tinh thần. Vì đó, chính là “món ăn” đã nuôi sống người tù “cải tạo” để người Chiến Sĩ có đủ niềm tin và hy vọng, chờ đợi một ngày trở về, sum họp với gia đình.

Và giờ đây, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời tung hoành trên khắp chiến trường xưa, đang sống nơi hải ngoại; dù mái tóc đã bạc mầu, đôi mắt không còn tinh tường nữa; song ý chí quang phục Quê Hương vẫn không hề thay đổi. Vì thế, đa số đã và đang dấn thân vào con đường tranh đấu cho một nước Việt Nam Tự Do-Dân Chủ thực sự.

– Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, sống đời lưu vong, nhưng ngày đêm vẫn vọng tưởng Cố Hương, vẫn nhớ tiếc về những năm tháng của một thuở đã xa, mà lòng rưng rưng, mà tim quặn thắt; bởi chỉ còn biết tìm lại qua những câu hát, lời thơ của một thời đã mất:

Đẹp thay Chính Thể Cộng Hòa
Vui thay tiếng hát, câu ca Thanh Bình
Cộng Hòa như ánh Bình Minh
Như giòng nước mát, như tình lúa xanh.

15-6-2011

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

Giang doan 91 truc loi, LLDNTU

Hoàng Nhật Thơ

</div>
<p><strong>Cuộc chiến Việt Nam trên mặt trận quân sự thật sự chấm dứt lúc 1:15 trưa ngày 1 tháng 5, 1975 sau khi Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Tiểu Khu Chương Thiện cùng các chiến sĩ dưới quyền bị sa vào tay giặc.</p>
<p></strong></p>
<p>Trước đó một ngày, tức là vào lúc 10:30 sáng ngày 30 tháng 4, 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh kêu gọi các đơn vị, quân nhân các cấp thuộc QL/VNCH buông súng, sau này cũng có người gọi ông Dương Văn Minh là tổng thống “vi hiến.” Trong phạm vi bài viết này, tôi không bàn về hai chữ “vi hiến” hay hợp hiến, mà tôi chỉ nhắc lại giờ phút lịch sử sang trang máu của 35 năm về trước, để cùng chia sẻ niềm đau thương dân tộc và “Vinh Danh-Tưởng Niệm-Tri Ân” những Người Lính VNCH. Sau lời kêu gọi buông súng của ông Dương Văn Minh, một số đơn vị trưởng và cấp chỉ huy vì không muốn người dân và thuộc cấp phải đổ máu trong giờ thứ 25, nên đã ra lệnh kéo mảnh vải trắng lên ngọn cờ tại đơn vị, chấp nhận chấm dứt chiến tranh. Từ ngày đau thương đó đến nay đã 35 năm, mảnh vải trắng đó bị xem là lá cờ đầu hàng. Không, VNCH bị bán đứng chớ Người Lính VNCH không thua; Miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm, nhưng Người Lính VNCH không đầu hàng. Người Lính VNCH chẳng những can trường để chiến thắng mà còn can trường ngay cả trong chiến bại. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã hãnh diện và hiên ngang thay mặt cho toàn thể QL/VNCH chứng minh điều đó. Người Lính VNCH không bao giờ thua hoặc đầu hàng Cộng Sản. Mảnh vải trắng được Người Lính VNCH trân trọng, nghiêm trang từ từ kéo lên đỉnh ngọn cờ, kèm theo hai dòng lệ nhạt nhòa trong ngày tang thương đó là “VÀNH KHĂN TANG TỔ QUỐC”!</p>
<p><a href="http://hung-viet.org/images/file/7-bjyTVj0wgBADxw/duongvanminhtrongdinhdoclap.jpg"><img class="nw-img-responsive imgcontent" src= alt="duongvanminhtrongdinhdoclap" width="463" height="648" /></a></p>
<p>Mùa Xuân đến rồi qua đi, để lại trong lòng người Việt tha hương một nỗi buồn man mác trên con đường viễn xứ… Tháng Tư lại đến, gợi nhớ trong chúng ta một Tháng Tư của 35 năm về trước… Một Tháng Tư mà cả một quân đội hùng mạnh, thiện chiến nhất Đông Nam Á phải tan hàng vì sự phản bội của đồng minh, một quân đội bách chiến, bách thắng bị trói tay trên bàn cờ chính trị thế giới; Một Tháng Tư mà cả quê hương Việt Nam bị Cộng Sản Bắc Việt nhuộm đỏ bằng máu của Quân Dân Cán Chính VNCH; Một Tháng Tư mà cả một dãy giang san Việt Nam hoa gấm bị bọn Cộng Sản phá tan nát, nhận chìm trong máu và nước mắt của 85 triệu người dân Việt trong suốt 35 năm qua. “Tháng Tư Đen 1975”…!!!</p>
<p>Trở ngược dòng lịch sử… Trong suốt chiều dài của cuộc chiến trên quê hương Việt Nam, Người Lính VNCH đã dâng hiến cả cuộc đời cho quê hương, Tổ Quốc, đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn để hoàn thành trách nhiệm mà Tổ Quốc giao phó: “Bảo Quốc-An Dân.”</p>
<p>Chúng ta không thể nào quên được hình ảnh Người Lính VNCH bước trên những đống gạch vụn đổ nát trộn lẫn xác đồng đội và giặc thù dưới từng cơn mưa đạn của địch quân giăng kín cả đất trời để cắm ngọn cờ chiến thắng trên Cổ Thành Quảng Trị vào ngày 16 tháng 9, 1972; Hình ảnh của những Người Lính VNCH tiến lên trong lửa khói mịt mờ, những trận mưa pháo kinh hoàng của quân thù, máu chảy theo mỗi bước đi để chiếm lại từng tấc đất của quê hương, từng căn nhà góc phố cho người dân nơi thị trấn An Lộc vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972,…</p>
<p>Người Lính VNCH gục ngã trên khắp các mặt trận lớn nhỏ, thân xác của họ nát tan trong đạn pháo của quân thù để cho đất Mẹ được an vui; Máu của họ tuôn chảy khắp nẻo đường đất nước thấm vào lòng đất Mẹ cho ruộng lúa xanh tươi hoặc một phần thân thể gởi lại trên chiến trường mục rã theo thời gian. Tất cả sự hy sinh đó là để bảo vệ hai chữ Tự Do cho Miền Nam Việt Nam.</p>
<p><a href="http://hung-viet.org/images/file/RIULDzZj0wgBACBI/taichiemcothanhquangtri1972-3.jpg"><img class="nw-img-responsive imgcontent" src="http://hung-viet.org/images/file/RIULDzZj0wgBACBI/taichiemcothanhquangtri1972-3.jpg&quot; alt="taichiemcothanhquangtri1972-3" width="468" height="646" /></a><br />
Nhưng… đớn đau thay! Người Lính VNCH đã bị người bạn đồng minh phản bội, bức tử phải buông tay súng ngày 30 tháng 4, 1975, để rồi bao nhiêu người đã tuẫn tiết chết theo vận nước, hằng ngàn người đã bị bọn Cộng Sản hành quyết ngay sau khi bọn chúng cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam, hằng trăm ngàn Quân Cán Chính bị đưa vào 200 trại tù khổ sai, khắc nghiệt trên hai miền Nam Bắc, nhận lãnh sự trả thù đê tiện, hèn hạ bằng những cực hình tra tấn dã man, độc ác của bọn cộng sản vô thần khát máu, khoảng một trăm sáu mươi lăm ngàn người (165,000) đã chết trong các trại tù khổ sai, khoảng sáu mươi lăm ngàn (65,000) Quân Cán Chính VNCH chết mất xác vì bị thủ tiêu.</p>
<p>Dòng đời lặng lẽ trôi qua thoáng đó đã 35 năm. Dù cát bụi thời gian có chôn vùi tất cả và mọi việc sẽ đi vào lãng quên, nhưng có những sự việc, hình ảnh sẽ mãi mãi trường tồn với thời gian, trơ gan cùng tuế nguyệt… đó là hình ảnh, sức chiến đấu phi thường và sự hy sinh cao cả của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.</p>
