TÌNH HOÀI HƯƠNG – Thiên Thần Mũ Đỏ HOÀNG NGỌC BẢO

HOÀNG NGỌC BẢO

Hoa du no trong khong gian .jpg

Chiến binh Nhảy Dù Hoàng Ngọc Bảo sinh và sống tại thành phố Đà Lạt, từ nhỏ đến lớn Bảo đã học tại trường dòng A’ Dran (Tabert), sau đó Bảo đăng vô lính từ năm 1964, (khi vừa 18 tuổi). Mặc dù Bảo bị cha mẹ, và cô bồ xinh xinh phản đối kịch liệt, Bảo biết mạng sống con người rất qúy trọng và cần thiết, chiến trường thì nguy hiểm gian khổ dường bao. Nhưng Bảo vẫn hân hoan vui vẻ lao mình đến với đồng đội:

Tôi nhớ mãi nét hào hùng binh chủng
Nhớ những ngày đầu nhập trại Hoàng Hoa
Thấp thỏm chờ đợi lệnh phòng Ba
Mong cho chóng có tên đi học nhảy
Màn mở đầu là màn thi chạy
Rồi nhảy đài, hít đất kéo xà ngang.
Rồi… kéo dây, nhảy xổm thập bát ban.
Phần sức khỏe dĩ nhiên là qua thoát!!! (Mũ Đỏ 198)

Bảo dự khoá huấn luyện quân sự căn bản ba tháng ở Tiểu Đoàn Khoá-sinh Vương Mộng Hồng tại Trung-tâm Huấn-luyện Quang Trung. Trắc nghiệm thể dục cốt yếu rèn luyện thân thể khoẻ mạnh, cường tráng, đôi chân dẽo dai. Tập chạy bộ từ 800m đến 1500m, mang theo trang bị cá nhân xong. Sau đó, cán bộ khối bổ sung sẽ đưa tân binh khoá sinh đến Trung-tâm huấn-luyện Nhảy Dù Hoàng Hoa Thám, để:
– Huấn luyện kỷ thuật về cách lên phi cơ nhảy dù.
– Mang dù (mặc dù) khám dù, bảo trì dù, v.v…
– Trang bị cần thiết khi hành quân.
– Học cách nhảy từ trong lòng phi cơ ra ngoài phi cơ (làm quen với phi cơ, làm quen với độ cao):
– Học điều khiển cách lái dù theo ý mình.
– Học các thế đáp (té, lăn…) tránh nguy hiểm bản thân.
– Học cách thu lượm dù nhanh, gọn.
– Học cách tránh bị dù lôi, kéo, quấn (khi trời gió, bão, bị dù lôi kéo lết… thì không thể đứng dậy).
– Học nhảy cao 11m để làm quen với độ cao không bị choáng ngợp, không có cảm giác sợ hãi (gọi là chuồng cu); chuồng cu là một cái đài giống cái chuồng… Chuồng cao khoảng 11,5m, trên đó có bốn sợi dây cáp dài và to.
– Học nhảy từ 12m (dây tử thần); tập đáp từ trên cao xuống khi va chạm dưới đất. Chụm hai tay ôm dây dù sát vô ngực, đầu cúi xuống thấp, khi nhảy ra khỏi lòng phi cơ, thì không nguy hiểm vì đầu bị đập ngửa ra sau ót.
– Học nhảy ngày (5 lần, + 1 lần mang trang bị cá nhân) & 1 lần ban đêm:

Màn kế tiếp ba tuần liền dưới đất
Tập chuồng cu, kéo gió, chống dù lôi
Đài mười thước, rồi nhảy, nhảy chuồng cu!
Thì… cũng kệ… nghe GO… nhắm mắt phóng…– Học Nhảy Dù với ba loại phi cơ: C 47 – C 119 – C 123.
Tuần lễ cuối… mới là tuần gay cấn nhảy sô đầu C47.
… Dây SOA dài thót ruột… chết cha…
Ầm ầm… rồi im lặng dù mở to
Mới sựt nhớ mình ‘quên’ đâu có đếm
Sô thứ hai nhảy C119
… Từ sô thứ bốn ta GO ngon ra phết
Mần sáu sô… khóa dù nào đã hết
Nghỉ một ngày… dưỡng sức nhảy sô đêm
C123 gầm thét phóng vụt lên.
(Mũ Đỏ 198)
Khoa sinh nhay du

