Đường Quyền Tuyệt Mệnh

Lê Luyến

Lời phi lộ: Tâm tình với Quảng Ngãi.

       Từ thị xã Quảng Ngãi đi về hướng Nam khoảng 40 km là thị trấn Đức Phổ và cách Đức Phổ khoảng 12 km, cũng hướng Nam, là đến Sa Huỳnh thuộc xã Phổ Thạch.  Đường đi trên Quốc lộ 1 phải ngang qua hai đèo ngắn thoai thoải đó là đèo Phổ Trang và Phổ Hiệp.  Ấp Thủy Thạch thuộc xã Phổ Hiệp có hòn Núi Dâu nằm ngay bên cạnh Quốc lộ. Đó chính là nơi đã xuất phát ra vế đầu của câu đồng dao:

       Về Thủy Thạch uống ly nước đá.

       Sa Huỳnh trước đây gọi là Sa Hoàng, nhưng đến đời Nguyễn Hoàng, vì phạm húy, nên đổi thành Sa Huỳnh.

       Biển Sa Huỳnh là địa danh nổi tiếng khắp cả nước với dân số khoảng 3000 người.  Vào tháng 1-1973, Sa Huỳnh là nơi đã diễn ra trận thư hùng đẫm máu của cuộc hành quân Quyết Thắng 36, do Quân Lực VNCH phát động, nhằm đập tan âm mưu của Bắc Việt có ý đồ cắm cờ và mở một cửa khẩu ngay trên lãnh thổ miền Nam, để tuyên bố chủ quyền trước Ủy ban Quốc tế Kiểm soát ngừng bắn.  Sư đoàn Thép BV là nạn nhân của kế hoạch điên cuồng này, đã bị Sư đoàn 2 BB và Liên đoàn 1 Biệt động Quân đánh tan tác, phải rút chạy về Trường Sơn.

       Hiện nay Sa Huỳnh là địa điểm du lịch.  Địa thế một bên là Trường Sơn và một bên là biển, với nhiều đặc sản miền núi và hải sản.  Tôm cá ê hề, trong đó phải kể đến loài cua Huỳnh Đế thân to lớn, màu vàng rực, có nhiều lông tơ cùng màu, thịt chắc, trắng và thơm là đặc biệt nhất.  Ở dải đất miền Trung thì Sa Huỳnh là một trong những nơi có ruộng muối nhiều và trắng tinh khiết.  Đó cũng là nơi có tầng địa chất đá ong đất màu hoàng-thổ, nên gọi là cát vàng.  Thời phong kiến và thuộc địa Pháp, muối là hàng quốc cấm quý hiếm.  Không biết có phải bởi lý do đó mà người dân Quảng Ngãi giàu óc thi phú tưởng tượng đã ví von muối như vàng hay không?  Trong tiểu đoạn này, người viết xin dành phần nghiên cứu cho quý độc giả đồng hương, nhất là những vị sinh trưởng hoặc am tường về đặc điểm phong thổ Sa Huỳnh.  Riêng ở đây, tác giả bài viết chỉ muốn đề cập đến vế đối rất chuẩn của câu đồng dao:

       Ghé Sa Huỳnh hốt nắm Cát vàng.

       Cũng giống như vế đầu tiên, Thủy Thạch là địa danh, dịch tiếng Nôm có nghĩa là nước đá.  Vế đối Sa Huỳnh cũng là một địa danh, có nghĩa tiếng Nôm là cát vàng.  Câu đối đáp rất chuẩn trong từ Hán Nôm và cả nghĩa (đen, bóng) lẫn ngữ vựng.  Không chê vào đâu được.

       Từ câu đồng dao tuyệt vời ở trên, chạnh lòng thương nhớ về quê hương, người viết muốn tái hiện lại một số thắng cảnh địa danh, phong tục tập quán, ngôn ngữ, giai thoại văn chương và đặc điểm thời gian…  như là điều tri ngộ về nơi chốn đã đi qua của một thời chinh chiến, có lắm kỷ niệm vui buồn, thương đau … “Ôn cố tri tân” là việc chúng ta thường làm, nhất là trong bước đường lưu lạc tha hương ở xứ người.  Đó cũng là cách bộc bạch nỗi niềm hoài cố của người viết qua cái nhìn riêng tư để trình bày về một giai đoạn lịch sử thăng trầm đất nước mà mình trải qua.  Bài viết mặc dầu căn cứ vào ít nhiều chi tiết có thật của lịch sử, của địa danh cũng như những nét đặc thù đậm đà tính dân tộc của quê hương, con người miền Núi Ấn, Sông Trà, song, dẫu sao cũng vẫn là sản phẩm của tưởng tượng.  Người viết chỉ muốn thố lộ nỗi lòng trước một hoàn cảnh bi thương trong chu trình tiến hóa của giòng sinh mệnh dân tộc với biết bao vật đổi sao dời.

      Quả không đúng thế sao.  Đã có một thời, người dân Việt đổ của cải, đổ máu xương, dốc sức dốc lòng quyết tâm theo về dưới cờ đại nghĩa của anh hùng áo vải Quang Trung.  Đã có một thời, người dân Việt đứng ở mũi Cà Mau, tóc trắng vờn bay, ngó ra cửa vịnh hậm hực dậm chân hờn biển cả sao bủa sóng lao xao cản bước chân đại quân Nam tiến. Và… nhiều lắm, đã một thời, giống như thế.  Tiếc rằng, tất cả đã trôi qua, muộn màng.  Nhưng dẫu sao thông thuộc được bài học lịch sử, chắc chắn chúng ta sẽ ít lỗi lầm hơn trong công cuộc đấu tranh dành lại vận mệnh quốc gia dân tộc và kiến tạo tương lai.  Xin độc giả cùng người viết chia sẻ nỗi niềm qua

Đường Quyền Tuyệt Mệnh:

