Sau tết, rục rịch “biên chế”

 

1

Phạm-Hữu-Lộc, PĐ 530, 1972.

<p>Vài ngày sau Tết năm 1972 tôi ra trình diện Phi đoàn 530 tại Pleiku, lúc đó chiến cuộc đang bùng nổ ở miền Trung, một thời gian được gọi là mùa Hè đỏ lửa. Phi công mới về nước như tôi được huấn luyện cấp tốc cho quen với địa thế để ra bay hành quân. Phi đạo ở đây vừa hẹp vừa ngắn gây nhiều khó khăn cho lúc cất cánh và đáp. Điều khiển chiếc phi cơ bánh đuôi với cánh quạt mạnh 2.700 mã lực trên phi đạo hẹp và ngắn đòi hỏi nhiều chú tâm, khác lúc tôi còn ở trường bay, phi đạo vừa rộng lại còn dài lê thê.</p>
<p>Vào một buổi sáng đẹp trời, tôi tập đáp với Thiếu Tá Đức, một Huấn luyện viên nhiều lâu năm trong Phi đoàn, danh hiệu hôm đó là Thái-Dương 30 (Jupiter 30). Đây là phi vụ thứ ba từ khi tôi về nước. Sau hai lần cất cánh và đáp trên phi đạo 09, mọi sự đều bình thản, khi đáp lần thứ ba, lúc phi cơ chạm bánh trên phi đạo, tôi cố gắng giữ cho cánh thăng bằng nhưng cánh trái cứ chìm xuống. Phi cơ lỉa qua nửa bên trái phi đạo, đúng lúc đó tôi vẳng nghe có tiếng trên làn sóng : ” Thái Dương 30, bánh đáp trái của bạn đang bị quị xuống !”. Anh Đức nghe được, một tay chụp cần lái tay kia tống hết ga và điều khiển cho phi cơ bay lên. Con tàu lờ lửng chờ tốc độ lên dần, gió cánh quạt cuốn bụi đỏ bay mờ mịt, nhưng cuối cùng cũng vượt lên được. Không có tiếng nói báo trước cùng phản ứng nhanh chóng của anh Đức, chắc cả thầy lẫn trò đều gẫy cánh hôm ấy.</p>
<p>Đó là tiếng của Thiếu Tá Phạm Văn Thặng, biệt hiệu Thặng Fulro, dẫn đầu một Phi tuần khu trục đang đậu chờ cất cánh. Đã bao năm mà tôi vẫn còn nhớ đến anh. Chẳng may, anh đã gẫy cánh trong một phi vụ yểm trợ cho quân bạn ở Kontum. Ơn Anh tôi đã đáp lại được một phần nhỏ khi được gác quan tài Anh tại Nghiã trang Quân đội Thủ-Đức. Tôi không thể quên được dáng to lớn với nước da ngăm đen cùng giọng nói oai vang của anh.</p></div>