Sau đó khoá sinh được trở về khối bổ sung, cán bộ khối bổ sung sẽ điều động tân khoá sinh đi các đơn vị cần. Bảo hân hoan vui vẻ hạnh phúc cùng bạn đồng khoá được vinh dự mang danh xưng “Thiên Thần Mũ Đỏ” với khẩu hiệu “Nhảy Dù sát cộng”. Bảo được chuyển đến Lữ-đoàn III Nhảy Dù, quân phục rằn ri mang phù hiệu sư đoàn Nhảy Dù bên tay áo trái, đội mũ beret màu đỏ có gắn phù hiệu Dù.Bảo đổi đi nhiều nơi khác trong toàn miền Nam Việt Nam. Bảo từng bị thương bốn lần: Lần đầu tiên vào năm Mậu Thân, khi Bảo nhảy từ trên trời xuống mục tiêu tại miền Trung, thì Bảo bị bắn lủng ruột, bị mỗ. Bảo được cứu thương nằm trong bệnh viện Cộng Hoà ba tháng. Hai năm sau, lần thứ nhì Bảo bị bắn xuyên qua phổi, may mà không vào chỗ hiểm. Bảo được cấp cứu vào bệnh viện nằm trị liệu mấy tháng. Rồi Bảo lại trở ra đơn vị Nhảy Dù, tiếp tục sống cuộc đời giang hồ phong sương qua bốn bể… mà “nhảy”. Do Bảo vẫn yêu mến binh chủng: “nơi nào cần, Nhảy Dù có. Nơi nào khó, có Nhảy Dù”: Ngang dọc đó đây, vì Bảo yêu đồng đội và tha nhân, dù bao nguy hiểm thiệt thòi có về mình, cũng thì-thầm cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin cứ dùng con theo ý Chúa,
làm chân tay cho những người què cụt,
làm đôi mắt cho ai phải đui mù,
làm lỗ tai cho những người bị điếc,làm miệng lưỡi cho người không nói được,
làm tiếng kêu cho người chịu bất công.
Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đồng lúa,
để đem cơm cho người đói đang chờ,và đem nước cho người họng đang khô,
đem thuốc thang cho người đang đau ốm
đem áo quần cho người đang trần trụi,
đem mền đắp cho người rét đang run.(1*)Có nhiều đêm Bảo cùng bạn nằm lì tại Cầu Lòn, họ lần mò đi trong đêm khuya, qua nghĩa điạ Trí Bưu u ám hoang tàn hắt hiu (Quảng Trị). Bảo lom khom cúi đầu đi dưới đường Duy Tân, rồi lính Nhảy Dù phối hợp cùng anh em lính Thuỷ-quân Lục-chiến oai dũng hào hùng đánh chiếm đại thắng cổ thành Đinh Công Tráng ở Quảng Trị ngày 6-6-1972. Trong trận nầy, đây là lần thứ ba Bảo bị đạn ghim vào tay. Bảo đã nhìn sửng ngọn cờ vàng ba sọc đỏ phất phới lồng lộng trong gió tung bay trên nền trời xanh bao la. Vì đất nước quê hương và dân tộc con rồng cháu tiên. Bảo cũng như đồng bạn tận tụy hết lòng hy sinh vì tổ quốc, quyết bám lấy quê hương chiến đấu đến giờ phút cuối cùng.Cac chien si nhay du giai toa can cu hoa luc 6 tai KontumRồi… Lần Bảo tham chiến cuối cùng tại khu vực dưới sườn tây Bắc Yankee, và khoảng Delta hướng đông của Charlie, Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù (được thành lập ngày 1-11-1968) kẹp giữa vùng chiến tuyến nầy. Tỉnh Kon Tum có ngọn đồi mang tên Charlie; Charlie tiếp giáp giữa huyện: Sa Thầy, Ngọc Hồi, Đắc Tô). Nơi đây Bảo bị thương khá nặng vì đạn pháo bọn địch lại ghim tứ tung vô thân thể mình, Bảo mất một mắt trái, một bàn chân bên phải của Bảo cụt lên tới dưới đầu gối, cộng với những vết thương mới và cũ bị nhiễm trùng, toàn thân Bảo đầy vết thẹo, đau nhức bệnh tật liên miên… Bảo phải vào nằm ở bệnh viện Cộng Hoà và được các bạn đồng đội chia máu hoài, nhưng sức khỏe vẫn chưa thể khá.Bạn đồng ngành và Bảo bị chiến tranh vùi dập tan hoang, và đời tàn ác bỏ quên, hất hủi Bảo trong cơn hấp hối tột cùng đau. Biệt nghiệp nầy há chẳng qua Bảo vay của Đời quá nhiều, mà Đời trả chẳng là bao!!? Thế rồi, Bảo bị ném ra đường giữa ngày 1 tháng 5 năm 1975. Bảo lấm lét len lén chôm được sự sống… mà lấp ló lây lất lê lết bên nghĩa trang Phú Thọ Hòa. Người sống và kẻ chết -không phân biệt đối xử- đều bị san bằng, khai quật như nhau. Người sống nằm ngủ dưới hố mồ kẻ chết, thây ma bất động bị kẻ đói móc lên, người ốm đói tìm kiếm lấy quần áo (và mừng húm nếu có vòng vàng!!!).Có khác chăng ở chỗ là: Thương binh ấy còn có một mắt và trái tim rực lửa, luôn bị chao đảo ray rứt, dày vò, khi Bảo tận mắt nhìn ông già, phụ nữ, trẻ con, bị tập trung đi bóp phân người, chân đạp cứt, vai gánh phân tưới rau xanh trên nông trường, mong lợi tức tăng gia, nhờ phân bón đặc biệt thu hoạch mùa màng mà có cái ăn tươi tốt, để chúng mừng thắng lợi chào đón dâng Bác và Đảng. Ngậm ngùi nhìn lại thân phận người lính khi tàn chiến chinh, Bảo và bạn cùng trang lứa đau đớn chẳng khác chi nhau:

Tôi, người lính Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù
Năm 75, 29 tháng Tư
khi đoàn tàu chở đơn vị tôi
chuẩn bị rời Vũng Tàu hướng ra Đông HảiThương cha mẹ già, đàn em dại
tôi bước lên bờ ở lại quê hương
nhưng cha mẹ già chưa được gặp
cũng chưa thấy mặt đàn emcác anh, những người chiến thắng
súng dí sau lưng
đẩy tôi vào trại tập trung
rồi bằng những lời dối trátrái tim vô tình tia nhìn thù hận
các anh cướp mất của tôi
những tháng năm đẹp nhất cuộc đời(2*)

* * *

Bảo rất vui mừng khi biết tin mẹ con tôi trôi giạt về Hốc Môn, nghĩa là từ hốc mộ Phú Thọ Hoà nơi Bảo “tạm trú tạm vắng” đến nhà tôi cũng gần, đi xe đò chỉ mất khoảng hai mươi phút. Thỉnh thoảng Bảo có thể từ trên khu nghĩa trang xuống Thành Ông Năm thăm chúng tôi. Các con tôi rất qúy anh họ của chúng, bé Tuấn mừng rỡ ôm chầm lấy anh, vui vẻ nói:
– Anh có khỏe không?
– Nhìn anh, thì em biết rồi.
– Chân cẵng, ruột, và bao tử của anh, ra sao rùi?
– Một chân cụt nè. Một mắt đã đi chào bá tánh dưới lòng đất nè. Lũng ruột nè. Bao tử đau liên miên. Em còn muốn hỏi gì nữa?
– Thật khổ thân anh. Đó là cái đại nạn của anh và dân tộc mình á.
– Đời mà em.
Bé Dzũng ái ngại nhìn anh:
– Anh bỏ hút thuốc đi, là vừa!
– Sao vậy?
– Anh đã như vậy, có hại sức khỏe lắm.
– Em nói chuyện đến hay. Chỉ vài hơi thuốc lào, mà bệnh sao?
– Anh sẽ ho lao, giảm tuổi thọ nữa.
– Sống chết có số. Anh chẳng còn tin gì.
Bé Huy vít cổ anh, cười hì hì:
– Đau ốm đủ thứ như anh, phải uống sâm cao ly, mới kéo dài tuổi thọ à.
– Chuyện! Vậy chớ đứa con nít mới sanh, chẳng may nó ngoẽo, chắc tại nó ưa hút thuốc lào, và không uống sâm i,́ ha em?
– Anh nầy thiệt á.
Bé Hoàng bu vào lưng Bảo, bắt anh cõng:
– Nhà giàu họ uống sâm đầy ra đó. Anh Bảo.
– Vậy họ có thoát chết không nà?
– Anh thèm thuốc lào, nên nói tào lao vậy mà.
– À há! Bây chừ anh còn chi để thèm hơn là thèm hít. Hả? Anh mừng khi các em đã có ít hành trang: vào đời đắng cay, chua xót. Em cứ mạnh dạn tỏ bày. Có thể anh sẽ nghe lời khuyên hữu ích.
Bé Tuấn lại sà vô lòng anh, tay xoa xoa chân cụt:
– Anh phải nghe, không thì anh chết sớm là cái chắc!
– Anh đã trả nợ thân anh cho non sông rồi, thì còn gì nữa đâu em. Anh chả còn gì để luyến tiếc với đời mà sợ chết với chóc!

Nghe …mà nghẹn đắng, xót xa, chua chát cõi lòng tôi. Thỉnh thoảng Bảo cũng như tôi, hai dì cháu có lên Sài Gòn gia nhập vào đám “Thương-Binh Du ca da cu bè” của các anh lính VNCH què cụt tổ chức lậu (của nhiều binh chủng VNCH & đơn vị cũ hợp thành). Họ đã bầu tôi:
– Trong đám mù-chột nầy, thì chỉ có chị là có vẻ “dễ nhìn” hơn hết; mong chị làm vua cho đám “lu xu bu” kia nha. Chị Mười!

Các anh ơi! Các anh nào biết, tôi đã mang bệnh trầm-kha bất khả tri-luận, còn đau đớn gấp trăm lần phế binh nữa, các anh à. Chúng tôi ca toàn những bản “nhạc vàng”, hay lúc đó “phe kia” gọi nhạc của miền Nam Việt Nam là nhạc “đồi trụy”, nhạc tù ca (khi không thấy bóng dáng bọn “công an áo vàng”). Tức cười, nhạc mà cũng có màu sắc: vàng, đỏ, xanh, nữa há? Thật ra mấy anh ca bè rất hay. Ca hay thì tiền càng nhiều, “bổng lộc” do dân nghèo thương mà giúp. Ông bà cô bác đi chợ khát khao nghe nhạc thời trước, nhạc cũ… họ thường ghé lại coi chúng tôi trình diễn, vui đùa có ngụ ý ám chỉ gọi chúng tôi là: “Thương phế Binh Ngũ Linh”, hoặc nhóm “Bè da cu du ca”.

Cái tên ấy do dân mến thương đặt ra, vậy mà nghe thật là chí lý! Bây giờ những thương binh ấy chỉ còn da bọc xương, trên răng dưới dái, thân thể là nơi tập họp những thứ tật nguyền: mù chột, cụt tay, cụt chân, lũng ruột, bụng còn băng đầy máu. Họ bị quăng ra khỏi y-viện, chỉ có trên răng rụng dưới teo tóp… thì, chả còn da với cu là gì! chả còn gì. Thật chẳng còn gì!