       Từ Thủy Thạch xuôi Nam, chúng ta sẽ gặp Ấp Diên Trường thuộc Xã Phổ Trung.  Trong địa giới này ta sẽ đi qua một cây cầu ngắn mang tên Ông Dân.  Bên trái hiện rõ một con đường đất nhỏ ngoằn ngoèo dẫn sâu vào thôn xóm xanh thẫm một màu cây cối, cuối cùng là đầm nước lớn.  Dân ở đây tứ tán bốn phương vì nạn chiến tranh, chỉ còn trơ lại khoảng vài chục nóc gia thưa thớt.  Tuy vậy, họ sống no đủ, nhờ vừa canh tác vừa kéo lưới, đặt nơm trên cái đầm rộng mênh mông có từ lâu đời ở trong thôn.  Đầm có tên là An Khê, tôm cá ê hề, nhưng người đánh bắt thì ít. Vào mùa mưa nước lớn, cá tức đẻ theo dòng nước lũ tràn cả vào đồng ruộng, nhiều nhất là giống cá Chép, có nhiều con nặng đến 5,7 kg.  Nhưng dân làng ở đây chả mấy ai ăn cá Chép. Hầu hết họ theo đạo Phật nên tin rằng cá Chép là đệ tử nhà Phật, vì trên trán cá có dấu chữ Vạn – cá hoá long, cá Chép trở thành Rồng.

Theo lời kể của vị sư trụ trì ngôi chùa nhỏ nằm trơ vơ giữa đồng trống ở đây, truyền thuyết trong số con cháu của Thần Trụ Trời có ông Khổng Lồ.  Đi về phía Nam, bàn chân phải của ông đặt vững chắc trên các ngọn núi phía Đông Trường Sơn, còn bàn chân trái dẫm lên các cánh rừng ven quốc lộ.  Có lúc lỡ bước, ông phải đặt chân lên các cù lao ngoài biển khơi.  Trên đường vào Nam, miền nào cũng có dấu chân ông hoá đá.  Tới Bình Định, tuân lời Thần dạy, ông dừng lại ở đỉnh đèo An Khê gánh đá núi Trường Sơn xếp thành hào lũy cho đất Tây Sơn thêm phần hiểm trở, thuận lợi trong công cuộc phất cờ khởi nghĩa sau này.  Ông Khổng Lồ vác mấy tảng đá lớn ném xuống đồng bằng trước mặt, rơi thành những địa danh: Hòn Dũng, Hòn Một, Hòn Ngang, Hòn Dãi.. ở xã Bình Tường, Bình Định tạo nên hình thể núi sông hùng vĩ, làm cho đất An Khê-Tây Sơn trở thành nơi dụng võ của bao anh hùng dân tộc.  Đầm An Khê là dấu chân của người Khổng Lồ để lại khi đi qua vùng này.  Theo lời vị sư, lúc đói lòng người Khổng Lồ ăn mọi thứ có trên rừng dưới biển, nhưng Cá Chép hoá Rồng và Cua Huỳnh Đế là Vua của loài bò ngang thì ông không hề đụng tới.  Do đó, hai giống này còn tồn tại và sinh sôi nảy nở đến ngày hôm nay. Ăn no, người Khổng Lồ khát nước hái dừa uống, vất vỏ dừa lung tung khắp nơi ở đất Bình Định nên nẩy mầm mọc tràn lan thành rừng. Ngày nay, ai có dịp ngang qua Tam Quan, Hoài Nhơn, Bồng Sơn, Phù Mỹ sẽ gặp những cánh đồng dừa bạt ngàn nối tiếp nhau.

Ngôi chùa nhỏ rêu phong cũ kỹ của vị sư già nằm đơn độc trên một khoảnh đất trống, chung quanh lưa thưa mấy gốc mai già, vài cây đu đủ và một cây bồ đề mới trồng cao chưa quá đầu người.  Sư cụ khoảng chừng 70 tuổi, hàng râu dài bạc trắng, dáng người tiên phong đạo cốt nhưng rắn rỏi khỏe mạnh.  Không ai biết ông từ đâu đến và đến lúc nào, chỉ thấy ông sống lặng lẽ ở đây với một chú tiểu khoảng chừng 12,13 tuổi nhưng cao lớn, vạm vỡ như thanh niên 18.  Trẻ con trong thôn đều là học trò của sư cụ.  Ông tổ chức một lớp học chữ miễn phí ngay sau hậu liêu chùa, nên dân làng rất quý và biết ơn ông.  Sư cụ hiền lành, nho học uyên bác, thông suốt được lý lẽ đạo và đời, nên gia đình nào có điều gì gút mắc đều đến xin ý kiến ông.  Những ngày lễ làng, cúng vía, sư cụ luôn luôn được mời chủ tế. Tiếng đọc kinh, thuyết pháp của ông sang sảng như chuông.  Ông truyền bá đạo pháp từ bi bác ái đến mọi người, mọi nhà. Ngoài thời gian kinh kệ, dạy học, ông và chú tiểu canh tác tự túc trên mấy sào đất làng dành cho nhà chùa. Nhìn chú tiểu làm việc đồng áng, ai cũng nể nang sức khỏe của chú.  Nhưng cũng giống như sư phụ, chú hiền lành và giúp đỡ mọi người nên ai ai cũng thương mến, nhất là trong lần họ tận mắt chứng kiến chú tiểu đang gánh phân bón ruộng, thấy con trâu khùng hất ngã một chị đàn bà xuống bờ mương, định húc cặp sừng nhọn vào người.  Chú lập tức vất gánh phân, rút đòn xóc lao đến phạng vào trán trâu một đòn, kịp thời cứu được người đàn bà.  Trâu đau đòn, nổi điên quay đầu đuổi đánh chú tiểu.  Chú bình tỉnh và nhanh nhẹn tránh đòn. Kịp lúc vị sư cũng vừa ra đến, ông nhảy vào chụp đuôi trâu và đá nhẹ vào hạ bộ một đòn hiểm.  Trâu đau quá, rống lên bỏ chạy.  Từ đó tiếng đồn thầy trò vị sư biết võ nghệ lan truyền trong thôn làng.  Có ai hỏi, thầy chỉ cười hiền từ rồi bỏ đi không nói năng gì hết.