<p>Con tàu lấy trớn lướt bổng lên không. Tôi kiểm soát lại phi cụ chỉ bánh đáp, bánh phải và bánh đuôi đều bình thường, nhưng hỡi ôi, bánh trái không lên mà cũng chẳng xuống ! Anh Đức bay lại một vòng thật thấp dọc theo phi đạo, nhờ đài kiểm soát xem vị thế của bánh đáp. Đài xác nhận vị trí như phi cụ chỉ. Chúng tôi bay lên cao độ, thả xuống dở lên vài lần nhưng đều vô hiệu. Anh Đức thử thêm một lần chót : lấy tốc độ cao rồi kéo con tàu lên thật gấp, gần ba lần trọng lực mong bánh trái sẽ xuống. Hai thầy trò xụ mặt vì trọng lực mà bánh đáp cũng chẳng xuống cho ! Chúng tôi quyết định kéo bánh đáp lên và đáp bụng.</p>
<p>Anh Đức giao cần lái cho tôi bay lên khoảng 9.000 bộ lượn quanh Pleiku. Đài kiểm soát đóng cửa phi đạo và chuyển lệnh cho các phi cơ khác đổi hướng ra khỏi Pleiku. Phía dưới các xe Cứu hỏa bắt đầu sắp dọc theo phi đạo, một xe cứu hỏa đặc biệt trải “foam” chống lửa trên phi đạo. Tôi để ga lớn cho con tàu mau hết xăng đề phòng hỏa hoạn lớn nếu bị rủi ro khi đáp.</p>
<p>Anh Đức rút bao thuốc lá, lấy một điếu rồi đưa qua mời, tôi lắc đầu cảm ơn. Lượn đi vòng lại quanh Pleiku khoảng hai tiếng. Tôi bèn mở Radio nghe nhạc đỡ buồn, oái oăm thay gặp ngay bản nhạc “Anh Quốc Ơi ” do Thái-Thanh hát. Lúc đó tôi vẫn khá bình tĩnh vì tại trường bay tôi đã mục kích một bạn cùng khóa đáp bụng khi bay solo T-28. Mọi việc đều an lành, anh đáp rất đẹp, đẹp hơn những lúc đáp bình thường ! Phi cơ khu trục chắc chắn hơn T-28 nhiều, ngồi bên phải tôi lại là một đàn anh với cả ngàn giờ bay kinh nghiệm nên tôi rất an tâm.</p>
<p>Khi đồng hồ xăng chỉ khoảng 800 Pounds, phía dưới phi trường cũng sẵn sàng tiếp đón “Cánh chim què”, foam đã trải trắng xóa phủ gần một phần ba phi đạo. Anh Đức cầm lại cần lái, bay một vòng thật thấp quan sát cả phi đạo lần cuối. Chúng tôi báo cho đài biết là sẽ vào đáp, hai thầy trò ôn lại một lần cuối những động tác khẩn cấp. Thầy cầm cần lái, trò có nhiệm vụ điều khiển cánh cản, tắt hệ thống điện và xăng lúc phi cơ chạm xuống rồi mạnh ai người đó thoát khỏi phi cơ. Lượn một vòng lớn vào đáp, chúng tôi từ xa nhắm thẳng phi đạo 09 bay tới. Mũi phi cơ hơi cao hơn những lúc đáp bình thường, cánh cản xuống hết cho tốc độ thật chậm, khoảng 90 dặm một giờ (knots). Con tàu chầm chậm bay tới; phiá trước, phi đạo dâng lên mỗi lúc mỗi lớn dần. Đảo mắt nhìn quanh phi đạo, tôi thấy vài xe Cứu hỏa trực sẵn, một số đông anh em lính Bảo trì và Phòng thủ đứng dọc theo khu trạm Hàng không chờ xem. Một số khác đứng trên thành những ụ đậu phi cơ.</p>
<p>Con tàu xuống thấp chỉ còn khoảng vài bộ trên cuối đầu phi đạo, anh Đức cắt ga rồi từ từ kéo nhẹ cần lái cho phi cơ nhẹ nhàng chìm xuống. Khi tàu vừa chạm mặt phi đạo, tôi liền tay kéo cảnh cản lên, tắt điện và xăng. Ngước mắt lên, tôi đã thấy các cánh quạt quẹo quặp vào, bụi foam bốc lên trắng xóa, con tàu ngon trớn như con thoi có đà tiếp tục lao về phía trước, các xe Cứu hỏa chạy tốc theo sau. Chỉ khoảng mười tới mười lăm giây sau, con tàu giảm hết tốc độ nằm giữa phi đạo. Hai thầy trò tức tốc tháo hết giây choàng, thoát nhanh ra khỏi phi cơ. Lẹ thật, chỉ vài giây sau chúng tôi đã ra khỏi phi cơ và đứng bên cạnh xe cứu thương. Xe Cứu hỏa tiếp tục xịt thêm foam lên khắp thân và cánh tàu. Từ xa nhìn lại, chiếc khu trục khi kia oai hùng bao nhiêu, bây giờ nằm sát trên phi đạo như chú cào cào bị mất râu.</p>
<p>Tối hôm đó, Phi đoàn đãi hai Thầy trò tôi thoát nạn an toàn. Anh em trong Phi đoàn mỗi người một phiên thay nhau cụng cạn ly bia với tôi. Là lính mới tôi ráng uống nhưng tửu lượng chẳng có là bao, tôi gục say lúc nào không biết. Sáng hôm sau, mở mắt dậy thấy mình đang nằm trong phòng tại Cư xá, đầu tôi nhức như búa bổ ! Ôi một kỷ niệm đầu tay trong cuộc đời bay bổng ! Tôi thầm nghĩ : ” Tương lai mình sẽ ra sao ?”</p>
<p><b>Phạm-Hữu-Lộc<br />
PĐ 530, 1972</b><b>http://hoiquanphidung.com</b></div>
</div>
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