<p>Chúng tôi, những Người Lính VNCH nhắc lại dĩ vãng không phải để tiếc nuối một thời quá khứ vàng son, danh vọng. Đời Người Lính VNCH đầu đội trời quê cha, chân bước đi trên mảnh đất mẹ, đôi vai gầy bé nhỏ gánh vác cả giang san, lưng mang balô trĩu nặng tình yêu quê hương dân tộc, đối diện với cái chết từng giây, từng phút; Đường hành quân trong rừng sâu, núi thẳm cả tháng không thấy ánh nắng mặt trời, đôi giày trận chưa hề được tháo ra một lần, nuốt vội vã những buổi cơm gạo sấy dưới cơn mưa tầm tã rồi tiếp bước quân hành. Cuộc đời của Người Lính như thế thì đâu có gì là vàng son, danh vọng… Nếu có danh vọng chăng là chúng tôi hãnh diện và tự hào được khoác vào mình bộ quân phục của QLVNCH; Vàng son của Người Lính là đem máu xương để đổi lấy sự thanh bình cho quê hương.</p>
<p>Chúng tôi nhắc lại dĩ vãng để cho những thế hệ trẻ sau này hiểu rõ về một quá khứ bi hùng, sự hy sinh của Người Lính VNCH. Nhờ những sự hy sinh đó mà chúng ta còn được hít thở bầu không khí tự do ngày hôm nay; Chúng tôi cũng muốn cho thế hệ trẻ đang sống trong nước hiểu rõ về tánh nhân bản và chính nghĩa của Người Lính VNCH. Người Lính VNCH không phục vụ cho bất cứ đảng phái, tổ chức hay cá nhân nào, Người Lính VNCH đi chiến đấu với một trách nhiệm và lý tưởng duy nhất “Bảo Quốc-An Dân.”</p>
<p>Có một số người thiển cận đã đổ hết trách nhiệm lên Người Lính VNCH về quốc nạn 30 tháng 4, 1975, cũng có nhiều cấp chỉ huy, lãnh đạo đã đứng ra nhận lãnh trách nhiệm này. Nếu nói như thế thì tội cho Người Lính VNCH quá! Người Lính VNCH đã làm hết sức của mình.</p>
<p>Người Lính VNCH dù không còn đầy đủ vũ khí, đạn dược và đã bị người bạn đồng minh bỏ rơi, nhưng họ vẫn tiếp tục chiến đấu trong đơn độc với tỷ lệ một (1) chọi sáu (6) tới giờ thứ 25 của cuộc chiến. Cuối cùng vì quân lệnh, vì kỷ luật của quân đội mà Người Lính đành nghẹn ngào gãy tay súng! Người Lính đã làm tròn trách nhiệm mà Tổ Quốc giao phó. Một bằng chứng hùng hồn và cụ thể là không có một mảnh đất nào của Miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản chiếm mà Người Lính VNCH không lấy lại được trong 20 năm chinh chiến.</p>
<p>Nếu Miền Nam Việt Nam chế tạo được vũ khí, đạn dược, chiến đấu cơ, chiến hạm và các phương tiện thiết bị chiến tranh, thì đừng nói chi là bọn Cộng Sản Việt Nam, mà trên thế giới này khó tìm ra được một quân đội nào được xem là đối thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.</p>
<p>Trong thời chiến, Người Lính VNCH là người chịu nhiều gian nan, cực khổ và hiểm nguy nhất, nhưng họ lại là những người bất hạnh, tang thương nhất sau cuộc chiến.</p>
<p>Những Người Lính VNCH may mắn đến được bến bờ tự do từ những ngày hỗn loạn cuối Tháng Tư Đen cho đến những chuyến vượt biển kinh hoàng, những chuyến bay ra đi theo diện H.O hoặc chương trình đoàn tụ. Dù họ ra đi bằng phương tiện hay diện nào đi nữa, không phải là họ sợ hoặc trốn chạy cộng sản. Họ ra đi với một lý do duy nhất “Người Lính VNCH không đội trời chung với Cộng Sản.”</p>
<p>Người Lính VNCH buông súng chấm dứt cuộc chiến trên mặt trận quân sự để chuyển qua một mặt trận mới trong cuộc chiến mới. Đó là mặt trận chính trị trong cuộc chiến “Nhân Bản,” cuộc chiến nhân bản này chỉ có một trận chiến duy nhất và sẽ là trận thư hùng cuối cùng, chúng ta dùng Lá Cờ Vàng Chính Nghĩa khai tử, bôi xóa vĩnh viễn đảng CSVN trong dòng lịch sử dân tộc Việt Nam nói riêng và dòng lịch sử thế giới nói chung.</p>
<p>Cho đến ngày hôm nay, 35 năm sau cuộc chiến, Người Lính trẻ nhất của QLVNCH cũng đã trên 50 tuổi… những cấp chỉ huy, lãnh đạo thì sương tuyết đã phủ trắng mái đầu. Những Người Lính VNCH bây giờ mắt đã yếu, thân thể không còn khỏe mạnh, tráng kiện như ngày xưa, nhưng ý chí và lý tưởng của họ vẫn không phai sờn theo dòng thời gian nghiệt ngã của tạo hóa, dù họ đang sống ấm no nơi xứ lạ quê người, họ vẫn đem những chuỗi ngày còn lại đóng góp công sức vào công cuộc đấu tranh giải thể bạo quyền Cộng Sản Việt Nam để mang lại sự tự do, hạnh phúc, ấm no cho 85 triệu người dân trong nước và những thế hệ mai sau.</p>
<p>Tất cả những sự hy sinh của Người Lính VNCH được trang trọng lưu vào trang sử của quê hương kèm theo bốn chữ mang đầy đủ ý nghĩa nhất “Tổ Quốc Ghi Ơn.”</p>
<p>Ba mươi lăm năm (35) chỉ là một thoáng so với thời gian vô cùng tận của tạo hóa, nhưng lại là chuỗi ngày dài đau thương của dân tộc Việt. Ba mươi lăm năm qua, vết thương cũ hầu như chưa một lần khép kín nhưng đau buồn thay… Những hình ảnh kinh hoàng, hoang mang, sợ hãi chen lấn nhau trong những ngày cuối “Tháng Tư Đen” khi giặc tràn về thành phố; Những hình ảnh vượt biển cả chống chọi với phong ba bão táp, trực diện với thần chết để đi tìm hai chữ “Tự Do” hầu như đã phai mờ trong lòng của một số người; Cuộc sống cơm no, áo ấm nơi xứ lạ đã làm cho họ quên ngày đại tang của quê hương; Họ đã đem cuộc sống vật chất xa hoa nơi đất khách phủ lấp đi sự hy sinh cao cả của Người Lính VNCH. Họ đã thờ ơ, lãnh đạm với sự tan nát của Quê Hương cùng với sự khổ đau, tang tóc của 85 triệu người dân trong nước. Tàn nhẫn hơn nữa là họ đã quay về quỳ mọp bắt tay hợp tác với giặc, những kẻ đã từng sát hại thân nhân của họ và truy đuổi họ vào con đường chết…Hỡi ơi…!</p>
<p>Xin đừng vứt bỏ hai chữ “Quốc Hận” bên lề đường viễn xứ. Xin đừng nhẫn tâm đâm thêm một nhát dao vào lưng những Người Lính VNCH đang ôm nỗi quốc hờn lưu vong biệt xứ hoặc đang lê lết cuộc đời tăm tối, tang thương trên quê hương Việt Nam. Xin đừng phản bội những người đã gục ngã, những người đang nằm trong lao tù vì công cuộc đấu tranh giải thể bạo quyền CSVN.</p>
<p>Hãy đóng góp công sức, góp một bàn tay cho công cuộc đấu tranh này sớm thành công.</p>
<p>Xin đừng để con đường viễn xứ mỗi ngày mỗi dài thêm.</p>
<p><em><strong>(Tưởng Niệm Quốc Hận)<br />
<strong>“Mũ Đen” Hoàng Nhật Thơ</strong></strong></em></p>
</div>
</div>
</div>
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />Huy hieu giang doan 57 tuan tham .JPGHuy hieu giang doan 42 ngan chan