Đêm đêm, thôn xóm yên lành đắm mình trong giấc ngủ êm ả.  Thỉnh thoảng vài ánh hỏa châu vàng vọt được bắn ra từ phía đồn Cầu Ông Dân, chiếu ánh sáng lạnh lẽo xuống những cánh đồng lúa vàng trĩu hạt.  Xa xa, mãi tận Núi Dâu có tiếng đạn nổ ì ầm của đơn vị Pháo binh bắn đi.  Kể từ ngày lệnh trên điều về một đại đội Địa phương Quân đóng ở Cầu, dân làng lại có giấc ngũ bình an, không bị bọn du kích về quấy nhiễu thâu tiền nuôi quân, hay buộc nộp thóc lúa hoa màu ủng hộ “cách mạng” như trước.  Thỉnh thoảng, vị sĩ quan trẻ Đại đội trưởng trong những lần tuần tiễu, thuận đường ghé thăm và chuyện trò với sư cụ.  Thấy thầy và đám học trò hiếu học không có bàn ghế phải nằm bò trên nền gạch, ông cho lính mang vào nhiều thùng gỗ đựng đạn súng cối, rồi giúp đóng bàn ghế cho thầy trò nghèo.

Một đêm trăng sáng vằng vặc, trời không gợn chút mây, cảnh vật lung linh huyền ảo.  Sau hậu liêu chùa, dưới ánh trăng, hai bóng người – một già một trẻ – đang quần thảo nhau gay cấn.  Họ ra thế, phóng cước vun vút. Họ trổ mọi ngón võ, phát huy hết tinh túy của đường quyền để giành thế thượng phong. Cả hai mồ hôi nhể nhại, tiến thoái linh hoạt, chân đá xé gió, quyền xuất vù vù, nhưng tuyệt nhiên không gây ra tiếng động ồn ào. Trận đấu bất phân thắng bại, càng lúc càng ác liệt. Mãi một chập sau, người trẻ có vẻ núng thế, không còn tấn công mà chỉ lo thủ thế đở đòn rồi lui dần, lui dần.  Người tóc bạc phát đòn liên tục, chờ đến lúc thanh niên vừa lâm vào thế lúng túng thì ngay lúc đó, hai chân người già bỗng xoạc ra, rùn xuống thành trung bình tấn, xoay qua đinh tấn, rồi chuyển thành trảo mã tấn rất lẹ và điêu luyện, một ngọn cước phóng vút ra.  Thân hình người già quay tròn nữa vòng trên không thật ngoạn mục.  Một tiếng “chát” khô khan.  Người thanh niên ngã ngồi xuống đất, trong lúc người già đã đáp gọn xuống bên cạnh.  Có mấy tiếng vỗ tay nho nhỏ phát ra từ phía mái hiên chùa. C hú tiểu chạy đến nâng nhẹ người thanh niên dậy rồi nói:

– Sư huynh thua rồi. Lần sau thì chỉ được giao đấu với đệ thôi nhé.

Người tuổi trẻ xoa xoa bàn tay lên chổ bả vai vừa mới lảnh cú đá nhẹ của thầy, trả lời:

– Quả vậy.  Thiên hạ có mấy ai qua được tuyệt nghệ của sư phụ hả đệ.

Vị sư già mỉm cười vui vẻ, âu yếm nhìn hai học trò rồi nói với chàng thanh niên:

– Ta đi tắm rồi vào ăn chè.

Quay sang chú tiểu, sư cụ bảo:

– Con đi ngủ trước, ta có nhiều chuyện cần nói với sư huynh của con.

Lát sau, trong thiền phòng của vị sư già, người thanh niên đấu võ đã thay quân phục có mang phù hiệu Sư đoàn 2 Bộ binh, đang chú tâm nghe lời chỉ dạy:

– Ta đã nhiều lần xử dụng để con nhìn rõ tuyệt kỷ của đường quyền Ngọc Trản gia truyền rồi chứ?  Tuy vậy con cũng cần phải tập luyện thường xuyên cho thật thuần thục.  “Văn ôn võ luyện” con phải ráng nhớ.

Vị sư già nâng tách trà chiêu một ngụm nhỏ, khoan thai tiếp:

– Bắt đầu ngày mai ta sẽ dạy cho con chiêu thức bí truyền “Lôi Vũ tề mi” cuối cùng là hết.  Sư tổ ta ngày xưa là Đại tư đồ Võ văn Dũng đã khổ công nghiên cứu gần hai mươi năm để bớt ngắn thêm dài, gia hư giảm thực, dĩ động chế tĩnh, để hoàn hảo đường Lôi Vũ quyền này. V à chỉ với một đường quyền này thôi, Sư Tổ ta đã dọc ngang bốn bể, danh lừng thiên hạ, tung hoành một đời chưa hề có đối thủ.  Ngay cả vợ chồng danh tướng Trần quang Diệu, Bùi thị Xuân cũng phải nể nang mười phần.

Ông ngừng nói, rồi bỗng thở dài trầm ngâm. Mãi một lúc lâu mới tiếp lời:

– Ta cũng đã mất hơn năm năm, dưới sự chỉ dạy tận tình của nghĩa phụ mới phát huy được hết tinh hoa của Lôi Vũ quyền.  Và như con đã biết, đời ta cũng vì đường quyền này mà lao đao lận đận.  Bỏ quê trốn qua xứ nẫu (1) rồi mà chẳng được yên thân.  Từ nay ta không còn gì để dạy cho con nữa, chỉ duy nhất một điều con phải ghi nhớ lời ta là cái đạo tâm mới là chính, còn tuyệt nghệ chỉ là thứ yếu.

