TÔI ĐI TÌM ANH

PHẠM HỮU HUÊ

Trên bến Gia Hội  Huế năm 1986…Vào một buổi trưa hè  khi tôi đang loay hoay với công việc của một người phụ lái thuyền khách thì gặp một người thân bất ngờ, đó là anh Đào Ngọc Tố, người Sĩ Quan Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng của năm nào ở trường Đại  Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt… Không  phải dun dủi tình cờ mà do cố tình đi tìm lại người cựu SVSQ của mình sau 10 năm xa cách và cũng là lúc mà tôi đang chao đảo chiếc thuyền đời đằng sau một cuộc tình sộc sệch về hoàn cảnh và tuổi tác. Với  nhiều cảm thông và trân quí, cuộc gặp gỡ như  mơ hồ vì từ ngày vào lính cho đến khi ra trường, bản thân tôi đâu dám gần gũi với “ổng”. Châm ngôn, kỷ cương của sinh viên sĩ quan là phải luôn giữ gìn quân phong quân kỷ,tác phong và tư cách.Mỗi lần thấy sĩ quan cán bộ là ví như  thấp thoáng “cánh gà trung sĩ” đâu đây ẩn hiện. Như một thông điệp yêu thương, anh Tố nhắn nhủ gọn gàng “Hãy bảo vệ những gì đã có…” và cũng từ đó, tôi biết nhìn tới nhìn lui, biết kiên nhẫn, chịu đựng biết can cường dấn thân nên con thuyền hạnh phúc vẫn lướt sóng, vượt nhiều bão táp, phong ba, năm đứa con ra đời mà bố mẹ lúc nào cũng thấy yêu đời…

Tháng 11/2005 vào dịp lễ Tạ Ơn, vợ chồng tôi có bữa cơm gia đình mừng 25 năm chung sống.Giữa không khí vui tươi và nhiều lời chúc tụng bình thường, tôi mĩm cười nhớ về anh , Cựu Đại Úy Đào Ngọc Tố thầm cám ơn với niềm thương cảm sâu xa. Hòa nhập vào không khí sôi nổi này, một người khách ngoại quốc là bạn ở sở làm hỏi tôi pha ngạc nhiên sao lâu thế mà chưa chia tay? Đến 25 năm rồi cơ à…

Đầu mùa Xuân 1973, tôi có dịp nhìn lại phi trường Cam Ly khi được nhập đoàn vào đoàn quân khóa NT 3 lên đường đi chiến dịch ở Quãng Ngãi để giải thích cho quần chúng về hiệp định Paris.Thời gian này khóa 4 chúng tôi vừa được gắn alpha. Khi lần đầu tiên đến đây ,Cam Ly , ai cũng quá ngỡ ngàng nhưng thú vị. Cùng với các bạn, khi vừa rời chiếc C123 bay từ Tân Sơn Nhất về với đầy đủ quân trang cá nhân, một luồng không khí tươi mát ập vào với quanh đây là một vùng núi đồi tươi xanh chập chùng uốn khúc và những cánh rừng thông dày đặc đang thong thả vi vu trước gió. Cả một không gian nhẹ nhàng trong sáng, yên tĩnh đẹp y như một bức tranh tuyệt vời… Những chàng SVSQ Thủ Đức chúng tôi lại bất ngờ đối diện với một số quân nhân phục sức sang trọng trong những bộ Jaspe, quân phục  dạo phố mùa Đông, đang hiền hòa vui vẻ đón chào. Họ nêu tên những người chúng tôi một cách thân mật như đã quen biết nhau từ lâu lắm rồi:

-Chào anh Ái, anh Thẩm, anh Nguyễn Tấn Đức… anh là Phạm Như Nghĩa? Còn anh là Giang Văn Thuật, anh Trần Hữu Dũng, anh Luyện các anh đi đường có mệt không? Ngôn ngữ của họ sao mà lịch lãm, phong cách lại oai vệ, cử chỉ nhẹ nhàng mà dứt khoát…Một hình ảnh sâu đậm đầy ấn tượng đang bắt đầu cho đời làm SVSQ hiện dịch. Chúng tôi thầm đọc tên trên túi áo của họ: SVSQ Lê Nho, SVSQ Trương Văn Vấn, SVSQ Nguyễn Văn Mỹ, SVSQ Đoàn Chức.