Thân tặng các bạn NM2 đã một thời phục vụ tại các giang đoàn vùng Đặc Khu Rừng Sát: 27XP (TT Hồng, LT Khiết, TV Tồn); 22XP (PC Hùng); 57TT (KN Thành, NL Thọ, TH Tài); 91Trục Lôi (HV Dự), …. Riêng tặng NKH Mỹ (42NC, LLĐN 99), chuyến công tác cuối cùng tại Tân An. 

PV Tố – M6514

https://dongsongcu.files.wordpress.com/2017/07/6cc4e-25c4259025e125ba25b7c2bkhu2br25e125bb25abng2bs25c325a1t.jpg?w=485&h=626

Không biết trong đời rồi sẽ có đêm nào dài hơn đêm vừa qua, nhưng khi tôi vói tay vặn nhỏ bớt âm thanh của cái máy 46 thì trời cũng sắp sáng. Coi như tôi đã thức gần trọn đêm. Đám nhân viên trên tàu sáng nay lặng lẽ hơn thường ngày rất nhiều. Không nghe cả tiếng chào hỏi vì phần lớn đêm qua đều không ngủ. Đêm qua họ cũng giống tôi, ngồi hoặc đứng quanh đây và biết hết tin tức về các căn cứ bạn bị cộng quân tràn ngập, cách đây không xa. Trong suốt cuộc chiến, chuyện một căn cứ, một đơn vị, một đồn địa phương quân nào đó bị tràn ngập thỉnh thoảng cũng có nghe. Nhưng chuyện hàng loạt các căn cứ hải quân bị tràn ngập, trước sau chỉ trong chốc lát, đây là lần đầu tiên, và ở gần mình như vậy. Chỉ có những tiếng bàn luận thì thầm nho nhỏ. Rồi như cố gắng đánh lừa chính mình bằng các sinh hoạt bình thường, cả đám uể oải lên bờ uống cà phê, ăn sáng. Rồi lại về giang đỉnh, với ý định chờ trận pháo kích 8 giờ.