Sư cụ nhìn chàng trai, ánh mắt chan chứa thương yêu:

– Con nghiệp lính rày đây mai đó, thầy trò ít có dịp gần gũi, nay ta cũng đã già, không biết rồi có còn cơ hội để giải bày tâm sự với con hay không?  Tiện hôm nay con về thăm thầy, ta có điều ủy thác nhờ con.

Người lính ngồi im lặng bây giờ mới lên tiếng:

– Có việc gì cần thầy cứ dạy, con sẽ cố gắng hoàn thành, xin thầy yên lòng.

Nhà sư gật nhẹ đầu ra chiều hài lòng.  Cụ chậm rải tiếp lời:

– Đời ta già rồi, có mệnh hệ gì xảy ra cũng không hối tiếc, duy chỉ có một việc ta mãi bâng khuâng trong lòng.  Đệ của con còn nhỏ quá, ta lo không có ai giáo dục hướng dẫn đúng đắn, lỡ nó đi sai đường lạc lối trái với nguyện vọng sư môn và hoài bảo quốc gia dân tộc, giống như đại sư huynh của nó, thì ta không những thân mang trọng tội mà môn phái cũng tủi hổ lắm thay.  Vậy thử hỏi ta làm sao có thể an tâm nhắm mắt yên giấc được.

Lặng đi một lát như để hồi tưởng. Đôi mắt nhà sư chợt thoáng buồn:

– Đệ của con côi cút từ khi mới lên một.  Ngày đó ta đang về chơi quê ngoại ở Thạch Bi, Phổ Thạch thì được lệnh của sư phụ phải lên gấp miền ngược, mãi tận Ba Gia- Đồng Ké để nhận đứa bé này về nuôi.  Ngày ấy ta rất ngạc nhiên trước quyết định của thầy, nhưng vẫn cứ im lặng tuân theo.  Ta nghĩ, chắc phải có lý do gì đó nên thầy mới quyết định đột ngột như vậy.

Ngưng một lát, cụ tiếp:

– Ngày xưa theo chân cha, ta bôn tẩu giang hồ từ lúc còn bé.  Hết về xuôi buôn muối, ta lại lên ngược buôn trâu.  Rong ruổi khắp núi rừng Quảng Ngãi, lặn lội vào mãi tận Sông Ba, Bình Khê Bình Định… đến một ngày tại huyện Tuy Viễn cuộc đời ta bắt đầu chuyển hướng.  Ta làm lễ bái sư nhập môn học võ, theo thầy làm đệ tử.  Cha ta là bạn vong niên thân thiết của thầy.  Thầy có vợ nhưng không có con, nên cha ta đồng ý cho thầy nhận ta làm “nghĩa tử minh linh”.  Từ đó ta được chân truyền võ nghệ và cuối đời thầy chọn ta làm chưởng môn nhân y bát (2).  Ta mang đệ của con về nuôi, ngày đó chỉ làm theo lời dạy mà không hiểu hết được tâm ý của thầy.  Quan niệm “Tôn Sư trọng đạo” ăn sâu vào tâm não con nhà nho giáo thời đó, chứ ta đâu biết hậu ý của sư phụ lo lắng cho ta khi tuổi về già.

Nói đến đây, ánh mắt vị sư già sáng lên niềm kính phục lẫn ngưỡng mộ:

– Sư phụ ta giỏi lắm, văn võ song toàn.  Ông thông thuộc cả “Dịch số Mai Hoa” nhưng cả đời chẳng hề bói toán cho ai.  Ngày ấy ông âm thầm gieo quẻ, chấm số tử vi cho ta, do đó thầy biết đời ta cô độc, sống không vợ không con.  Ta thuộc quẻ Ly, trong cung “thê tử” thì lẻ loi đơn chiếc nên thầy muốn giúp ta tìm một đứa bé nhận làm con nuôi để đở đần lúc tuổi già xế bóng.  Đến nay nó đã theo ta được 14 năm.  Nghề võ thì làng xàng vài ba bài quyền cước kiếm côn, chưa thỏa chí bình sanh.  Còn nghiệp văn chỉ mới chập chững bước vào bậc trung học.  Nó cần phải học hành dùi mài nhiều hơn nữa, cả võ lẫn văn, nhưng ta thì tuổi già rồi, nhất là khi nhận được tin chính xác sư huynh của con đã về tìm ta đôi ba bận ở quê nhà.  Con người đó đi tìm ai thì lành ít rủi nhiều.  Mai này không may ta có mệnh hệ nào, xin nhờ con thay ta nuôi dưỡng và dạy dỗ em khôn lớn thành người hữu ích, đừng bỏ bê nó tội nghiệp.

Sư cụ ngừng lời đột ngột, cố nén tiếng thở dài u uất, buồn bã nói tiếp:

– Cả đời ta không vướng lụy điều gì to lớn, duy chỉ có một sai lầm không thể tẩy rửa được là đã nhận sư huynh con làm đệ tử.  Ta đau lòng, xấu hổ với sư phụ, sư môn nên xuất gia để ăn năn hối lỗi.  Bí quyền “Lôi Vũ tề mi” nhất định không để lọt vào tay tên phản đồ.  Hãy nhớ lời thầy.

Sư cụ dứt lời.  Xa xa, vọng lại tiếng gà gáy sang canh.  Trăng lưỡi liềm đã ngã về non.  Mãi lúc đó thầy trò mới chia tay đi nghỉ.

***

      Một năm sau…

Càng ngày cộng quân càng bành trướng chiến tranh, gia tăng cường độ lấn chiếm.  Chúng bắt đầu mở những mặt trận qui mô ở Quảng Trị, An Lộc, Bình Long… Ngân – tên người thanh niên học trò của vị sư già – phải theo đơn vị hành quân liên miên, không có dịp về thăm thầy.