https://i2.wp.com/www.vnafmamn.com/photos/dalat_camly.jpg

Sáng sớm ngày 26 tháng 1 năm 1973 tại phi trường cam Ly-Đà Lạt…..Theo sau tiếng depart đạn pháo của cộng quân, tất cả chúng tôi phân tán mỏng và phóng xuống các giao thông hào quanh phi trường. Những tiếng nổ lớn rải rác quanh vòng đai. Địch cố cô lập bãi đáp,cố tình ngăn cản đoàn quân tung ra chiến dịch.Trên không trung hai chiếc C130 đang bay vòng quanh, thình lình đáp khẩn cấp lại phóng vút lên trời trở lại sau những tiếng nổ cối 82 đằng sau phi đạo. Chúng tôi nằm trong lòng thửa ruộng dâu đang mùa trái với nhiều chùm  đỏ mọng. Tinh thần Tân Khóa Sinh mới mấy tháng qua đã giúp anh  em khóa 4 chúng tôi đối diện chiến trường nhẹ nhàng và đỡ bỡ ngỡ. Chiếc ba lô nặng trang bị hành quân, khẩu M16 với xạ biểu đã điều chỉnh, nón sắt giầy trận thật quen thuộc và chúng tôi đang ở trong vị thế sẵn sàng chờ đợi… Cũng từ hố cá nhân nhìn ra, thấy “hung thần” đang bốc máy điều động.Ông đội chiếc nón sắt ngụy trang có kẹp cái băng cá nhân, mình mang áo giáp, lưng đeo giây ba chạc, lủng lẳng khẩu colt 45 phía sau được móc vào sợi TAB gọn gàng  trông thật oai vệ hùng dũng.Đó là Thiếu Tá Nghiêm Viết Thành, Liên Đoàn Trưởng SVSQ – một nhân vật khét tiếng Regclo, biểu hiện cho một thứ kỷ luật sắt đá mà mỗi anh em được thừa hưởng sự can cường sau khi ra trường và mãi mãi trong đời.

Như những con chim non tách bầy, những đối tượng chọn lọc khóa NT4 theo chân đàn anh đang thừa hưởng khung trời tự do sau những ngày huấn nhục đầy cam go thử thách. Tôi không dám nghĩ nhiều về những ngày địa ngục trần gian vừa qua, chỉ biết mình vừa giã từ một giai đoạn để đời và trước mắt mình, một thế giới trời cao đất rộng đang chờ.Thật thú vị biết bao! Tạm xa những kỷ luật giờ giấc bất di bất dịch từ ăn, ngủ, sinh hoạt, tạp dịch, diễn hành, phòng thủ, những trình khám vũ khí và phòng ốc vào chiều thứ bảy cùng những đêm trực gác, dã chiến ba lô nón sắt chạy vòng vòng vũ đình trường, nhịp đếm 1, 2, 3 vang dội rừng thông  trong cõi đêm thinh lặng.