Nhưng chỉ đến khoảng trước 11 giờ sáng, qua đài Sài Gòn, Big Minh ra lệnh buông súng đầu hàng. Chung quanh tôi, mấy ngày nay vốn đang ở trong cái không gian yên lặng, giờ trở thành câm nín. Tất cả rơi vào cái tĩnh lặng, chết chóc. Tất cả đều rơi vào trạng thái như bất lực, vô vọng, và hoàn toàn không biết kế tiếp phải làm gì. Kinh nghiệm nầy là duy nhất, chỉ một lần trong đời. Kinh nghiệm của cái chết thì mình đương nhiên chưa biết; khi cái chết tới, mình có thể vẫn không nhận ra. Nhưng tôi biết cái cảm giác thê lương rùng rợn trong buổi sáng hôm nay sẽ đeo đẳng theo tôi suốt cả cuộc đời.

Người nọ nhìn người kia. Nhìn quanh như để chờ biết xem ai là người có ý kiến trước, có phản ứng gì để mình có thể làm theo. Rồi từ bờ đàng kia có vài chiếc giang đỉnh bắt đầu tháo dây, rời bến. Rồi chiếc kế đang ở giửa dòng cũng kéo neo rời vùng. Chỉ cần một bắt đầu, sau đó từ từ hòa vỡ theo. Tôi ngay lập tức phải đối diện với chuyện của mình. Anh thuyền trưởng chiếc Chợ Mới tiến tới trước mặt tôi. Anh thuyền trưởng chiếc Chợ Mới vui tính của tôi. Mặc dù mới chỉ gặp nhau quen biết hơn tuần, tôi thấy anh rất gần gủi.

Anh nói:

– Bà con đang bắt đầu tan hàng, ông thầy tính sao?

Tôi chưa kịp trả lời thì anh cho biết luôn:

– Cho ông thầy biết, nếu rút ra khỏi đây chắc tụi tôi sẽ qua ngã Kinh Chợ Gạo về thẳng quê nhà luôn. Cả đám tụi tui trên chiếc tàu nầy đều ở quanh quẩn gần Long Xuyên. Từ lúc lên đây, không có tin tức gì từ gia đình, lo quá ông thầy ơi.

Lâu rồi kể từ sau lần chuẩn bị đổ quân đầu tiên, tôi không còn nhận được một mệnh lệnh nào từ thượng cấp. Tôi không biết phản ứng cách nào cho đúng. Nhưng mấy ngày nầy ít ra tôi cũng đã có những sắp xếp cho riêng tôi, mặc dù thất bại.  Tôi tự có chút hổ thẹn, chỉ lo phần mình. Anh thuyền trưởng đáng mến, một người lính chân chính, không cần biết anh có cố dồn nén hay không, đã đợi cho tới lúc được lệnh phải buông súng đầu hàng địch quân rồi mới thố lộ ước muốn về với gia đình.

payette-30-river-boats-can-tho-1965-554x330

Thuyền trưởng và thủy thủ đoàn của các LCM8 khác cũng đến vây quanh. Tôi tóm tắt cho họ biết đã tới lúc tan hàng. Sau đó chiếc Chợ Mới và một chiếc khác ở Bình Thủy chuẩn bị lên đường dự định sau đó theo Kinh Chợ Gạo về miền Tây. Hai chiếc nầy tin tưởng miền Tây vẫn còn an toàn và chỉ cần lọt được tới Mỹ Tho, mọi chuyện sẽ tốt hơn. Và như vậy tôi phải xách hành trang dọn qua một chiếc LCM8 khác. Tôi chọn chiếc LCM8 mà bây giờ khi viết bài nầy không còn nhớ xuất xứ, có thể là của giang đoàn 30XP. Sau đó cả đám bắt tay từ giả nhau và tôi cùng chiếc LCM8 đó bắt đầu rời bỏ Tân An, theo hướng về hạ dòng.

Bắt đầu xuôi dòng ra cửa lúc đầu cũng có nhiều ngỡ ngàng. Tất cả đều không biết phải làm gì, sẽ đi tới đâu. Nhất là cho tới giờ phút đó mọi người đều có cái tâm trạng chưa thể chấp nhận được sự thật đang xảy ra.  Cứ coi như hãy chạy ra ngoài cửa rồi mới tính tiếp. Được cái là mấy cái LCM8 có tốc độ khá, chỉ thua có PBR. Rồi thì Alpha, Monitor, Tango, Zippo đi theo một đoàn thật dài. Súng ống đạn dược còn đầy đủ, đồ chơi không thiếu thứ gì mà đành mang chung cái tâm trạng phải bó tay, đầu hàng, bỏ cuộc. Thật là ấm ức.

Vừa trên đường rút lui không lâu, tôi may mắn liên lạc được Mỹ qua hệ thống truyền tin. Hai thằng cũng theo cách thay đổi tần số lên xuống “nấc” để nói chuyện. Nhưng sau đó dù có chuyển đổi như thế nào đi nữa, chổ nào cũng ồn ào náo nhiệt, không thể xen vào được.  Sau đó thỉnh thoảng tôi tiếp tục thử lại, nhưng không thành công. Hệ thống truyền tin hành quân bây giờ rối nùi, ồn ào, không cách nào xen vào được. Rốt cuộc sau đó hai thằng hoàn toàn đứt liên lạc.