Mãi đến một ngày, Ngân nhận được bức điện tín gởi đi từ đơn vị Địa phương Quân đóng tại Cầu Ông Dân, báo hung tin sư phụ anh vừa từ trần.  Ngân đau đớn bàng hoàng, lập tức xin phép về xem hư thật.  Vị sĩ quan chỉ huy cấp quân xa và tài xế để Ngân tiện đi lại nhanh chóng, vì đơn vị cũng đang hành quân trong địa bàn Thạch Trụ – Mộ Đức gần đó.  Trên đường về, Ngân miên man suy nghĩ, hoang mang không biết sự việc như thế nào.  Mới tuần trước anh còn nhận được thư sư phụ cho biết vẫn khỏe mạnh, cớ sao nay lại có bức điện quái lạ này.  Anh mong chóng đến nơi.

Xe vừa dừng ở trạm gác đầu cầu Ông Dân, Ngân đã vội xuất trình Sự vụ lệnh và nói rõ lý do xin gặp đơn vị trưởng.  Anh đợi một lát thì có người ra mời vào hầm chỉ huy để diện kiến vị sĩ quan đại đội trưởng.  Sau khi chào kính, Ngân tự giới thiệu tên họ, cấp bậc, thuộc đơn vị Trinh sát Sư Đoàn 2.  Anh nói thêm:

– Thưa trung úy, tôi là đệ tử của vị sư trụ trì và cũng là người đã nhận bức điện tín báo tin dữ của trung úy gởi.

Vị sĩ quan gật đầu ra ý đã hiểu.  Ông gọi người Hạ sĩ quan thường vụ đại đội, ban vài khẩu lệnh ngắn ngủi.  Lập tức một tiểu đội binh sĩ được tập họp để hộ tống hai vị sĩ quan ra chùa. Trên đường đi, sau khi hỏi thăm sức khỏe Ngân, vị trung úy bùi ngùi nói:

– Rất tiếc chúng tôi phải nói lời chia buồn cùng thiếu úy.  Mới tuần trước, tôi còn ghé chùa nghe sư cụ giảng giải về chữ Nhẫn của người quân tử, thế mà hôm nay ông đã ra người thiên cổ.

Vị trung úy thở dài im lặng rảo bước rồi đột ngột quay nhìn Ngân, ông có vẻ giận dữ nói gằn từng lời một:

– Bọn chúng dã man thật…

Khi nói đến đây thì cũng vừa lúc vào đến cổng chùa.  Vị trung úy bỏ lửng câu nói, gật đầu chào đáp lể dân làng.  Ngân hồ nghi trong lòng nhưng không kịp hỏi.  Anh linh cảm cái chết của sư phụ hình như có gì uẩn khúc.

Trước hiên chùa, một cái rạp mới dựng che sơ sài.  Dân trong làng đến tham dự tang lễ đông đúc.  Linh cửu của vị sư già trụ trì được quàn ngay cửa chùa, nhang đèn hương khói nghi ngút.  Chú tiểu đang quỳ cạnh quan tài.  Nghe tiếng người lao xao, chú ngẩng nhìn lên thấy sư huynh về, chú chạy ùa ra ôm lấy Ngân, vừa khóc nức nở vừa nói:

– Huynh ôi! Sư phụ đã bỏ chúng ta đi rồi.

Vị sĩ quan trẻ gục đầu trước linh cửu sư phụ, nghiến răng không thốt nửa lời.  Ngân không khóc mà nước mắt cứ tuôn ra thành dòng.  Bầm gan tím ruột, lòng đau như ai vò xé.  Vì đâu xảy đến nông nỗi này?  Ai đã gây ra cảnh đoạn trường biệt ly?  Sư phụ ra đi mà anh không được nhìn mặt lần cuối cùng, không được nói một lời tiễn biệt.  Ân hận nghìn đời.  Người chiến binh cộng hòa từng vào sinh ra tử mắt như toé lửa, nắm đấm bóp chặt như muốn nghiền nát kẻ thù đã gây ra cảnh tang tóc.  Quỳ bên cạnh, chú tiểu thương thầy khóc đến lả người.  Dân làng cũng sụt sùi rơi lệ.

Vị trung úy đứng yên lặng hồi lâu chờ Ngân qua cơn xúc động.  Ông bước đến đốt nắm nhang trao cho Ngân.  Mọi người ai nấy đều giữ im lặng.  Họ trân trọng giây phút nghĩa tình thiêng liêng của hai môn đồ đối với thầy.  Trên bàn thờ, đôi mắt vị sư cụ hiền lành, nhân ái như phảng phất thoáng mỉm cười hài lòng.

Một cụ già trọng tuổi là tiên chỉ trong làng, bước đến nâng nhẹ anh em Ngân dậy, giọng nói đượm buồn:

– Hai cháu đừng bi thương quá đỗi.  Hãy để sư cụ ra đi về đất Phật được thanh thản.  Bây giờ hai huynh đệ vào trong rửa mặt, thay quần áo rồi chuẩn bị làm lễ phục tang.

Ngày sư cụ còn sống đã để lại trong lòng người dân biết bao niềm kính mến, ngưỡng mộ.  Đến nay người ra đi, dân làng xa gần quy tụ về đông đúc tiển đưa người trong sự nuối tiếc, thương yêu.

Theo chương trình tang lễ, vị sĩ quan đại đội trưởng thay mặt bà con làng xóm lên nói lời chia buồn.  Đồng thời theo lời yêu cầu của một số người chưa rõ sự việc và nhất là của Ngân, ông tường thuật lại chi tiết cái chết của sư cụ.