Một số sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy được chuyển đi. Sau nầy thì biết rằng họ đi Phước Long. Số người nầy, một vài năm sau, số đông được tha, một số chuyển trại, tiếp tục “học tập” trong trại tù của Công An.

Những người ở trại Phước Long không được tha sớm, sau nầy một số chuyển về trại Xuân Lộc (Long Khánh). Hôm họ chuyển vô trại, anh em chúng tôi bị nhốt sau hàng rào, đứng ngó ra, thấy Khả Năng mang xắc “ma-re” nặng. Chúng tôi mừng lắm, gọi tên anh rối rít, mặc dù chỉ biết anh, không quen biết gì!

Khi nghe tin chuyển trại, có người hy vọng được tha, Phan Hải cũng mong anh sẽ được về. Đến khi “không thấy gì hết”, không hy vọng về sớm, lại tự ái vì con “ông lớn Việt Cộng” mà không được về sớm, anh ấy bệnh liền tù tì mấy ngày, ai cũng ái ngại.

Hết bệnh, anh chàng “Hoảng nôm hay cãi” Phan Hải thẳng thắn nói: “Tui tưởng tui được về, nhưng chưa về.” Nói xong, anh ta lại nằm xuống, quay mặt vào tường. Không phải là mình, anh em cũng ngậm ngùi cho Phan Hải.

Ít lâu sau, tổ tôi nhận thêm 2 người, cũng cấp bậc đại úy (Tổ tôi hầu hết cấp bậc đại úy, ngoại trừ Phan Hải là trung úy). Hai người mới là đại úy Thành. Ông nầy “có công với cách mạng” vì hôm 30 tháng Tư, thiên hạ chạy cả. Ông là trưởng kho đạn ở Long Thành nên ở lại giữ kho đạn, không chịu “di tản”.

Bỏ kho đạn mà chạy, lỡ bọn du côn, du đảng, cướp bóc vào “chôm” lựu đạn, chất nổ thì nguy hiểm cho dân chúng lắm. Vì vậy, ông gồng mình canh kho một mình, cầm súng đi tới đi lui, chờ khi “bộ đội” vô tới nơi, bàn giao kho đạn cho họ xong ông mới ra về.

Việt Cộng cho rằng ông có “tinh thần cao” nên cấp cho một tờ giấy. Tin vào tờ giấy ấy, đại úy Thành hy vọng về sớm.

Người thứ hai là Hải quân Đại úy Tôn Thất Phú Sĩ, quê ở Hàng Đường, Huế. Vợ anh đang đi dạy, hiện sống ở gần cầu Trương Minh Giảng.

Tôn thất Phú Sĩ kể:

“Gần tới ngày “giải phóng” thằng em tui là Tôn Thất Mạnh Lương bỗng xuất hiện ở đơn vị tôi tại Cần Thơ, khuyến dụ tôi ra đầu hàng “cách mạng” để được khoan hồng. Tui đuổi nó: “Mày đi đi! Tao không nghe lời mày được, chắc nó giận tui lắm. Vậy nên bây giờ cũng khó về sớm.”

Sinh viên, học sinh Huế nhiều người biết Tôn Thất Mạnh Lương. Năm 1963, biểu tình chống Ngô Triều, anh ta và Thái Thị Kim Lan đang học lớp Đệ Nhứt, ở trường Quốc Học, tham gia đấu tranh tích cực lắm, bị Cảnh Sát Diệm Nhu bắt bỏ tù cả hai.

Khi chế độ nhà Ngô sụp đổ, người ta coi anh như “người hùng”, khi đấu tranh cũng “dữ” mà vô tù cũng “dữ”. Ra tù, anh ta học đại học, nhưng có làm gì nữa không, tôi không rõ.