(Nếu ngày hôm đó Mỹ và tôi không đứt liên lạc, dòng đời của tôi có thể có chút đổi khác. Trong giờ phút như ngày 30, tôi thấy thật cần có bên cạnh một người trong gia đình hoặc một bạn thân để cùng nhau có các quyết định quan trọng nhất trong đời. Ngày đó tôi không có ai. Thuộc cấp kế bên, tôi chỉ mới quen biết có khoảng hơn 10 ngày. Với một người bạn cùng khóa như Mỹ một bên, tôi có thể dễ quyết định mọi chuyện theo một hướng khác. Tốt hay xấu hơn, không thể biết được; nhưng chắc sẽ khác.

Mỹ ra đi năm đó, định cư ở Mỹ. Chúng tôi gặp mặt lại nhau lần đầu tiên trong ĐH3 – San Jose, năm 2004.)

Đám tụi tôi từ Tân An ra, tùy theo ưu thế về tốc độ, PBR đi trước, tới LCM8, kế đó là Alpha, Monitor, Tango, Zippo không theo một đội hình nào, nhưng cũng thành một hàng dài giửa sông. Từ lúc rời Tân An một khúc xa, hai bên bờ nhiều chổ đã xuất hiện lá cờ cộng quân xanh đỏ sao vàng cùng một ít bóng dáng có lẽ là đám du kích VC. Một vài đám đông có lẽ là dân chúng cũng tụ lại sát bờ sông nhìn đoàn tàu chúng tôi chỉ trỏ như nhìn một chuyện lạ. Ít nhất ngay lúc đó, tôi không thể đọc được trong lòng họ đang vui mừng hay đau khổ. Riêng tôi, tôi biết rất rõ mình đang tủi thân, chua xót. Khi chiến tranh tới hồi kết thúc theo kiểu nầy, chỉ có người đang cầm súng tới giờ chót mới thực sự là kẻ bại trận sao?

Tới chổ gặp nhau của 2 nhánh Vàm Cỏ, đám tụi tôi gặp một đám khác đi ra từ Bến Lức, một đám cũng giống như đám tàu của tụi tôi. Đoàn giang đỉnh bây giờ thành một đoàn dài gấp đôi.

Một lần nữa, giờ lại ngang quê tôi.  Vàm Bà Nghĩa Sông Lưu của xã Tân Chánh giờ đang ở bên trái. Lần nầy LCM8 chọn lộ trình khoảng giửa dòng. Cứ một lúc lại gặp một số đông các chiếc ghe sông dân sự. Có chiếc với các nhà sư hoặc các ông cha trong trang phục tôn giáo. Họ ra dấu muốn quá giang chiếc LCM8 của tôi. Có chiếc trên đó các vị quỳ lạy ngay trên mui của chiếc ghe của mình, hướng về phía tụi tôi, tỏ ý van cầu. Chiếc LCM8 cứ tiếp tục chạy thẳng.  Đám trên tàu tụi tôi lúc đó cũng không khá gì hơn. Chúng tôi cũng đang ở trong cái tâm trạng của một người đang bịnh nặng hết thuốc chửa, đang bó tay chờ chết. Còn không biết mình sẽ làm được gì cho chính mình, nói chi tới chuyện giúp đở người khác.

Khoảng sau 2 giờ chiều tôi ra tới giao điểm sông Vàm Cỏ và Soài Rạp. Lúc nầy chiếc LCM8 của tôi đang từ từ di chuyển sát bờ gần cột đèn đỏ bên địa phận Gò Công. Giảm máy chạy thật chậm để quan sát chung quanh. Từ chổ gần cột đèn đỏ đó nhìn về phía bắc, hướng Sài Gòn, bên kia sông bên trái là đồn Rạch Cát của Long An, bên phải là Lý Nhơn của Đặc Khu Rừng Sát. Lúc nầy trên mặt sông nằm trong cái tam giác: cột đèn đỏ Gò Công, đồn Rạch Cát và Lý Nhơn đã có mặt đủ thứ tàu bè. Trong cái sóng nước nhấp nhô dưới làn gió buổi xế trưa, chưa bao giờ tôi thấy có nhiều tàu bè như vậy, trôi nổi đặc sông. Đặc biệt nhiều nhất là loại tàu sông, các giang đỉnh như ALpha, Tango, Monitor, LCM6, … tới đây như gặp phải một cái nút chận, bị kẹt đường, bị ứ đọng lại. Vì chổ nầy gần như là lằn ranh xa nhất, về hướng biển, các loại giang đỉnh nầy có thể tới được. Muốn ra xa hơn nữa, phải là loại tàu khác. LCM8 nhờ lớn hơn nên có thể ra xa hơn một chút và có thể chạy ven biển. Những thứ như tàu sắt, tàu cá có khả năng đi biển đang chiếm ưu thế. Những chiếc nầy đều đang chở đầy người, chạy không nhanh nhưng không lộ ra điều nào cho biết họ sẽ giảm tốc độ. Có nhiều dấu hiệu cho biết chỉ cần họ giảm tốc độ, mọi người đều ùa tới bám vào, hết còn dịp ra cửa.

(Địa điểm Cột Đèn Đỏ Gò Công: có ghi chú trong Sơ Đồ – ĐKRS, tiểu đoạn 2)

Chỉ mới tới chổ nầy chưa lâu, tôi đã chứng kiến một chiếc tàu sắt loại nhỏ đang từ phía trong sông Soài Rạp tiến ra hướng biển. Tàu sắt đã mang theo một số lượng người đã tương đối đông. Một chiếc monitor phe ta từ bờ Gò Công tiến ra giửa sông, trước hết dùng dấu hiệu tay ngỏ ý muốn chận lại. Chiếc monitor nầy không biết có phải từ trong đám tụi tôi từ Tân An ra tới đây không. Không cần mất công tìm hiểu cũng có thể biết ngay mục đích của chiếc monitor.  Có gì khác hơn là muốn tìm phương tiện ra biển. Trước tiên, chiếc tàu sắt không tỏ chút nhượng bộ nào khi nhận được thủ hiệu của các thủy thủ trên chiếc monitor. Chỉ giảm tốc độ chút đỉnh khi có một loạt đạn đại liên chỉ thiên cảnh cáo. Chỉ ngừng hẳn khi có một quả 105 trực xạ, nổ tung mặt nước ngay gần phía trước mủi. Chuyện kế tiếp là chiếc monitor tiến tới, cặp vào cho cả nhóm thủy thủ leo qua. Chiếc monitor sau đó trở thành vô chủ, bắt đầu nhập bọn với các chiếc không người khác đang bập bềnh nổi trôi trên mặt sông.