“Cũng như mọi năm, mùa lũ đến là lúc cá bắt đầu sinh đẻ, theo con nước dâng tràn lên đồng kiếm chổ.  Cả mấy tuần qua hể đêm nào có mưa lớn thì dân ở đây và các thôn kế cận đua nhau đốt đuốc đánh bắt cá.  Vấn đề kiểm soát an ninh trở thành khó khăn.  Các vị thôn trưởng có đến họp bàn với chúng tôi để tìm biện pháp, nhưng vì đời sống người dân ở đây cơ cực quá, hiếm có dịp may như thế.  Do vậy trong khả năng, hàng đêm chúng tôi đã gởi ra ngoài hai trung đội nằm kích ở nhiều tọa độ khác nhau để giữ an ninh, bảo vệ dân.  Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện Việt cộng sẽ tấn công vào chùa, bởi chùa vốn là nơi tu hành tôn nghiêm, không màng đến chuyện đời.  Nhưng rất tiếc, điều không tưởng vẫn cứ xảy ra.  Vừa qua VC đã làm những điều tàn ác dã man đó.  Chúng khoảng mười tên mặc áo mưa đội nón lá giả dạng làm người đánh bắt cá, đột nhập vào chùa giết chết vị sư già vô tội đáng kính.

Đến nay chúng tôi vẫn không hiểu lý do tại sao chúng hành động vậy.  Chỉ vài phút sau khi súng nổ, một tiểu đội phục kích gần đó đã có mặt.  Khi binh sĩ chận đường chúng rút lui và mở đợt tấn công, VC bắn trả quyết liệt và chạy về hướng có đông người dân.  “Vô kế khả thi”, vì sự an toàn của dân, binh sĩ đành thúc thủ để chúng đào thoát.  Tôi liền điều động một tiểu đội khác vào chùa cứu sư cụ, nhưng rất tiếc – vị sĩ quan thở dài – vết thương nặng quá, sư cụ chỉ còn thoi thóp thở.  Trước khi chết, sư cụ trối trăn lại nhờ tôi nói với thiếu úy là phải lo bảo bọc, nuôi dưỡng chú tiểu thành người và quên đi chuyện này, không được trả thù.  Người đưa tôi địa chỉ đơn vị của thiếu úy và hôm nay, tôi đã hoàn thành di mệnh của người chết ủy thác.”  Ông lại thở dài: “Sư cụ từ bi quá, tha thứ cả cho kẻ đã giết hại mình”

Vị sĩ quan chấm dứt câu chuyện.  Không khí lễ tang chìm trong im lặng nặng nề, lẫn tiếng sụt sùi thương tiếc.

* * *

       Sau khi an táng sư phụ, chú tiểu và Ngân đi đến cám ơn cụ tiên chỉ, ban đại diện thôn ấp và bà con dân làng.  Cuối cùng, Ngân đến chia tay với vị sĩ quan tốt bụng và dũng cảm.  Trong căn hầm chỉ huy lúc này chỉ có hai người, Ngân khuyên vị trung úy nên đề phòng cẩn thận, có thể trong những ngày sắp đến sẽ có đánh lớn.  Khi vị sĩ quan hỏi lý do, Ngân trầm ngâm giây lát rồi quyết định tiết lộ cho vị trung úy nghe một câu chuyện bí ẩn.  Anh nói:

– Vì cảm kích nghĩa khí và lòng yêu thương sư phụ mà trung úy và anh em trong đơn vị đã dành cho thầy tôi, đồng thời cũng để bảo toàn sinh mạng cho binh sĩ của trung úy, tôi sẵn sàng kể một câu chuyện có liên quan đến cái chết của sư phụ tôi, gọi là đền đáp chút tình tri ngộ:

“Sư phụ của thầy tôi vừa là cháu, vừa là truyền nhân đời thứ tư của Đại Tư Đồ Võ văn Dũng.  Năm Nhâm Tuất 1802 vận nước không may, thành Nghệ An bị thất thủ, kết thúc triều đại Tây Sơn.  Tháng 11 năm đó, các tướng lãnh bị thảm sát tại thành Phú Xuân.  Thiếu phó Trần quang Diệu – người dũng tướng bậc nhất của vua Quang Trung – quắc mắt ngẩng cao đầu, thản nhiên đón lưỡi gươm phục thù hèn mạt của Nguyễn Ánh, trong khi người vợ là Nữ tướng Bùi thị Xuân dửng dưng nhận cái chết voi giày.  Quan phụ chính Trần văn Kỷ thì gieo mình xuống Ngã Ba Sình tuẩn tiết, để trọn tình với người tri kỷ.  Riêng Đại tư Đồ Võ văn Dũng đã trốn thoát được về vùng An Khê ẩn náu, quyết không chịu thảm tử hoặc khuất thân làm tôi mọi cho Gia Long.  Người dân thượng vùng này hết lòng che chở, bảo vệ ông khỏi sự truy lùng gắt gao của kẻ thù. S au này tuổi về già, ông mang bệnh rồi từ trần.  Ông ra đi để lại cho đời sau một tấm gương anh hùng khí phách và cho dòng tộc một bí kíp quyền phổ gia truyền. T hầy tôi là người ngoại tộc nhưng vì sư phụ của thầy không có người nối tự, vả lại là nghĩa tử minh linh, nên thầy tôi được chân truyền công phu và thừa kế y bát.