Sau cuộc chỉnh lý ngày 31 tháng 1 năm 1964, Trung tướng Thủ tướng Nguyễn Khánh cầm quyền. Đám đấu tranh cũng có người nhờ công trạng “đấu tranh” mà đời lên hương.

Mặt khác, để “khóa miệng” các “công thần” sinh viên nầy, một số không ít được Nguyễn Khánh cho đi du học. Người ta gọi mỉa là “đấm mõm” bằng một cái học bỗng:

Cao Huy Thuần đi Pháp, Thái thị Kim Lan đi Đức, Lê đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến đi Mỹ.

Số nầy, không biết có ai bị (hay được) Xịa móc nối để làm tình báo cho Mỹ không?

30 tháng Tư, hình như Mỹ bốc cả gia đình Đỗ Ngọc Yến rời Saigon trước khi Dương Văn Minh đầu hàng đấy! Còn tấm hình chụp Đỗ Ngọc Yến họp với Nguyễn Tấn Dũng là photoshop hay thực sự như thế? Vì ai mà ông Yến gặp anh chàng “cựu y tá bộ đội địa phương” nầy? Ai mà biết!!!!

Không hiểu sao Tôn Thất Mạnh Lương không du học mà lại đi vô rừng theo Việt Cộng. Bấy giờ y lại xuất hiện ở Cần Thơ, dụ khị thằng anh trốn theo Việt Cộng. Việc không thành.

Chuyện Tôn Thất Phú Sĩ, Phật tử chính hiệu, cưới được bà vợ theo đạo Thiên Chúa, cũng là chuyện “trời thần đất lỡ” đấy, nhưng là chuyện riêng nên không viết vào đây.

Hồi đó, tôi đâu có biết anh ta có tài làm thơ!

Buổi sáng trước khi chuẩn bị “bồng gọn nhẹ” (danh từ Việt Cộng nữa đấy, tức là lo “hành trang”), tôi với Nguyễn Văn Bê ra chỗ trồng rau của tổ. Bê nói: “hái cho hết đem về ăn, để lại làm chi!”

Trong khi tôi và Bê đang lui cui hái rau, có môt “chú bộ đội” đi ngang, dừng lại hỏi thăm:

“Mấy anh biên chế phải không?” Tôi trả lời “Vâng”. “Chú bô đội nói: “Các anh đi mạnh khỏe, học tập tốt thì về thôi!”

Khi anh ấy đã đi xa một quãng, tôi hỏi Bê:

-“Thằng nầy hôm trước anh tập cho nó ca cải lương phải không?”

Bê nói “Phải”.

Khoảng gần tết, Bê trồng rau ở đám rau của tổ chúng tôi tại khoảnh đất gần kho đạn, kế hàng rào phi trường. Ở đó có môt cái chòi canh, “bộ đội” chỉ cắt cử vệ binh gác vào buổi tối mà thôi.

Bê có cái thú ưa ca cải lương. Anh ca cũng khá hay. Lúc đó trời cũng đã chiều rồi, đang trồng rau, Bê bắt chước Út Trà-Ôn trong bản “Sầu Vương Biên Ải”:

“Nhìn trời hiu quạnh, màn đêm sương giá lạnh, chốn quê nghèo thêm chạnh nỗi niềm riêng, muôn dặm cách xa…”

Chú bộ đội hồi nãy sắp lên ca gác, đi ngang, nghe ca cải lương, bèn dừng lại, hỏi chuyện Bê, rồi nhờ Bê tập ca bài đó cho. Tập vài lần như thế thì anh ta ca được. Sau đó, cũng một lần trồng rau với Bê ở chỗ cũ, tôi lại nghe anh ta ngồi trong chòi canh, hát nho nhỏ: “Đón giao thừa một phiên gác đêm, chào mừng xuân…”

Nói về con người thì ai cũng như ai, đều có tình cảm cả, cũng thương, cũng nhớ, và cũng… hoài hương. Sau mới biết thêm, anh ta quê ở Bắc Ninh.

Nghe nói quê ở Bắc Ninh, một đêm nào đó, tôi đọc cho mấy bạn tù nghe hai câu thơ của Xuân Diệu, trong bài thơ “Việt Nam Độc Lập”. Tôi không nhớ hết bài:

                        Cô gái Việt gánh gồng xinh xinh,

                        Đâu cũng là những cô gái Bắc Ninh.

