NHỮNG MẢNH ĐỜI DANG DỞ – Phần 3

MX Nguyễn Ngọc Minh

TRIỆU PHONG – CHỢ SÃI – SÔNG VĨNH ĐỊNH

Những người lính TQLC chúng tôi từ khắp miền đất nước, từ Cao Bằng, Lạng Sơn tới Năm Căn, Cà Mau, từ Tây Nguyên Pleiku, Kontum đến miền duyên hải Nha Trang, Đà Nẵng, những người dân Khmer Crôm vùng 4, tới một chàng thanh niên trẻ yêu đời từ Paris. Chúng tôi được tập họp tại Quảng Trị, để cùng với người dân vùng đất cày lên sỏi đá này, đóng những vai thật trong một vở bi kịch thời chiến….

Tháng 3 năm 1973 đơn vị tôi rời cổ thành và tỉnh lỵ Quảng Trị, hoán đổi vị trí đóng quân với tiểu đoàn 3 TQLC tại Triệu Phong, khu vực Chợ Sãi và sông Vĩnh Định.
Trên đường chuyển quân tôi gặp Bích, một người bạn cùng khóa thuộc tiểu đoàn 3. Chúng tôi dừng lại đôi ba phút để hỏi thăm nhau, rồi mạnh ai nấy tiếp tục đoạn đường.
Chợ Sãi chiếm một khu vực thật đẹp mắt ở ngã ba sông Thạch Hãn, và một nhánh nhỏ dẫn về sông Vĩnh Định, nằm ở phía Đông Bắc của Quảng Trị và cổ thành Đinh Công Tráng, trên trục lộ đường thủy từ cửa Việt đến Quảng Trị. Vì là một vị trí chiến lược quan trọng nên quân đội của cả hai miền đều dồn sức vào đây. Bom, pháo liên tục, Chợ Sãi chỉ còn là một chiến địa hoang tàn.
Chúng tôi, những chiến binh miền Nam xa gia đình đi chiến đấu, không biết nhiều về những truyền tích xưa. Không hiểu là khu vực này được xây dựng từ thời Chúa Sãi, hoặc tự bao giờ?
Người dân Quảng Trị thường nhắc về Chợ Sãi với món nem nướng thơm ngon. Thế mà những người lính chúng tôi đóng quân ở nơi này lại không có dịp thưởng thức được món đặc sản này, vì Chợ Sãi đã không còn.
Ngay góc sông, tàn tích còn sót lại của một ngôi nhà to, xây bằng gạch nung và đá vôi, mặt nhà nhìn về hướng cầu Thạch Hãn, lối bước lên nhà là một bậc cấp 7 bước. Bên ngoài ở góc phía sau nhà là một lối nhỏ dẫn vào chỗ kho chứa, chất đầy các dụng cụ linh tinh. Nơi đây đã là chỗ trú ngụ trong suốt những ngày lửa đạn của ba cô cháu gái, và cũng là chỗ tiếp tục kéo dài theo những mảnh đời của họ sau này.
Băng qua nhánh sông, trên những khúc gỗ tạp chồng chất lên nhau để nối liền hai bờ của chiếc cầu đã gẫy, con tỉnh lộ nối Triệu Phong với tỉnh lỵ Quảng Trị không còn hình dạng, những đoạn đường nhựa bị cắt quãng bởi hố bom và giao thông hào xen kẽ với nhau.
Tôi dừng lại đốt một điếu thuốc, kéo một hơi dài, nghe lồng ngực căng ra với một cảm giác lâng lâng. Một người lính trẻ bước qua chỗ tôi ngồi, lên tiếng chào:
– Thiếu úy ngồi nghỉ mệt hả?
Tôi cười và gật đầu trả lời, rồi hỏi:
– Em ở đâu?
Chỉ tay về phía khúc quanh của đoạn giao thông hào không xa phía trước, anh nói:
– Dạ, trung đội em ở ngay trước mặt đó. Thiếu úy đi sau nghe Thiếu úy…
Điếu thuốc còn dang dở trên tay, chưa kịp tiếp tục đoạn đường đến vị trí đóng quân, tôi nghe tiếng nổ chát chúa của một quả lựu đạn M-67, nhảy vội xuống giao thông hào, nhìn về hướng tiếng nổ phát ra, một bóng người vừa ngã xuống.
– Chuyện gì vậy?
Tôi hỏi những người lính phía trước, một lúc sau có tiếng những người lính nói chuyền xuống.