Tôi có duy nhất một người sư huynh.  Ban đầu sư phụ rất kỳ vọng vào người này, nhưng sau đó mới biết anh ta là con người thâm độc giảo hoạt, nhất là đang đi theo con đường phản dân hại nước, ngược lại với tôn chỉ từ bi hướng thiện của sư môn.  Từ đó thầy tôi từ chối truyền thụ quyền phổ, nên anh ta đâm ra hận thù, đã nhiều lần cùng đồng bọn đến hăm dọa thầy tôi.  Nếu như bình thường chỉ năm, mười tay dao búa thì sư phụ tôi có coi vào đâu, nhưng đàng này chúng đem cả súng đạn tới uy hiếp, do đó thầy tôi đành bỏ xứ ra đi.  Tưởng rằng như vậy đã được yên thân, nhưng cách đây hai năm gia đình thầy ở Tuy Viễn báo tin, sư huynh vẫn tiếp tục truy lùng tông tích thầy, hễ anh ta đi tới đâu là gieo rắc kinh hoàng tới đó.  Nghe đâu anh ta là chính ủy một trung đoàn đặc công của Sư đoàn 2 Cộng sản Bắc Việt.” Ngân thở dài buồn bã tiếp lời:

– Thầy tôi nhân từ đức độ quá. Người không muốn xảy ra thảm cảnh huynh đệ tương tàn, nên không muốn tôi trả thù. Nhưng tôi là một quân nhân, trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc phải được đặt lên hàng đầu, nếu tha không giết anh ta hoá ra là đã “Dưỡng hổ di họa.”

Ngân nhìn vị trung úy rồi nghiêm trang nói tiếp:

– “Trong tình chiến hữu, tôi không thể thấy chết mà không cứu.  Sư huynh tôi là thủ trưởng của một đơn vị chuyên đi điều nghiên tình hình thực tế, vẽ phóng đồ tác chiến và lên kế hoạch hành quân.  Do đó, nơi nào có mặt anh ta xuất hiện thì hầu như sẽ có những trận đánh lớn mở màn tiếp theo sau đó.

Trong trường hợp này giả thiết vì truy tầm thầy tôi mà anh ta bỏ đơn vị đến đây là không đúng, bởi vùng hoạt động của đơn vị anh ta ở phía Tây-Nam Quảng Ngãi, bên kia đèo Bình Đê thuộc vùng II chiến thuật.  Còn ngẫu nhiên thì càng không thể, vì có ai biết vị sư già kia là một tay võ nghệ siêu quần bạt chúng đâu.  Do đó, chỉ còn lại là chuyện công tác kết hợp cùng với chuyện riêng tư.  Thời gian gần đây, đơn vị viễn thám chúng tôi đã tái xác nhận nguồn tin của Liên toán Nha Kỹ Thuật về những dấu hiệu của địch xuất hiện lảng vảng gần khu vực Sa Huỳnh.  Điều đó là chính xác.  Nay cơ duyên được gặp ở đây, sư đồ chúng tôi thọ lãnh cái ơn mà anh em binh sĩ và trung úy đã lo lắng cho sư phụ đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, nên tôi xin thông báo tin tức này để trung úy đề phòng, hầu tránh hao tốn máu xương thuộc cấp.  Tuy nhiên, cũng không nên phổ biến gây hoang mang tinh thần binh sĩ và dân chúng.”

Ngày hôm sau, huynh đệ Ngân chia tay với dân làng và quân nhân các cấp tại Cầu Ông Dân.  Hành trang của chú tiểu mang theo chỉ gồm vài bộ quần áo nâu sòng và một cây trường côn của sư phụ để lại đã lên nước bóng láng.  Ngân và sư đệ chấp tay bái tạ dân làng, xin gởi gắm lại phần mộ của thầy nhờ chăm sóc.  Vị trung úy đại đội trưởng tiễn chân hai người ra đến tận xe.  Lòng ông dạt dào niềm thương mến lẫn kính phục người sĩ quan trẻ tuổi tình cảm nhân hậu, thủy chung và sống đời có lý tưởng.

* * *

       Ba tháng sau.

Đúng vào hôm làm tuần 100 ngày cho sư cụ, cũng là thời điểm mở màn của trận chiến đẫm máu.  Hòa đàm Paris ký kết chưa ráo mực là quân Bắc Việt đã tráo trở.  Chúng xử dụng hai trung đoàn 52 và 141 của Sư đoàn 2 Bắc Việt mở cuộc tấn công chiếm cửa khẩu Sa Huỳnh.  Một tiểu đoàn Địa phương quân trấn đóng ở đây đã anh dũng cầm cự nhiều ngày, nhưng dưới áp lực nặng nề của đại pháo và biển người địch, đơn vị trưởng đành ra lệnh rút lui để bảo toàn sinh mạng cho binh sĩ.  Trung đoàn 52 là đơn vị của sư huynh Ngân.  Riêng đại đội Địa phương quân tại cầu Ông Dân vì đã đề phòng từ trước theo lời khuyên của Ngân, do đó hầu như không bị tổn thất nhân sự nào.  Họ rút về phòng thủ tại Núi Dâu. 17 ngày sau, vị tướng Tư lệnh Sư đoàn 2 BB cũng là tư lệnh Tư lệnh mặt trận thuộc Quân Lực VNCH, sau khi củng cố lại lực lượng, ông ra lệnh tấn công tái chiếm.  Trước sức mạnh và lòng quyết tâm của toàn thể binh sĩ Bộ binh và Biệt động Quân, các đơn vị địch bị đánh tan tác, xé nhỏ ra từng mảnh vụn phải tháo chạy về Trường Sơn.  Quyết không tha, vị tướng ra lệnh cho phi-pháo tiếp tục oanh kích.  Ngày đêm tiếng bom, tiếng đạn pháo nổ rung trời.