Mùa Xuân 1973 cũng là lúc toàn quốc phải đối diện với khúc quanh của lịch sử : Bản hiệp định Paris được ký kết, tiến hành ngưng bắn và vãn hồi hòa bình. Vùng I, nơi chiến trường cao độ, dân trí với trình độ chính trị cao – được đặc biệt phân phối hai tài nguyên phong phú nhất của quân đội: Đó là lực lượng SVSQ trường VBQG/ĐL và Liên Đoàn SVSQ/TĐH/CTCT. Các đơn vị nhỏ nhất như ấp, thôn xã trường học, đều được tổ chức thuyết trình mạn đàm để giúp người dân thấu rõ lập trường quốc gia và những âm mưu sắp đến của CS trong việc lấn đất dành dân. Thật là thích thú được nhìn thấy các niên trưởng đàn anh khóa 3 đã ứng dụng những kỷ năng thông đạt, các nghệ thuật ăn nói trước quần chúng cùng  khối kiến thức phong phú để đối ứng trong các cuộc thuyết trình. Dân chúng có dịp hiểu rõ hơn về những tinh hoa của tài nguyên quốc gia khi có dịp đi sát vào lãnh vực quân sự chính trị và văn hóa. Đặc biệt chương trình văn nghệ do các khóa đàn anh dày công biên soạn được tái thực hiện tại Trường Nữ Trung Học Quãng Ngãi và Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu .Đó là vở hÙng kịch Tiếng Hẹn Non Sông, Lời Nguyền Sát Đát. Dân chúng xem qua “bàng hoàng” trước nét phong phú của nội dung và vẻ đẹp tuyệt vời của các kiều nữ do NT2 Nguyễn Đức Phương và NT2 Võ Văn Hoàng thủ diễn. Đêm văn nghệ tuyệt vời phá vỡ biên giới do ảnh hưởng dân sống vùng xôi đậu, tạo được sự gần gũi tình cảm quân dân và chính nghĩa quốc gia.

Giao thừa năm ấy tại Nghĩa Hành, cả đơn vị trú đóng trong ngôi nhà làm trụ sở của chi bộ đảng Dân Chủ quận. Các niên trưởng như Lê Văn Phú, Võ Phi Công, Vũ Trọng Khảo, Trần Xuân Choai, Phạm Cấn, Nguyễn Tấn Nẫm săn sóc đặc biệt đàn em trước nỗi buồn xa nhà lần đầu bằng một tiệc rượu… Nhớ nhà, nhớ cha, nhớ mẹ, màn đêm đen tối 30 vẫn còn lãng vãng nét đe dọa quân thù rình rập đâu đây. Tuổi trẻ chúng tôi đang đối diện quê hương còn ngập tràn hơi thuốc súng ,luôn ưu tư về một đường dài đầy thách thức chờ đợi cùng  những luận suy về vị trí chức năng một sĩ quan nòng cốt được xử dụng như thế nào trong quân đội, nhất là thực tế ở ngoài chiến trường. Nhóm đàn em như Phan Duyệt, Nguyễn Văn Hân, Diệp Văn Dũng, Nguyễn Văn Cư vẫn còn nóng máy quân trường, đã xúc động khóc la trong ràn rụa nước mắt với những nắm tay đấm và hư không. Trường mình sẽ có cấp tướng, mình phải xuất ngành, mình phải làm đơn vị trưởng… Thật cảm động anh Nguyễn Văn Khảo, Phạm Tấn Bàng đã dỗ dành chúng tôi như một bà mẹ kiên nhẫn, nhẹ nhàng. Suốt đêm còn lại niên trưởng Vũ Trọng Khảo đọc bài văn “Giao Thừa Khai Quân” của Hoàng Ngọc Tuấn cho nghe mà tôi còn nhớ rõ dư âm ngọt ngào đến bây giờ.

Anh em khóa 4 âm thầm bám gót các đàn anh, học hỏi tìm tòi và bổ sung thêm kinh nghiệm, kiến thức cho mình.Khóa 4 chưa qua một năm văn hóa, quân sự hay chính trị nào nên trong lúc này còn non nớt lắm. Do hoàn cảnh gần gũi từ huấn luyện chiến dịch và thời gian sinh hoạt nên sự lien hệ vẫn đậm đà như thuở nào, những kỷ niệm được nhắc nhở không quên dù 30 năm qua.

Một hôm trở về chỗ trú quân sau một buổi thuyết trình mạn đàm tại xã Nghĩa Khương, quận Nghĩa Hành, tôi đang lui hui lục ba lô tìm mì gói thì anh Khảo đến bên tôi bảo:

-Tôi đang tắm nơi cái giếng này, có cởi chiếc nhẫn khóa để trên cục đá kia thì bỗng một đàn vịt qua, một con nuốt mất chiếc nhẫn rồi, nhờ anh giúp tìm lại.