Về địa lý và lịch sử, Bắc Ninh có hai đặc điểm. Con gái Bắc Ninh nổi tiếng đẹp và nơi nầy là “quê hương quan họ”. Ỷ Lan phu nhân và bà mẹ ông Lý Công Uẩn cùng quê ơ Bắc Ninh.

Hiền hỏi:

-“Ông” có biết chi về quan họ không?”

-“Không! Tui không biết.” Tôi nói. “Tui có nghe Phạm Duy soạn “Con đường cái quan”, nhưng tui ham theo “Đường giây 1 C” (1) nên không có thì giờ để biết con đường dân ca Phạm Duy đang soạn. Phải chi cứ ở thành phố, đánh giặc mồm CTCT thì có thì giờ “vui chơi ba ngày xuân 365 ngày”. (2)

Dung nói:

-“Thằng nầy quê quan họ, có máu “dzăng nghệ dzăng gừng” nên ưa ca cải lương cũng phải.”

Bỗng “cóc” (3) Phan Hải lên tiếng:

-“Cách mạng chủ trương dẹp bỏ cải lương, cho là ủy mỵ, ảnh hưởng tinh thần chiến đấu. Mấy ông đừng nói ra, tới tai cấp chỉ huy là thằng ấy bị kỷ luật đấy.”

-“Ưa ca cải lương mà cũng khổ. Nhiều khổ quá sống sao nỗi.” Ai đó lên tiếng.

-“Ủ my là không được, anh Hải có nhớ vụ Lê Hoàng Long không?” Phan Hải nói.

-“Nhớ chớ!” Tôi trả lời.

Sau khi học 10 bài, một hôm toàn bộ  “cải tạo viên lên lớp” ở hội trường, Trung úy Dziệt Cộng Chính trị viên tên Thảo của “Tiểu đoàn” đem tên hai người ra phê phán. Một là ông Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, gọi ông ta là “tên ác ôn”, và Lê Hoàng Long, làm thứ trưởng Bộ Chiêu Hồi, tên phản động văn nghệ.

Tôi từng hát nghêu ngao “Rồi mai lênh đênh trên sông Hương…” biết ông Lê Hoàng Long là tác giả bài “Gợi Giấc Mơ Xưa” nầy vào những năm tôi còn học ở Quốc Học; còn sau nầy ông ta làm gì, tôi mãi miết “lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm, sương trắng rơi…” của “Sương Trắng Miền Quê Ngoại”, đâu có về Saigon để mà biết tới những việc ấy.

Nhưng tôi vẫn cứ thắc mắc: Việc Việt Cộng lên án ông chuẩn tướng thì dễ hiểu, còn ai là “người trong cuộc” để tố cáo Lê Hoàng Long là tên “Biệt kích văn nghệ” vậy cà?

&

Chẳng bao lâu sau chúng tôi chuyển trại. Tổ tôi đi hết, ngoại trừ hai người mới chuyển tới và Phan Hải.

Dĩ nhiên, chúng tôi nghĩ rằng án tù những người bị chuyển trại nặng hơn người được ở lại.

hoànglonghải

(1)-Tôi có kể trong “Hương Tràm Trà Tiên”

(2)-Trước 1975, nhiều người gọi đùa những người phục vụ  ở bộ phận CTCT là “Cứ Thế, Cứ Thế” hay “Đánh Giặc Mồm”. Có những sĩ quan CTCT, khai rằng mình không trực tiếp chiến đấu, làm CTCT cho “nhẹ tôi với Cách mạng”. Trong khi đó, Việt Cộng đánh giá họ ngang tầm với Chính Ủy hay Chính Trị Viên, “nguy hiểm” hơn những người cầm súng chiến đấu ở mặt trận.

(3)-Phan Hải ít tham gia những buổi nói chuyện như chúng tôi, nên mỗi khi anh ấy lên tiếng, tôi gọi đùa là “Cóc mở miệng”.

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 6) Sau tết, rục rịch “biên chế” (danh từ Việt Cộng đấy), có nghĩa là sẽ có người được tha hay chuyển trại

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s