Lính chiến trận trở về (sau ngày mất nước) không tìm thấy gia đình, không thân nhân, mất tin tức không liên lạc, người ta tan tác trên mọi ngã đường. Lính lê lết chống gậy đi tìm nhau từ các vùng khỉ ho cò gáy, nơi thâm u cùng cốc: chỉ có muỗi, ruồi trâu, vắt, đĩa… hút máu người, và luôn truyền cho bệnh cấp tính sốt rét da vàng cao độ, ho lao, thổ tả, kiết lỵ triền miên. Cho đến lúc tàn hơi mà toi mạng cùi! Họ phải lê lết hành khất từ vùng kinh tế mới nơi chó ăn đá, gà ăn muối, bò lê bò la… rị mọ lặc lìa lặc lọi mò mẫm về tới thành phố.

Nào ngờ, họ lại lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin ở ngoài đầu đường, ngủ ở xó chợ! Những thương binh ấy đã bỏ lại một bàn chân, một cánh tay, mất con mắt trên vùng giao chiến hung tàn. Họ trở về dưới mái nhà xưa thì biếng nói, không cười, họ sống lặng lẽ âm thầm nức nở, đớn đau mà nghiến chặt cục sạn giữa hai hàm răng, suốt ngày họ lầm lì, đăm chiêu, suy tư trong dòng sông chảy xiết riêng mình từng cơn đau mệt lã, dày vò ân hận và phiền muộn khôn xiết.

Nhưng, có anh lính nào may mắn còn gia đình, thì các bà mẹ, bà chị, vợ con của họ vui mừng, hớn hở lăng xăng quanh thằng con trai tật nguyền cùng khắp. Bà mẹ mủi lòng mừng con trở về mà vui hơn bắt được ngọc ngà. Lính què cụt đui mù phải đùm túm nương tựa vai vợ con, với cha mẹ già, thương mến an ủi nhau và lây lất sống. Ngày trước họ đi lính, do chiến tranh tàn nhẫn gậm nhấm hết cơ thể. Nay thì người lính chột đi đạp xích lô. Người cụt bán bánh mì, bán vé số, người mù đi xin ăn. Họ vừa rao, vừa đánh đàn, thổi sáo, gỏ trống hát dạo ngâm nga bài thơ:

Tao cụt một chân, mất một tay
Nhưng còn một tay
Để viết thơ dùm cho thằng mù hai mắt
Nghe nói ở xứ người chúng mày “cày” như trâu
Nhưng không quên đồng đội
Chia đô-la cho chúng tao, như chia máu ngày nào…
Tao cũng sớt cho mấy thằng bạn: phế binh Việt Cộng!
Chúng cũng què đui sứt mẻ như nhau
Bởi Đảng của chúng bây giờ là lũ đầu trâu… (3*)Có những lần nhóm tôi đang hát nhạc tiền chiến, nhạc tù ca, thì thấy ba công an đi trờ tới, (công an có lệnh diệt tận gốc: “Trí, phú, địa, hào” mà)! Thương binh Mẫn còn một bàn tay thật và một tay giả trong chiếc găng tay da, anh rất nhạy bén nhanh miệng, liền chuyển tông qua bài hát tếu hài ngay. Mẫn vừa khua tay múa kiếm làm trò thật vui tai, vui mắt, ai nghe cũng nực cười:
– Bác Hồoo… cho em cây viết. Em vẽ con dao găm, em đâm thằng lính Mỹ. Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra, con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó, con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi Thanh Niên Xung Phen. Em theo chủ nghĩa siêu Việt phồn vinh cuả Móc-Cu Ra Đớp ở Liên Xô. Hỡi.. oi õi… đồng bầu! Hãy đi Thanh niên xung pheng. Tùng Tùng Tùng!!! Bảo vệ tổ quốc! Bèng béng bèng!!! Từng tứng tưng… tằng tắng tăng…
– Ủa! Cổ động viên nè! Hoổ…ong có ai dỗ tay hé?
Thương binh Bảo nhanh nhẫu chế-biến câu ca tiếng Việt liền tiếng Pháp, (vì hồi nhỏ đến lớn khôn, Bảo đã học ở trường dòng A’ Dran, nên Bảo nói tiếng Tây, lẫn sinh ngữ Anh lưu loát), nghe như gió thật.I’ve just closed my eyes again
Climbed aboard the dream weaver train
Driver take away my worries of today
And leave tomorrow behind
Ooh dream weaver
I believe you can get me through the night
Ooh dream weaver
I believe we can reach the morning light
Fly me high through the starry skies
Maybe to an astral plane
Cross the highways of fantasy
Help me to forget today’s pain …Bảo còn kêu tên các ca sĩ nổi danh ở thập niên 70 ra “ca” có âm điệu và khảy đờn trống rùm beng… từng tứng tưng…, bùm búm bum… bèn béng beng…: – À Á a… Le moi sensibe = cái tôi tình cảm. Ám sát tinh thần = assasitnat moral. Đời! C’est la vie! Tình tinh tang! C’est la mour. Thầy chùa sans cheveux. Bà xơ sans cooc xê, end sans xi-níp!! Ha ha ha!!! – Johnny Halliday… O oh ho… Sylvie Vartant… É é é… Francoise Hardy. Vicky Leandros nổi tiếng L’amour c’est pour rien… từng tứng tưng… Oh! Mon Amour. Ối ối a… Poupée de cire poupée de son. Bùm búm bum… Adieu jolie Candy…. Là lá la… Aline. Christophe. tằng tắng tăng… La vie c’est une histoire d’amour… chát chát chát… tùng tùng tung… phèng phéng phèng…Thiệt là tầm bậy tầm bạ, dấm dớ, ú ớ ngố ngáo, ngu ngơ dật dờ, vớ vẩn… hết sức ba xàm ba láp! Thế mà khán giả bình dân thích thú, khoái trá cười rõ to; nghe “rất đễu” để trả lời cho ba tên công an đang đứng ngẩn người lỏ mắt há mồm ra vì mê mẩn…, nụ cười bằng mười thang thuốc bổ thời nay, để chưởi vô mặt bọn cán ngố (tiếng Việt một chữ bẻ đôi còn chưa rành, huống gì nghe họ hát tiếng Anh tiếng Tây) ngu như con bò tót mà. Dân vổ tay rần rần… rầm rầm rầm… bụp bụp bụp! Có đám thanh niên choai choai dé dé cho hai ngón tay vô miệng huýt lên thật kêu. Họ hể hả bỏ tiền lẻ vô chiếc mũ vải. Cứ thế, chúng tôi cúi đầu lạy tạ, san sẻ, bù qua sớt lại cho nhau mà sống trong đậm đà tình nghĩa, thành thật mến thương hèn mọn. Tôi có bổn phận vừa “ca-bè” vừa cầm mũ vải đi xin tiền quý vị khách thập phương hảo tâm. Có người nhận ra mình:
– Oai Oái! Không ngờ bà ấy ngày xưa lừng danh là một hoa hậu, giàu sang và tri thức. Nay bà ta lê lết làm kẻ ăn mày, coi kìa!Thực ra, bây giờ trong chế độ nầy, tôi đang chìa nón đưa tay ra lạy ông đi qua, lạy bà đi lại, ngỏ hầu xin tiền bố thí, thì có hơn gì ả ăn mày nào! So sánh phận hèn tôi ở xã hội nầy, có cái gì khiến tôi mủi lòng, se se từng cơn quặn thắt nghẽn đắng trong lồng ngực cuồng quay. Có cái gì đau đau, cay cay, xót xót, đắng nghét trên bờ mi tôi vụng dại? Sao ông Trời nỡ đi chơi đâu vắng, ông không cúi xuống nhìn đời chút xíu, sao tôi không lột xác, không biếng dạng méo mó ít nhiều cho mình đỡ xấu hổ ha?Tôi và nhóm thương binh chế độ cũ bị Đời quên lãng vẫn âm thầm lặng lẽ, nhẫn nhịn âm thầm chịu nhục mà bò lê trên đường cần cù kiếm sống. Cho đến ngày 6 tháng 2 năm 1985, tôi đang làm cỏ ngoài ruộng, thì Bảo leo xe đò xuống Thành Ông Năm cho biết tin: tại chợ Bà Chiểu đã diễn ra trận đấu đá kinh hoàng giữa “công an và phế binh đỏ”, (phế binh đỏ, chứ không phải thương phế binh Việt Nam Cộng Hoà “du ca da cu bè”). Công an đã bắt đám đờn ca “phế binh đỏ”. (Vì “đỏ” là cờ máu Việt-cộng) mà họ chuyên hát toàn nhạc “vàng”. Do thời buổi nầy hát nhạc vàng mới ăn khách. Đỏ mà “say sưa” ca hát “nhạc vàng” tức là trắng trợn thành “Ngụy” rùi! Thành thật mà nói thì “nhóm đỏ” kia họ cũng có xí tài khảy đờn, ca hát giọng Bắc khi trầm ấm lúc véo von, tha thiết ngọt ngào; nghe cũng hay ra phết. Đồng bào đứng ngồi tám lớp vòng trong vòng ngoài, say mê thèm khát nghe “nhạc vàng”.Công an thì giống như vòng siết của Kremlin, luôn vươn tỏa vòi bạch tuột ra, quấn lấy “nhóm phế binh đỏ” và rượt người dân ngu khu đen tay giơ cao cờ trắng chạy té khói. Họ có đủ quyền hành để thao túng, dân ai chậm chạp có chạy đi đâu vẫn không thoát. Ấy là tôi đang nói từ những thập niên 75- 85 í nha. Công an là ông trời con ưa tùy tiện bắt giam, khảo xét, lục soát bất kỳ nơi đâu họ muốn. Dính dáng tới họ, chỉ có nước đi tới đường cùng, chết treo trong cùm, hoặc mất tích mất tang thân thể.