Tôi vội vàng chạy qua nhà chị Thà bán quán cũng là nơi cho ghi sổ bán chịu cho anh em. Chị bán quán và là chủ bầy vịt. Tôi xin mua “lửa” hết 5 con để làm thịt mong tìm lại chiếc nhẫn chợt anh Khảo đến bên cười bảo:

-Tôi thử đàn em đấy thôi, xem có bén nhạy không, đúng tinh thần quần chúng chiến là thế! Cây kim sợi chỉ của dân có muốn thế nào cũng phải trình bày thương lượng, tuyệt đối không xâm phạm tài sản của dân.Mình là cán bộ CTCT, phải thấu rõ việc ứng xử, thắng địch không quan trọng bằng thắng lòng dân là vậy đó.

Thực tế bên ngoài đã giúp chúng tôi thêm bản lãnh : Biết tổ chức phòng thủ, sửa soạn thuyết trình, tập lý luận, thực tập ăn nói, bén nhạy âm sắc ngôn ngữ địa phương, kết hợp tập quán tâm lý tình người. Sau mỗi hàng tuần chúng tôi về phố Quãng Ngãi và thường ngồi uống cà phê trong quán Mộng quán Chiều hoặc ăn cơm tại nhà hàng Bắc Sơn, Bắc Hải. Một vài anh đào hoa cặp mấy cô trường Nữ dạo chơi, xem cine nên đời sống thật sôi nổi và tháng ngày qua mau.

Thời tiết  miền Trung nóng dần. Mồ hôi thấm thành quàng vào bộ quần áo ủi hồ cứng ngắc, sột soạt theo từng nhịp chân trông thật phong sương. Chiếc bê rê in phù hiệu quân trường, đôi giày MAP đen bóng, màu áo trận xanh có kèm chiếc foulard da trời đã trở thành quen thuộc với phố Quãng. Thỉnh thoảng bắt gặp bạn Trần Thịnh.Anh chơi nổi diện bộ tiểu lễ hè hồi gắn alpha tạo nét đẹp đơn độc, kiêu hãnh trên đường lớn. Hai chiếc alpha được đánh bong sáng choang và cũng từ đó anh được tặng danh hiệu Cadet Trần Thịnh. Một buổi trưa hè, tôi đang thưởng thức ly cà phê đá trước đông đảo các niên trưởng và các bạn, quán này nằm đối diện TTYT/TV Tiểu Khu, có cô thâu ngân đẹp, nét đẹp ngây thơ sầu kín. Tôi đang cố giữ tác phong tư cách cho đúng vì gần “mặt trời” quá thế nhưng tôi vẫn bị một niên trưởng mời ra ngòai “chỉnh”. Nhìn lại mình không rõ mắc lỗi gì thì vị đàn anh khóa 3 nghiêm trang bảo khăn quàng cổ của anh lệch ra một nửa bên ngoài cổ. Tôi đỏ tai lí nhí nhận lỗi và sau đó về lại chỗ ngồi. Cô quán chỉ biết đưa mắt ngạc nhiên nhìn làm tôi càng bối rối và nhịp tim đập mạnh hơn.

Khóa 3 xuống núi chúng tôi lưu luyến các anh giã từ. Quân trường trở lại nề nếp sinh hoạt đều đặn sau thời gian rộn ràng những nghi thức chuẩn bị cho lễ mãn khóa. Các anh đi để lại ban đầu nỗi chới với của một cái gì gần gũi thân quen vừa chợt mất… Từ căn phòng, tủ học, giảng đường văn hóa, bãi tập quân sự còn in dấu cũ. Đây là nỗi buồn nhớ đầu tiên mà về sau trở thành một chiếc cầu huynh đệ vô hình mà khắng khít: Lê Hùng Anh, Trương Văn Vấn, Nguyễn Văn Mỹ, Vọ Văn Màng, Trần Xuân Choai, Nguyễn Mậu Bình đã có một chỗ đứng trong long anh  em khóa 4 cho dù thời gian có làm vật đổi sao dời…

Trở lại Quãng Ngãi đợt hai, khóa 4 tự lập trong nhiệm vụ của mình khi đương đầu trong hoàn cảnh thực tế, được thu thập kinh nghiệm từ K3. Khóa 4 được tung vào chiến dịch trong sự nhịp nhàng và qui mô trong mặt trận dân vận này. Núi Ấn, song Trà trở nên thân quen gần gũi. Nhịp cầu từ lý thuyết qua thực hành tôi luyện thêm bản lãnh đời lính, tăng nhiều niềm tự tin cho mỗi người chúng tôi.