Những đơn vị truy kích thu được hàng núi vũ khí và tài liệu mật.  Đại đội Ngân cũng được lệnh truy tìm cho bằng được những tên đầu sỏ của kế hoạch xâm lăng.  Anh dẫn toán quân theo hướng Tây-Nam, đi sâu vào vùng biên giới Trường Sơn.  Ngân vẫn nhớ lời thầy căn dặn lúc lâm chung, nhưng như có một ma lực thôi thúc, anh cứ dấn bước lần theo dấu vết người sư huynh hung tàn, bất nghĩa, bất nhân.  Một đêm, toán quân dừng chân tạm nghĩ trên vùng địa giới An Nhơn, Bình Định.  Ngân đang nằm trên võng thiu thiu ngũ, bỗng thấy từ hướng núi sâu mờ mịt hiện ra một vầng sáng nhỏ bé đang loang rộng dần, tiến đến gần.  Ngân nghi ngờ có chiến xa địch xuất hiện.  Anh muốn vùng dậy báo động, nhưng thân thể anh như bại liệt, không chỗi dậy nổi.  Ráng thử vài lần vẫn bất lực, Ngân đành đưa mắt quan sát.  Nhưng không, từ trong vầng sáng rực rỡ tỏa lớn dần như ánh hào quang kia xuất hiện một lão ông râu tóc bạc phơ, dáng dấp tiên phong đạo cốt, mặc huỳnh bào thêu hổ, đầu đội kim khôi, tay chống thiết trượng, đang đạp mây đi về hướng đóng quân.  Khi đến gần Ngân, lão ông đưa tay chỉ vào đám mây đang vần vũ dưới chân, không nói nửa lời.  Mây tan dần.  Ngân nhìn thấy một người cụt đầu đang quỳ mọp dưới chân ông lão, hai tay bị trói quặt sau lưng, trước ngực mang một tấm bảng đề rõ hai chữ đỏ chói : “trảm thủ”.  Ngân chưa kịp hiểu ra sự việc thế nào thì lão ông đã quay người bước nhanh về hướng núi ngàn.  Phất phơ trong gió lộng, Ngân còn nhìn thấy sau lưng chiếc giáp bào của ông có thêu một chữ “Võ” thật lớn.  Cùng lúc, trong không trung rền vang những âm ba dữ dội của hàng loạt bom được thả đi từ trên phi cơ.

Ngân tỉnh giấc. Thì ra anh vừa trải qua một cơn mộng.  Ngân bâng khuâng cố suy nghĩ nhưng không hiểu gì cả.  Hôm sau, đơn vị có lệnh tiến vào lục soát khu vực phi cơ đánh bom.  Binh sĩ báo lên cho Ngân biết vừa tìm thấy một số thi thể địch quân.  Ngân đến nơi quan sát, bỗng anh giật mình.  Một cái xác cụt đầu, chiếc xắc-cốt còn treo tòn teng trên vai. Ngân chợt nhớ lại giấc mơ.  Anh lập tức ra lệnh mở xắc-cốt.  Bên trong, ngoài một ít đồ dùng cá nhân còn lại toàn là phóng đồ, hồ sơ tài liệu mật về kế hoạch hành quân, cường kích, phòng thủ, rút lui… và một quyển nhật ký đẫm máu.  Ngân đọc lướt qua và anh đã biết cái xác ấy là ai. T hì ra vị thần tướng họ Võ của triều đại Tây Sơn, cũng là sư tổ của Ngân đã hiển linh báo mộng cho anh biết hình thức trừng phạt đối với tên phản đồ khinh môn sát sư.  Quả là “ác giả ác báo”, điều đó thuận lẽ trời, hợp với luật nhân quả báo ứng.  Còn đối với Ngân, người sĩ quan Quân Lực VNCH trung hậu, cũng đã giải quyết được một vấn đề nan giải, không trái lời thầy mà cũng không phụ lòng tin của Tổ quốc.

***

       Sau ngày chiến trận Sa Huỳnh chấm dứt, người dân hiền lành yêu chuộng tự do lại dắt díu nhau trở về xây dựng cuộc sống mới, dưới sự bảo vệ an ninh và giúp đỡ của quân đội, chính quyền Quốc gia.  Họ bắt tay làm lại từ đầu.

Ngân được đi phép.  Anh và chú tiểu có dịp về thăm mộ thầy và ngôi chùa nơi người sinh sống, nay bỏ hoang phế không ai coi ngó.  Tại đây, anh nghe dân làng kể lại một câu chuyện kinh dị.

“Vào một đêm khuya, trời đầy mây vần vũ u ám.  Dân làng và lính trong đồn nghe tiếng kêu khóc ai oán, thê lương phát ra từ mái chùa hoang.  Tò mò họ hé cửa nhìn ra, thấy dưới ánh sao mờ một con người cụt đầu, mặc quân phục kaki bộ đội bê bết đầy máu, đang thất thểu đi về hướng ngôi mộ của vị sư già.  Đến nơi, người đó quỳ lạy và khóc than ra vẻ ăn năn hối lỗi, khoảng mươi phút sau thì biến mất.  Sau đó, sự việc cứ cách vài hôm lại tái diễn một lần như thế.  Dân làng sợ sệt và đoán biết đó là oan hồn của người lính Bắc phương hung ác, nay trở về xin sư phụ tha thứ lỗi lầm oan nghiệt đã gây ra.”

Trước hôm về lại đơn vị, Ngân và chú tiểu sắm lễ vật ra cúng thầy.  Trước mộ, Ngân quỳ lạy van vái linh hồn sư phụ sớm siêu thoát về cõi Niết bàn và xin thầy từ bi, độ lượng tha thứ tội lỗi cho người sư huynh sai đường lạc lối đã đền nợ máu, nay hồi tâm biết ăn năn hối cải.

Xa xa tiếng ai hò vọng ra từ thôn xóm:

   “Nước trong, nước đục tại dòng,
Sao anh thay dạ đổi lòng ai ơi.”

Trời trong vắt, mây lãng đãng trôi, thoảng trong thinh không tiếng gió rì rào, vi vu như linh hồn vị sư già nhân hậu đang trở về, lắng nghe lời cầu khẩn van xin của hai đứa học trò yêu quý, trung nghĩa vẹn toàn.*

Atlanta, 2002

        (1) Nẫu: người ta

        (2) y bát: áo cà sa và chiếc bát đi khất thực.  Ý nói là người được chọn đứng đầu môn phái.

       * Trích Tuyển Tập: “Người khắc tên bia mộ”

http://www.bietdongquan.com/baochi/munau/munauso24.htm

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s