Rồi thêm vài vụ tương tự xảy ra trong khoảnh khắc tiếp theo. Bản năng sinh tồn. Trong hiểm nguy phải dùng hết thủ đoạn. Mưu sinh thoát hiểm nếu không áp dụng hôm nay thì còn phải chờ đến bao giờ!!!

Điều bất ngờ là khoảng sau 3 giờ chiều, 2 đại thẩm quyền xuất hiện với đoàn tùy tùng. Cũng vẫn trên 2 chiếc PBR (vẫn với dàn M60), tiến về chiếc LCM8 mà tôi đang có mặt; tiến ra từ hướng đồn Rạch Cát. Không biết có phải 2 thẩm quyền đã ở đó trong hai ngày vừa qua. Bên cạnh 2 ông là đoàn tùy tùng gồm một số sĩ quan và HSQ. Trong đó tôi nhận ra ngay TrU Tư, và một Đ/U mà sau nầy tôi được biết tên Thu.  Ngoài ra tôi cũng nhận ra ông sĩ quan bị trách phạt mấy ngày trước, giờ đang mặc thường phục.

ĐĐ tiến về phía tôi.  Có vẻ hơi vội vàng, ông cho biết:

– Tôi đã mất nhiều thì giờ, nhưng cuối cùng cũng liên lạc được với BTL và nhiều bạn bè ở hạm đội. Hạm đội đang chờ ngoài cửa. Vì PBR không thể ra cửa được, tôi cần chiếc dùng chiếc LCM8 nầy để ra điểm hẹn ngoài đó. Nếu muốn, anh cũng nên theo chúng tôi. Theo kế hoạch, mình ra cửa tập họp; sau đó về miền Tây tiếp tục chiến đấu.

Tôi lại lâm vào cảnh tấn thối lưỡng nan, trầm ngâm và đắn đo.  Dĩ nhiên là LCM8 nầy sẽ giao cho các thẩm quyền. Nhưng tới giờ phút nầy tôi cảm thấy rất cần biết tin tức của gia đình nhất là Dung của tôi. Hơn nữa, trong thâm tâm tôi thấy ngao ngán cái tập hợp nầy của các thẩm quyền.  Tôi vẫn còn nhớ mẫu tin có mấy chử “bình sa lạc nhạn”.  Tôi có tánh nhớ dai. Cũng một lần nữa, tôi lại ước ao phải chi tôi có một người mà tôi tin tưởng để có thể cùng nhau quyết định trong lúc nầy. Tuy nhiên tôi cũng không có nhiều thì giờ, lúc nầy mọi người đều đang nóng lòng, rất gấp muốn rời khỏi nơi đây. Cuối cùng tôi cho ông biết là mình chọn lựa rời chiếc LCM8.

Giang toc dinh PBR, HQVNCH.jpg

Lúc nầy hàng mấy chục chiếc PBR đang bập bềnh, trôi nổi tại ngã ba sông. Có chiếc với vài thủy thủ, có chiếc trống trơn, không có một bóng người.  Tôi vẫy tay hướng về một chiếc đang có người lái, nó đến cặp vào chiếc LCM8. Anh HSQ đang ở tay lái hỏi tôi:

– Tr/U muốn về Sài Gòn hả?

Tôi gật đầu xác nhận, rồi bước qua. Đ/U Thu cùng bước theo qua chiếc PBR với tôi; còn có thêm vài thủy thủ nữa. Tổng cộng Đ/U Thu, tôi và 4 thủy thủ. Chúng tôi bắt đầu rời xa chiếc LCM8, hướng về phía thượng nguồn sông Soài Rạp. Lúc nầy trên sông Soài Rạp, tàu thuyền lớn nhỏ nườm nượp từ trong túa ra càng lúc càng nhiều. Chỉ một số rất ít hành động như chiếc PBR của tụi tôi, như nhạn lạc bầy, lại theo chiều ngược lại, chạy vô, không giống ai.

Khoảng sau 4 giờ chiều khi chiếc PBR gần tới Quảng Xuyên, chúng tôi thấy một chiếc LSM đang chạy ra, cờ trắng được kéo lên trên đài chỉ huy.

(Sau nầy có dịp nghĩ lại. Thật là lạ, kéo cờ trắng mà lại chạy ra. Trong khi tôi chạy vào lại không có treo gì hết.)

Từ đàng xa đã thấy tàu chở đầy người. Lúc tới gần càng thấy rõ hơn. Một rừng người. Người đứng đầy cả từ đài chỉ huy xuống cả 2 bên bong tàu, đầy cả sân sau. Tôi có cảm giác trên tàu toàn là dân sự. Y phục dân sự che khuất hết màu hải quân. Lúc còn cách không xa chiếc LSM, tôi ghé tai anh thủy đang lái:

– Anh từ từ chạy sát vô, tôi muốn nhìn gần một chút.

Chiếc PBR của tôi liền giảm tốc độ từ từ tiến sát phía tả hạm của chiếc LSM. Không lâu sau, tôi liền đọc được con số 402 bên hông. Thì ra là HQ 402, đang chở đầy người, chạy cũng không nhanh lắm, nếu không nói là có vẻ ì ạch. Ngay lúc đó tôi bỗng nghe một loạt các âm thanh lộn xộn dường như phát ra từ một chiếc loa ở nơi nào đó trên chiếc 402, lẫn lộn với âm thanh từ miệng của nhiều người:

– Sài Gòn mất rồi. Còn về làm gì?