Lương SVSQ có kèm theo thực phẩm phụ trội thật vất vả mới đi giáp vòng được. Nhiều bạn bè phải cầm hơi và cuối tháng. Có được mì gói hiệu con gà của Quân Tiếp Vụ là quá tốt rồi, thế những bộ đồ lính vẫn thẳng nếp, tác phong vẫn chững chạc và nhất là mỗi chàng trai là một đấng hào hoa!

Đức Phổ, Mộ Đức các quận lỵ này nằm dọc theo Quốc Lộ I hướng  về Sa Huỳnh, Qui Nhơn. Dân chúng sống trên những mảnh đất cằn cỗi nhưng những ruộng lúa, cánh đồng mía vẫn tươi xanh nhờ sự cần cù chăm bón. Những căn nhà tranh vách đất theo các con đường làng, khi thì tựa mình theo sự uốn khúc của con sông, khi nằm thoai thoải lưng đồi. Len lỏi trong các thôn xóm, các toán SVSQ đến từng nhà dân mạn đàm, phân tích điểm lợi điều hại quyết giành từng người dân về phía mình. Tại Đức Phổ một số anem K4 đã gặp một vị niên trưởng đang là Đại Đội Trưởng Chỉ Huy Công Vụ của Trung Đoàn 6 Sư Đoàn 2/BB.Đó là anh Nguyễn Văn Ri NT1. Non nớt với ngày tháng K4 nhập ngũ, rời trường và chỉ gặp quí sĩ quan lien hệ mà thôi.Ấn tượng về một hình bóng che chở là niên trưởng mình như lời anh Hoàng Trai, NT3 tâm tình với chúng tôi thật xa vời.

Anh em đi gác ở các vọng Thăng Long, Chúc Động, Ninh Kiều, Đông Quan, Tây Đô thỉnh thoảng trong lúc ngủ gật, thấy các niên trưởng K2 tử nạn tại trường đến vỗ vai nhắc nhở và cảnh giác Việt Cộng đang rình rập phía trước mặt để giúp anh  em trở ề vai trò phòng thủ canh gác trước quân thù… Anh Nguyễn Văn Ri mỗi lần gặp đàn em đều ân cần thăm hỏi và thường đẩy cho một bao gạo tiếp hơi  bù vào những lúc thiếu hụt. Nghĩa cử ân tình này tiếp tục cho đến ngày chấm dứt chiến dịch. Khi trở về trường, âm vang về một vị đàn anh khả kính yêu thương và đầy cảm thông còn ghi mãi trong lòng mọi người. Nay anh đi rồi, cảnh cũ và kỷ niệm xưa còn đó và trên những nẻo đường lưu lạc có làm mờ đi hình ảnh yêu thương này không? Nếu nói rằng một ngày làm SVSQ thì một đời SVSQ, thì với anh một lần gặp gỡ, đời đến thuở nào quên!

Mùa Xuân 75, khóa 4 có hai đàn em là khóa 5 và 6. Trên gù vai dạo phố chiếc alpha kiêu hãnh có thêm hai gạch. Khi mãn phép thường niên và chờ đợi phi vụ trở về trường ,nhóm anh em hai khóa 4 và 5 vùng I khoảng 20 người  đang trể phép và tập trung chờ đợi tại căn cứ chuyển vận Đà Nẵng. Máy bay được ưu tiên cho chiến trường Thượng Đức để tiếp tế tải thương, vận chuyển đạn dược. Đó là trận chiến và phong ngự đồi 1062, cửa ngõ từ Hoành Sơn đổ xuống Đà Nẵng và Phú Lộc phía Tây Nam Huế. Trận chiến đến hồi gay cấn và ác liệt nhất. Sư Đoàn Dù đã chiến đấu anh dũng và thắng trận ngoạn mục, gây tiếng vang lớn dù cuối mùa, đớn đau thay!