Trong Điều 7 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa: “Tội thủ tiêu mất tích Người” (Enforced Disappearance of Persons) như sau: Thủ tiêu mất tích người có nghĩa là: bắt giữ, giam giữ hay bắt cóc người ta với sự cho phép, sự hỗ trợ hoặc sự chấp thuận của một quốc gia, hoặc một tổ chức chính trị. Sau đó không nhìn nhận sự tước đoạt tự do của người ta, cũng không thông báo tin tức về số phận hoặc nơi giam giữ, với chủ tâm tước đi quyền được luật pháp bảo vệ của những người này trong một thời gian lâu dài. (Enforced disappearance of persons means the arrest, detention or abduction of persons by, or with the authorization, support or acquiescence of a State or a political organization, followed by a refusal to acknowledge that deprivation of freedom or to give information on the fate or whereabouts of those persons, with the intention of removing them from the protection of the law for a prolonged period of time.).

Thế là từ đó nhóm “Bè du ca da cu” của chúng tôi mất đất sống, tan hàng rã đám, biệt tích giang hồ! Khổ …khổ hết biết! Khi ấy nạn cướp bóc giựt dọc luôn xảy ra tại các khu thị tứ, các trạm xe bus. Người ta bị cướp trắng trợn, giật sạch, mất trắng tay chẳng còn gì. Ai có la làng, khóc lóc, có nhảy tưng tưng, thì cũng huề cả làng. Đôi khi công an đi qua đó cũng ghé lại, làm biên bản nguệch ngoạc. Người bị cướp đứng xớ rớ, công an điệu về bót cung khai lý lịch lấy lệ, rồi xù xì bỏ đi. Bù trớt (chính tôi đã từng bị mất sạch nhiều lần).

Đồng thời lúc nầy nạn thanh niên nam nữ ốm đói nghiện xì ke, chích ma túy công khai trên các con hẽm ở Bàn Cờ, bên khu Gò Vấp, Khánh Hội… ôi thôi không thể đếm hết. Có vài lần tình cờ đi qua khu nhà Phùng, tôi đã trông thấy nơi góc hẽm vào một sáng sớm: có bốn thanh niên đang dùng chung một ống chích. Tên con trai cầm cây kim tiêm thuốc xong, đưa cho một tên bạn đã ngồi bệt xuống đất, hắn lấy sợi dây lưng quần cột chặt cánh tay trái, và chụp nơi tay thằng đang cầm cây kim, tự nó lụi vào tay mình, máu từ mũi cây kim tuông ra thành một dòng dài trên cánh tay hắn, không có bông gòn và thuốc sát trùng sát triết chi. Một tên khác hình như thiếu thuốc, hay đến cơn ghiền dữ dội, đã nằm vật ra bên lề đường, hắn sùi bọt mép, tay chân co giật từng cơn vật vã. Tôi hoảng hồn mất vía, lo sợ tột cùng, vội vàng lủi đi thật nhanh.

Từ khi chộn rộn sau năm 1975 bỗng đâu lại sinh ra nhiều bọn xíu xíu, dé dé, choai choai, nho nhỏ… đi đứng le te, ỏng ẹo, giọng nói ồ ồ, râu ria lởm chởm, nhưng chúng lại mặc đồ đàn bà, mặc xú chiên giả nhồi độn ở ngực hai quả bóng nhựa ti tí. Chúng thoa son dồi phấn, kẽ lông mày, trông bọn nhỏ cũng xinh xắn ra phết. Bọn “bóng lại cái” nầy đa số là con nhà khá giả, thỉnh thoảng chúng tập trung ở Bình Triệu, chẳng hiểu sao chưng diện rất đẹp, ưa giả dạng “nữ nhi đào tặc”, để trốn không đi Thanh Niên Xung Phong, hoặc bị bắt đi Nghĩa Vụ Quân Sự.

Thế là nạn đồng tính luyến ái rần rần xảy ra, lan từ thành phố Sài Gòn về tận các miền quê. Con trai tôi ở trong ban văn nghệ cuả Huyện, mới đầu con trai tưởng bọn họ là con gái mặt hoa da phấn phè phỡn thật (khi có đoàn hát trên Sài Gòn về trong Huyện, Xã, thường có mấy “en Gay”) con cũng như ai thấy gái đẹp ngu sao không mê! xề lại, hai bên rù rì hủ hỉ ríu ra ríu rít chuyện trò vanh vách, thân mật da diết! Nhưng khi con trai bị mấy tển “bê-đê” cao lêu khêu đúng là “đĩ đực rựa”, tối đến khi tan văn nghệ, chúng cùng con ngủ chung phòng, (con lúc đó học vừa đi bán bánh bò, đi làm thuê dỡ nhà, dỡ tôn với chủ, đi xây nhà do chủ thầu mướn, con cũng có biệt tài đi đờn giỏi và hát rất hay cho ban văn nghệ Huyện, để kiếm sống). Thì nửa khuya đang say ngủ, con bị một tên đẹp nhất trong bọn cạy miệng nút lưỡi, mò cu tới tấp. Con trai hoãng sợ, la hét, tung mùng ôm quần áo chạy chạy chạy… có cờ. Nhưng, cũng thật thà mà nói có nhiều “ẻm” trông yểu điệu thục nữ, mảnh mai, duyên dáng, xinh đẹp và ca hát, múa đèn, vũ múa điệu Thái, điệu Lào rất dẽo. Giọng ca các “en” nức nở, trữ tình, nghe khá tuyệt!