Chính cái âm thanh nầy, tôi bỗng thấy nao nao và tự dưng khựng lại. Tôi bắt đầu suy xét lại cái quyết định trở về của mình cách đây khoảng trên dưới một tiếng đồng hồ. Đương nhiên là tôi biết Sài Gòn đã mất rồi!!!. Đương nhiên là tôi biết giờ nầy mà chạy vô là điên rồ !!!. Cứ nghĩ đến số đông dân sự đang ở trên chiếc 402, người ta là dân sự mà còn có cơ hội có được một chổ ở trên đó với chiếc 402, còn mình thân là hải quân, ngon lành hơn nữa là sĩ quan hải quân, mà lại phải về Sài Gòn để rồi không biết chuyện gì sẽ xảy ra.

hvh-lam-giang-hq-402

Tôi bỗng cảm thấy uất ức, ngậm ngùi, cay đắng ,… Rồi tôi xoay qua người thủy thủ đang lái chiếc PBR, ngỏ ý muốn quay lại đuổi theo chiếc 402. Lột xuống cái áo giáp, tôi còn trên người bộ quân phục tím nhầu nát nhưng lon lá đàng hoàng, cũng giày bốt đờ sô, cũng nón đi biển. Bây giờ chiếc PBR đuổi theo, vẫn bên tả hạm của chiếc 402. Tôi đưa tay làm vài động tác chỉ trỏ ngầm tỏ ước muốn được lên chiếc 402. Tôi nghe ở đâu đó từ trên tàu, có lẽ từ đài chỉ huy, phát lên giọng nói chắc cũng từ một cái loa:

– Tàu đang chạy có một giò lại đang tình trạng nhiệm sở tác chiến. Không thể giảm máy được, tùy Tr/U làm cách nào để lên được tàu, chúng tôi không thể làm gì khác.

Một lúc sau, chiếc PBR đã ngang sát bên hông phía gần trước, bên trái chiến hạm. Với lên một chút, tay tôi đã chạm ngay phần dưới cái lưới an toàn cho hạm kiều, cái lưới đang được thả một phần dọc bên hông trong khi hải hành. Nhìn lên, giửa một rừng người, tôi có thể thấy mấy bàn tay thủy thủ đang nắm phần trên của cái lưới. Tôi biết, chỉ cần hai tay nắm chặc lưới, chân đặt lên các lỗ lưới, trong tích tắc tôi sẽ được kéo lên mặt của sàn tàu. Vậy mà quái ác thay ngay lúc đó cái tâm trạng phân vân, đi hay ở, một lần nữa trở lại.

Chỉ cần một chút phân vân thôi. Và lần nầy tôi bị trừng phạt một cách đích đáng. Một làn sóng nhẹ lay động mặt nước làm chiếc PBR lắc ngang đập vào hông chiếc 402. Khi hiểu chuyện gì xảy ra, tôi kinh hoàng biết là mình đã đáp xuống mặt sông, đang trôi lần về phía đuôi của chiếc 402. Lúc đó tôi chỉ còn kịp biết mình đang trôi bên hông của chiến hạm. Tôi biết ngay chuyện kết tiếp có thể là, nếu nặng thì bị chân vịt tàu chặt nát thây, nhẹ hơn thì cũng là chết đuối. Lập tức tôi hiểu ra hiện trạng nguy ngập của mình, lập tức tính toán thật nhanh trong đầu. Tôi đang mặc trên người bộ quân phục tím với cái áo 4 túi. Cái mũ đi biển đã không còn ở trên đầu, rơi đâu mất. Nhưng bốt đờ sô thì vẫn còn ở đôi chân, hơn nữa có zipper đàng hoàng. Và tôi đang trôi sát bên hông chiếc 402. Rất nhanh thôi tôi sẽ tới ngang phần cuối ngang với cái chân vịt. Tôi biết tôi phải chuẩn bị đón nhận cái sức cuốn to lớn ập tới, nhận xuống rồi lại kéo lên của cái chân vịt.

Chuyện đã xảy ra đúng như vậy. Và tôi đã phản ứng khá chính xác. Khi còn ở trên mặt nước tôi vội hít vào một ngụm thở đầy đủ chờ bị nhận xuống nước; đồng thời chờ cơ hội trở lên lại mặt nước để được thở thêm một lần. Đồng thời tôi còn phải đủ bình tĩnh dùng tay trái từ từ kéo mở cái zipper của một chiếc bốt đờ sô, lột nó ra khỏi chân, chuyển nó qua cho bàn tay phải bên kia nắm giử. Xong được một, tôi làm tiếp chiếc thứ hai. Khi giải quyết xong những rắc rối của đôi giày thì đôi chân đã được thoải mái hơn không biết bao nhiêu lần. Cùng lúc, vòng nước xoáy của cái chân vịt cũng kéo tôi xuống đưa tôi lên cũng hai ba lần. Lúc nầy chiếc 402 đã tà tà cách xa cả trăm thước. Tôi bây giờ đang ở giửa dòng sông Soài Rạp, cách cái địa điểm cái dinh quận Quảng Xuyên bao không xa. Chợt trong lòng tôi có một nổi thê lương. Nếu tôi phải táng thân nơi đây, ở dòng sông nầy, gia đình làm sao biết được, Dung làm sao biết. Việc kế tiếp là phải bình tĩnh bằng mọi giá bơi tấp vào bờ rồi mới tính nữa. Cả mấy ngày qua ý tưởng cứ “làm rồi mới tính nữa” xảy ra hoài.