Anh em ai cũng lo sợ khi về trường trình diện vĩ sĩ quan Liên Đoàn Trưởng và các sĩ quan cán bộ. Niềm lo lắng tăng dần theo số ngày trể phép nâng cao. Bao nhiêu số tiền đầu chi vào cà phê, ăn sáng khi các khóa hẹn nhau gặp gỡ nơi các quán lớn như cà phê Quỳnh Châu, Thùy Dương.Đó là nơi  thật sang trọng và là chỗ anh em gặp nhau với người yêu. Lệnh từ trường ban ra nếu không có phi vụ SVSQ phải tự túc mua vé Air Việt Nam trở về trường. Chúng tôi ngơ ngác, lo sợ vì hết tiền. Hai người bạn cùng khóa là Trần Đại Đãi và Lê Q Thông đã âm thầm mua vé về trước. Cơ hội ngày tháng này mà NT5 Nguyễn Văn  gặp Mai, NT5 Trần văn Hội gặp Thảo và có cuộc sống hạnh phúc đến ngày nay.

Vào một buổi tối, đang rảo bước trên đường Đống Đa, Đà Nẵng, tôi ngạc nhiên nhìn trước một xe jeep vừa dừng. Một sĩ quan mặc đồ hoa dù bước xuống tươi cười bắt tay, hỏi han và tự giới thiệu là một NT2 ở binh chủng Nhảy Dù, đơn vị đang hành quân ở Thượng Đức. Hôm nay thấy đàn em Alpha đen dập dìu trên phố Đà Nẵng mà thấy nhớ trường xưa quá… anh vui vẻ rút ra số tiền hai chục ngàn đồng (lớn lắm) bảo rằng anh không có thì giờ gặp và uống cà phê với mấy em, hãy giữ số tiền này và lo cho anem vui vẻ, đó là tháng lương của anh đấy! Từ mừng rỡ bất chợt đến vui mừng và cảm động, tôi nhìn theo chiếc xe đến khi khuất bóng. Mỗi lần hồi tưởng đến vị đàn anh này, ký ức len lỏi tìm về kỷ niệm ngày tháng cũ, ưa ngắm nhìn lại một ngôi sao thần tượng giữa đời lính… và đến bây giờ, tôi mãi còn tự hỏi… Anh là ai?

Ngày tháng trôi nhanh, mới ngày nào đây còn vô tư dể ăn, chóng ngủ, có các niên trưởng đi từng giường đắp mền cho từng người để giấc ngủ được yên bình sau một ngày thọ phạt vất vả. Bây giờ đã đến lúc lo chuẩn bị tâm tư ra trường, 16 tỉnh miền Tây và 3 sư đoàn 7, 9, 21 cũng đã làm bạc đi màu áo trận khi mang hào khí chân cứng đá mềm len lỏi vào từng đại đội thực hiện chương trình lành mạnh hóa quân đội.. Có những cánh chim  bàng đã không bay về tổ ấm trường mẹ, để lại niềm tiếc thương vô vàn cho bạn bè, người thân. Kỷ niệm còn in bóng khi sáng đến chiều đi được nhìn mãi tháp chuông nhà thờ con gà và làn mây lãng đãng phiêu bồng. Tháp còn mãi đó mà sao mây cứ ngàn bay để chúng mình có kẻ đi người ở như lẽ vô thường của tạo hóa.