* * *

Ở trên cõi đời ô trọc nầy, Bảo luôn bị những căn bệnh cũ hành hạ thân xác càng đau đớn và điêu đứng. Nay hoà bình về, dòng sông tình được thuyền đời trôi đi. Nhưng rồi cũng có khi thuyền bất ngờ bị sóng vùi dập, và lật úp thuyền! Bảo thật sự chới với điêu đứng khi bạn bè chiến đấu tri kỷ thân thuộc chỉ còn lác đác mấy người trên đầu ngón tay. Bảo không biết thổ lộ tâm sự cùng ai mong thông cảm, nên Bảo rất đau buồn! Có thêm cơn bệnh trầm kha ẩn dưới đôi lông mày khiến Bảo luôn nhíu lại… mà không có thuốc chữa.

Chuyện hồi xưa và ngày nay, Bảo mang trong trái tim cuồng nhiệt xót xa và thổn thức. Bảo biết đói khổ, đau đớn từng giờ, từng ngày. Nỗi đắng cay oan nghiệt, rền rĩ siết chặt giữa hai hàm răng khát khao nghiến lại. Sự đớn đau luôn cào xé dày vò tâm trí và thân thể Hoàng Ngọc Bảo, người lính trung thành với chính phủ Việt-Nam Cộng Hoà, đã không e dè đem thân xác mình làm bục kê, làm bàn đạp để người khác dẫm lên. Chiến sĩ ấy âm thầm lấy lưng đỡ đạn, cùng đồng đội quyết chí ở lại trên chiến tuyến đến giờ phút quê hương lâm chung, mà van lơn người đã ra đi, thống thiết van xin người bỏ nước ra đi tìm tự do:

Hãy gửi về cho chúng tao vũ khí
Thằng cụt tay sẽ chỉ cho thằng mù mắt bấm cò
Thằng còn chân sẽ cõng thằng què quặt
Trận chiến sau cùng này sẽ không có Dương Văn Minh (3*)Dù tật nguyền cùng khắp thân thể, nhưng mặt mày Bảo vẫn đẹp trai, ăn nói tao nhã duyên dáng, nhất là Bảo có tài kể chuyện đời lính “oai hùng, hùng hồn và mất hồn” đó đây rất hấp dẫn. Bảo kể chuyện tiếu lâm khá có duyên, khiến người nghe say sưa, thỉnh thoảng Bảo ha hả cười rất thoải mái, mà quên tiệt bụng co thắt từng cơn đau bao tử và đang cồn cào đói kha1 vẫn như thế. Ở gần bên tôi không còn người cháu thân thiết hiền lành vui vẻ và cùng nhau chia xẻ ngọt bùi! Tôi đã xa Bảo, Bảo về Phan Rang rồi, tôi lại càng nhớ đến cháu Bảo thân yêu vô cùng! Sau năm 1998 cuộc sống gia đình Bảo rất đạm bạc, bần hàn, nếu không nói là quá nghèo khổ nơi xứ chó ăn đá gà ăn muối. Bảo dựng tạm một căn chòi bé nhỏ lụp xụp ngay sát khu nghĩa địa tại Phan Rang, một góc nhà bên hướng phải đã kê lên trên mấy ngôi cổ mộ. Chung quanh nhà Bảo toàn là mồ, đúng là một bãi tha ma u ám đầy bóng tối và kinh dị. Ấy thế mà Bảo và vợ con họ không hề sợ ma. Có phải chăng từ khi đổi đời thì họ “sống” giữa “người chết”, coi bộ “âm ty địa tào” còn hiền lành hơn trăm lần sống trên trần thế?! Hay là bởi tự cái số kiếp oái uăm, bắt Bảo phải sống “tử thủ” với mồ mã ông bà cha cố người đã chết; kể từ khi Bảo lột khỏi thân thể bộ áo lính Dù, để đổi đời!!?Bảo lui về quê vợ ở Phan Rang, sống ẩn dật (mãi về sau nầy khi gia đình tôi đi Mỹ, tôi có chuyển cho Bảo vài ngàn, nên Bảo đã mua một chiếc xe cúp, Bảo làm nghề “xe ôm” bằng một chân giả, một chân thật, cộng với một mắt thật trông chừng con mắt giả, để nhìn rõ đời không bị giả tạo thêm)!!! Năm 2005 Bảo lâm trọng bệnh, Bảo có em trai là Thịnh và vợ là Hạnh ở Mỹ liên tục chuyển tiền hậu hỉ về nhà, để một thằng em trai nữa tên Toàn đem Bảo đi ra đi vô Sài Gòn – Phan Rang không biết bao nhiêu lần.Căn bệnh trầm kha từ ngày chinh chiến ấy đã gậm nhấm, đào xới, bào mòn, tướt đoạt đi của Bảo nhiều miếng thịt: trong phổi, trong tim, trong chân tay… bây giờ hoạn nạn bệnh tật đã đối mặt lây lan khắp thân thể Bảo, nó hoành hành ăn tươi nuốt sống Bảo mất rồi. Bảo bị mù cả hai mắt, không còn nhìn thấy Đời. Toàn thân và tay chân Bảo sưng phù, nhớt nhau nước nhờn chảy ra trên lưng Toàn (em trai là sĩ quan VNCH bị tù “cải tạo” bốn năm), Toàn thương anh tật nguyền, em không nở ra đi, mà em tình nguyện ở lại Việt Nam ngày ngày em vẫn cùi cụi cõng Bảo đi ra đi vô bệnh viện). Bảo “nằm lì” trên tấm lưng thằng em ruột, rầu rĩ đọc bài thơ:
Tao bị thương hai chân
Ngày “giải phóng miền Nam”
Vợ tao “ẳm” tao như một đứa trẻ sơ sanh…!
Ngậm ngùi rời “Quân-Y-Viện”
Trong lòng tao chết điếng,
. . . Vợ tao: như “thiên thần” từ trên trời rơi xuống…
Nhìn hai đứa con ngồi trong căn chòi gió cuốn, bụi đất đỏ mù bay!
Tao thương vợ tao yếu đuối chỉ có hai tay
Làm sao “ôm” nỗi bốn con người trong cơn gió lốc.
Cái hay là: Vợ tao dấu đi đâu tiếng khóc.
Còn an ủi cho tao, một thằng lính què!
Tao đóng hai cái ghế thấp, nhỏ bằng tre,
Làm “đôi chân” ngày ngày đi lại
Đời lính gian nan sá gì chuyện gió sương… (Trang Y Hạ)Bảo lặng lẽ âm thầm nghiến cục sạn giữa hai hàm răng mà không hề oán trách số phận quá tàn ác! Một ngày kia Bảo đã không thể chịu đựng cơn đau đớn hành hạ thể xác lẫn tinh thần hơn, Bảo từ trần vào ngày 19 tháng 8 năm 2005. Trước khi lìa đời, trong cơn đớn đau kinh hoàng chới với mê sãng, Bảo vẫn luôn miệng nhắc tới tên những vị chỉ huy, nhắc tới vị tướng Trần Quốc Lịch mà Bảo tôn kính, miệng Bảo kêu tên những đồng bạn, họ vì tổ quốc và quê hương đã ra đi khỏi tầm mắt của Bảo.Nhưng họ không ra khỏi lòng Bảo một giây phút nào; dù đôi mắt Bảo mù lòa vĩnh viễn khép lại từ lâu, và lòng Bảo đã đóng chặt cửa. Nhất là Bảo chẳng khi nào có ý ngoảnh mặt phản bội quê hương, để đi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam có hình chữ S dấu yêu. Quê hương đã ôm trọn Hoàng Ngọc Bảo vào lòng. Đất mẹ không từ bỏ hất hủi Bảo bao giờ (khi mộng ước của Hoàng Ngọc Bảo đã không thành!) như Nguyễn Trường Tộ đã nói:
“Nhất thất túc thành thiên cổ hận.
Tái hồi đầu thị bách niên thân” .
(Một bước lỡ để nghìn năm mang hận.
Ngoảnh đầu trông lại đã trăm năm)(*)
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh(**) (*)Bảo dư biết ý đó nghĩa là:
(*) Từ xưa đến nay hỏi rằng ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh. Đây là hai câu thơ tiếng Hán của một tướng lãnh Trung Hoa, tên Văn Thiên Tường.
(**) Hai câu thơ sau của Nguyễn Công Trứ. Hoàng Ngọc Bảo cũng biết ý tác giả là: “người ta chưa chắc ai hơn ai, mà chỉ biết ai anh hùng sau khi thời thế đã xảy ra”.Giống như bài thơ “Chiến Mã Ca” của anh tù học tập “cải tạo” Lê Xuân Nho trầm uất ai oán được anh tù “cải tạo” Trần Lê Việt phổ thành nhạc rất tuyệt vời, (vì có mấy lần Bảo đã về Hốc Môn ở lại nhà tôi sáu tháng). Bảo nghe nhóm “Tù ca Xuân Lộc Z 30 A” bạn chúng tôi, khi ra tù mỗi tháng họ đều hẹn hò họp bạn tại nhà tôi, để đàn ca. Bản nhạc nầy Bảo rất thích và đã thuộc lòng. Trước lúc vĩnh viễn từ bỏ cuộc đời đành buông thỏng hai tay, bất chấp những dày vò trong tâm tư, cùng những cơn đau thể xác triền miên hành hạ, Bảo chấp nhận số phận mình đã “thua cuộc chơi” (chứ chẳng phải mình là người lính “thua cuộc chiến”). Bảo đã não nuột cầm cây đàn mà ca rất hay:

Vàng phai trên thanh gươm.
Người mái tóc điểm sương.
Ngựa tung vó trong mưa buồn trên quê hương sầu thương.
Đường mây vỡ tan thành mộng cô đơn còn mơ sa trường.
Bóng xô nghiêng hoàng hôn.
Mài gươm trong cô đơn người nuốt những hờn căm.
Ngựa nuôi móng non thay bờm trên quê hương cuồng phong.
Đường xa dẫu xa muôn trùng trong đêm nay
Ngựa phi sa trường bóng dõi bóng quê hương.
Chiến mã tiến đến sát dòng sông
đêm quê hương mênh mông sao chưa hừng đông?
Chiến mã rất khát nước trong trên quê hương tang thương.
Ai qua trường giang !!! ??? (4*)
*
(1*) TP
(2*) Phạm Đức Nhì
(3*) Nguyễn Cung Thương
(4*) Trần Lê Việt & Lê Xuân Nho…

***

Tình HOÀI HƯƠNG
(dì HH tưởng nhớ cháu Bảo:
19 tháng 8 từ giã cuộc đời…)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s