Tuy nhiên, lần này tôi lại không phải tính toán, lo lắng lâu. Chỉ chốc lát sau, trên mặt nước chiếc PBR thần kỳ của tôi đã quay trở lại. Tôi đưa một tay đón lấy mấy cánh tay đang với xuống. Họ kéo tôi lên. Thật buồn cười, tay kia của tôi vẫn còn giử được đôi giày. Một giọng nói vang lên:

– Thôi, quên đi không chạy theo nó nữa. Mình về luôn nghe ông thầy.

Uể oải tôi chỉ im lặng gật đầu.  Được những thủy thủ không quen biết nầy quay lại vớt lên đã là quá may mắn. Lúc nãy họ có thể thẳng đường chạy luôn. Tôi cũng biết giới hạn của mình trong lúc nầy. Trong giờ phút hồn ai nấy giử nầy mà còn đòi tiếp tục chạy theo chiếc 402 một lần nữa, tôi chắc điên.

Lúc chạy ngang qua một cái tắc nhỏ ở Bình Khánh, phía đối diện với căn cứ Nhà Bè, có một đám du kích VC xách súng xông ra, có dấu hiệu muốn chặn chiếc PBR của chúng tôi lại. Cả nhóm trên giang đỉnh nhanh chóng quyết định là không thể dừng lại chổ nầy.  Ít ra cho tới giờ nầy đám tụi tôi cũng chẳng còn gì để mất, phải bằng mọi giá về tới nhà. Tiếp theo tất cả ngồi vào vị trí các ổ súng trên tàu sẵn sàng để phản ứng chống trả. Nhưng cuối cùng, không có gì xảy ra. Cọp què, xuống đồng bằng không ngờ cũng còn ráng giử lại chút oai phong.

Khoảng 8 giờ tối chiếc PBR cũng tới được Khánh Hội. Thấy đạt được mục đích, chiếc PBR lặng lẽ cặp vào một góc tối của cầu tàu thuộc Kho 5, đâu đó dọc theo đường Trình Minh Thế. Đậu ở chổ lẫn lộn với nhiều loại ghe thuyền khác. Chuyện đầu tiên của tôi là bước qua một bên tàu, nghiêng mình thả nhẹ khẩu colt 45 của mình xuống nước sát bên cầu tàu. Phía bên kia Đ/U Thu cũng làm như vậy.  Một lúc sau mấy tay thủy thủ lên bờ. Sau đó không biết tụi nó kiếm ở đâu ra cho mỗi người một cái áo dân sự để khoát vào.  Rồi tất cả ngồi im trong lòng chiếc PBR, mệt nhọc sau một ngày đầy biến động.

Trên đường về tới đây tôi có dịp nói chuyện nên biết thêm một chút về anh sĩ quan đồng hành.  Đ/U Thu là tùy viên của ĐĐ, anh có gia đình khá giả đâu đó ở thị xã Mỹ Tho. Anh cho biết gia đình dưới đó nhắn tin có kế hoạch do gia đình đã sắp xếp sẵn. Chỉ cần về đến Mỹ Tho, anh sẽ cùng với gia đình ra Phú Quốc.  Lúc được tin nầy từ gia đình, anh đã ra tới ngoài cửa cùng ĐĐ. Nếu biết sớm hơn, anh đã có thể đi theo mấy giang đỉnh qua ngã Kinh Chợ Gạo thì tiện hơn rất nhiều. Anh định sáng sớm hôm sau, sau khi rời đây, sẽ nhanh chóng về Mỹ Tho để theo cách sắp xếp của gia đình.

Trong đêm chúng tôi còn gặp một trục trặc nhỏ.  Bỗng đâu có một toán 5, 6 thằng nhóc nhỏ trong y phục nhà binh lẫn dân sự, tay đeo băng đỏ tạt qua hỏi han, dòm ngó. Sau đó đề nghị bọn tôi nên tức khắc ra văn phòng phường gần đó trình diện để được cấp giấy chứng nhận của chính quyền mới.  Với dáng dấp giống NDTV của đám nầy, tụi tôi quyết định phải tránh né việc trình diện tại đây đêm nay. Tụi tôi câu giờ bằng cách hứa sẽ đến phường trình diện ngay để cho bọn chúng quay đi. Đợi bọn chúng rời đi xong, tụi tôi im lặng và cẩn thận dời tàu qua một địa điểm khác.

Cố gắng chợp mắt được mấy tiếng đồng hồ thì trời đã rạng sáng. Khi nghe những tiếng ồn ào của xe cộ đầu tiên, cả đám bật dậy bắt đầu chuẩn bị rời địa điểm. Chúng tôi bắt tay nhau từ giả từng người, những người bạn đồng hành trong một đoạn đời chưa tới một ngày. Chỉ một ngày thôi nhưng dài như cả trăm năm. Không cách nào biết được sẽ còn có dịp gặp lại. Sau cùng mọi người phân tán lên từng chiếc xe lam đang đến.  Tôi bước lên một chiếc. Trên xe lam tôi có dịp quan sát hai bên đoạn đường ngắn ngủi từ Khánh Hội vào trung tâm Sài Gòn. Cứ cách một khoảng lại thấy vài đám cháy nhỏ, chổ nào cũng thấy rác rưới, dơ bẩn. Người tài xế xe lam cho biết. Người ta bỏ đi nhiều lắm. Nhiều đám phá phách nổi lên đập phá, hôi của, gây ra các đám cháy. Các kho chứa hàng quanh đây bị đập phá tan hoang.

Mới đổi chủ chưa được trọn một ngày mà thành phố Sài Gòn sáng ngày 1 tháng 5 đã thật tang thương. Thành phố thân yêu của tôi đã mang một bộ mặt hoàn toàn xa lạ mặc dù tôi mới xa nó chỉ hơn mười ngày. Tôi thấy lòng mình đang thổn thức.

PV Tố – M6514

Nhớ Tháng 4 Đen CA, 2016

http://taiton2049.blogspot.com.au/search/label/Ch%C3%BAt%20T%C3%ACnh%20S%C3%B4ng%20N%C6%B0%E1%BB%9Bc

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s