Chúng tôi nhận được những lá thư đều đặn từ các niên trưởng, nhiều nhất là của anh Trần Xuân Choai và Phạm Tấn Bàng NT3. Các anh chia sẻ kinh nghiệm ngoài đơn vị và báo rõ về quân trường cách xử dụng cán bộ CTCT trên thực tế chiến trường. Chúng tôi làm quen dần với những thực tế bạc bẻo các anh vấp phải để tạo cho mình một thế chuẩn bị. Những sự thật đơn giản ngoài tưởng tượng ngược hẳn với công trình đào tạo quá kiên trì để hình thành một cán bộ CTCT nòng cốt.Sự kiện đã làm anh em suy nghĩ ưu tư khá nhiều…

Một hôm tại hội quán Sét Miền Tây, Hỏa Lựu, nơi bản doanh BTL/SD21/BB, khi trong bữa tiệc chiêu đãi các SVSQ vừa hoàn thành chiến dịch hiệu năng và phát triển đơn vị, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tư lệnh đã thân mật nói tôi sau khi tôi tường trình kết quả công tác:

-“Qua nói thật với chú em, ở ngoài khác xa những gì chú em học và hiểu ở quân trường, chưa thật sự ở đơn vị nên chú em hăng máu quá. Qua thấy chú em lý tưởng quá nên thông cảm những gì chú em nói.”

Quý vị sĩ quan Trung Đoàn Trưởng các Trung Đoàn 31, 32, 33 và Thiết Đoàn 9/KB như Đại Tá Biếc, Đại Tá Kiểm, Trung Tá Thành, họ vui vẻ thấy nét sinh động đầy lý tưởng và cùng đồng ý về sự trẻ trung hóa, lành mạnh hóa tinh thần phát triển hiệu năng đơn vị mà anh em SVSQ K4 đảm trách.

Được biết một số niên trưởng khóa NT 3 mới ra trường nhưng đã xin xuất ngành mà vẫn giữ tinh hoa người cán bộ CTCT nòng cốt.Họ làm Đại Đội Trưởng ngay. Lá thư anh Bằng NT3 nhắn về đàn em khóa 4 hãy chú ý về khóa đối chứng và những đặc lệnh truyền tin để về sau xuất ngành mình đỡ vất vả. Bản thân vài anem chúng tôi ghi chép lại học hỏi cách xử dụng, ôn lại địa hình, định hướng, xác định điểm đứng, tọa độ 6 số, đo phương giác nghịch và tập ngụy âm cho quen. Thế nhưng sự lo lắng kéo dài không lâu. Mệnh nước đã khóa lại những ước mơ xuất ngành của chúng tôi.

Cuối 1978, khi  trãi qua ba năm cải tạo và đi qua nhiều trại từ Trung ra Bắc, tôi lại được chuyển về Trại Bình Điền, nằm dưới chân đồi Bastogne, phía Tây thành phố Huế. Tại đây tôi được nhìn thấy lại những gương mặt thân yêu từ quân trường đó là Phan Duyệt, Ngô Chi, Trần Đại Đãi cùng khóa, có niên trưởng Lê Phước Ánh, Nguyễn Hữu Tư  khóa NT2, có anh Đòan Chức,đặng như Xuýn,Nguyễn văn Ngãi khóa NT3 và anh Nguyễn Như Quỳnh ,Dương Viết Điền khóa NT1. Từ đó như được âm thầm an ủi và lâu lâu  có dịp gặp được tuôn ra một tiếng chào: Niên Trưởng! Tiếng nói vừa mừng, vừa tủi, vừa nghẹn ngào. Tiếng nói đè nén từ một vùng yêu thương vô hình xa xăm… Một hôm lợi dụng đi tiếp phẩm cho trại, tôi đang chất sắn vào giỏ, chuẩn bị gánh về thì gặp anh Đoàn Chức K3.Hai anh em gặp nhau mừng quá, cảm xúc dâng tràn – Khóa 3 gần Khóa 4 mà – Anh Chức dạy vũ khí M16, gặp từ giảng đường cho đến bãi tập Võ Bị, từ sân CT1 đến CT3 đều có anh.Thân mật anh nhéo vào tai tôi cười bảo:

-“Khỉ mà cũng biết leo cây à!”

Qua đến Mỹ, anh lại ra đi, không còn trở về nữa. Nhớ về ngày cũ gặp gỡ tù túng mà muốn ứa nước mắt, tôi ngẫm nghĩ: “Người đi đi mãi không về nữa, để lại chốn này nỗi nhớ thương…”

Từ sau 1985, cơn cùng cực cơm áo do kiệt quệ kinh tế ở miền Trung đã dẫn dắt một số anh em các khóa lưu lạc tha phương kiếm sống ở miền Nam. Có những anh em chưa hề biết mặt nhau, chưa hề được kêu là Niên Trưởng nhưng những cánh tay đã mở rộng, chỉ biết là cùng trường và không cần biết là khóa nào, ở nơi nào, để đón nhau về như là quán trọ cho ăn uống, làm cho kẻ phiêu bồng thấy nhẹ bước chân, bớt cô đơn trên đường thiên lý. Các anh như anh Nguyễn Văn Trung NT4, Huỳnh Đình Chung NT2, Phan Gia Khương NT2, Lê Hùng Anh NT3 có dịp bảo bọc bao lữ khách nghèo từ miền Trung vào, không bà con thân thích giữa Sài Gòn xa lạ, như là Hoàng Việt NT5, Trần Đình Bảo NT5, Trần Đại Đãi NT4, Bùi Đức Cường, Nguyễn Xuân Sơn NT4 và biết bao… anh  em khác nữa.

Trong một bữa tiệc cưới tháng 11/2004 tại nhà hang Kobe, San Jose mừng lễ thành hôn con một NT2, tôi gặp anh Khương đang lui hui tìm kiếm một cái gì dưới sàn nhà.Tôi hỏi anh mất cái gì, có vẻ quí vậy? Anh bảo:

-Tao lạc mất cái kiếng, không thấy gì cả!

Tôi móc liền trong túi chiếc kính đọc sách mà tôi luôn thủ sẵn trong mình mỗi khi lái xe để đọc bản đồ tìm địa chỉ.Tôi biếu anh xài và hỏi vui:

-Anh còn nhớ đàn em ngoài Trung vào Sài Gòn ở nhà anh?

Anh Khương cười nói:

-Tao nhớ nhất thằng Hoàng Việt K5, cứ mỗi lần gặp cho nó nhậu, khi đã ngà ngà men say, nó cứ lễ phép thưa trình Niên Trưởng ơi! Cho em hát một bản giúp vui – Tao cười OK và chú đàn em này ra liền một hơi bản nhạc quen thuộc trong đầu:

-“… Cán bộ CTCT là ta, thề tiên phong đi chiến đấu cho quê hương, yêu nước quyết hy sinh, vì dân ta trung thành, một lòng hy sinh vì nước. Tổ quốc ta cơn khó nguy, cùng nhau ta nắm tay thề…”

Buổi tối đó, anh Khương đeo mắt kiếng tôi tặng, thử nhìn đọc rõ, anh cười vui vẻ rút túi móc ra tờ 100 đô la, thân mật anh nói:

-Nhờ mày trao lại cho nó, tội nghiệp hoàn cảnh nó nghèo, quê ở Phú Ốc, Hương Trà chỉ biết làm nông mà sống, lại hay mất mùa, mày nói là anh Khương gởi lời thăm.

Anh cười cảm thông độ lượng, nụ cười chất chứa nét thiêng liêng trìu mến tình đồng môn,người cùng mái trường. Trông ngoại hình anh già đi, vai đã tiều tụy, lưng đã còng, cày quá đi mà! Nhưng nụ cười và ánh mắt vẫn còn rực sáng yêu thương nên nhìn anh trẻ trung ra, nét trẻ trung thăm thẳm vô hình.

Giây lát đó, tôi chợt nhớ nhiều khuôn mặt thần tượng in ấn trong óc não, tận trái tim; Võ Văn màng, Trương Văn Vấn, Nguyễn Văn Mỹ, Nguyễn Mậu Bình, Trần Xuân Choai, Phạm Cấn… và dĩ nhiên với người đàn anh K2 với bộ đồ rằn ri mũ đỏ của mùa Xuân năm nào…

NT4 PHẠM HỮU HUÊ

(Đặc San Ức Trai Hè 2006)

Nguồn: https://mxhoabien.wordpress.com/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s