– Thằng… bị sút kíp lựu đạn khi nó nhảy xuống giao thông hào.
– Người tôi rởn da gà nhớ lại câu ” Thiếu úy đi sau nghe Thiếu úy…”. Câu anh nói chưa tàn điếu thuốc, bây giờ anh đi rồi, chừng nào tới phiên tôi đi… Tôi lặng người và không dám nghĩ tới.
Đại đội 3 đóng quân trải dài trên một đường tuyến ngoằn ngoèo khoảng hơn nửa cây số, từ bên ngoài Chợ Sãi kéo về phía quận đường Triệu Phong, rồi lại uốn cong về hướng Vĩnh Định.
Thời gian này tôi còn đi bay, OJT (on job training) với huynh trưởng Nguyễn Văn Huyền, trung đội 1 và huynh trưởng Nguyễn Lai, đại đội phó, trước khi nhận trung đội 3.
Tôi được học về cách bố trí quân, điều động và kết hợp, chọn vị trí chốt, các điểm chính yếu khi phòng thủ, các hướng tấn công và các đường xâm nhập của địch, trên thực tế, ngay tại chiến trường. Những ngày đi bay, học nghề của những sĩ quan trung đội trưởng TQLC, đã tiết kiệm được biết bao nhiêu xương máu của những người chiến sĩ mũ xanh.
Ngay sau khi hiệp định Paris 27/01/73 được ký kết, thay vì hòa bình chiến sự vẫn tiếp diễn ngày càng khốc liệt vì cộng quân tiếp tục tấn công để giành dân lấn đất sau ngày ngưng bắn. Thỉnh thoảng nghe được tin tức vài bạn cùng khóa hoặc khác khóa từ trường Đồng Đế Nha Trang đã hy sinh. Các bạn tôi ở cùng trung đội 1, đại đội 719, tiểu đoàn 1 khóa sinh, khóa 3/72 Nha Trang nhưng khi ra trường mỗi đứa một nơi như Mã Quyền thuộc sư đoàn 23 bộ binh, Trần Như Phú thuộc Biệt Động Quân cũng đã anh dũng đền nợ nước.
Hơn một tuần sau, đại đội 3 được giao cho công tác làm một hàng rào chắn đạn trực xạ, dọc bờ sông Thạch Hãn trong khu vực Chợ Sãi, và tôi nhận nhiệm vụ thi hành công việc này.
Mỗi ngày chúng tôi bắt đầu làm việc từ 9 giờ đến 10 giờ rưỡi sáng thì nghỉ giải lao, sau đó tiếp tục làm đến 12 giờ trưa thì về ăn cơm. Buổi chiều làm từ 2 đến 5 giờ chiều.
Hàng ngày có khoảng từ 30 đến 40 người lính từ các trung đội được giao cho tôi điều động để thi hành công tác. Nhờ công việc này nên chỉ một thời gian ngắn, tôi đã có thể nhớ tên hầu hết các chiến binh của toàn đại đội, biết tính tình và khả năng của họ, một điều rất ích lợi cho tôi sau này.
Thường thì vào giờ giải lao các chiến binh tìm chỗ mát nghỉ mệt, vài anh vào các căn nhà sụp đổ, thơ thẩn tìm vài vật dụng cần thiết còn có thể dùng được, số khác ngồi hút thuốc tán gẫu, hoặc tư lự nhớ nhà.
Một hôm có một người lính trẻ, lôi ra một cuốn sách Cours de Langne (Mauger Tome IV) ngồi đọc lẩm nhẩm, mỉm cười trầm tư.
Bước từ trên những bậc thềm của ngôi nhà xuống, nhìn thấy anh ta đang ngồi đọc sách, tôi hỏi:
– Mày lấy cuốn sách tiếng Tây làm chi, mày đọc được không?
– Dạ được, Thiếu úy.
– Đọc thử một đoạn coi.
Anh cất giọng đọc một cách thoải mái tự tin, làm cho tôi sửng sốt. Tôi đã được học một số bài trong sách này năm đệ Nhất, và tôi cũng đã được học 3 khóa Pháp văn tại Centre Culturel Francaise vào năm 67 và 68, mà tôi còn phải giật mình.
– Mày học tiếng Pháp ở đâu vậy?
– Em học ở Paris.
– Mẹ, mày giỡn hả?
– Nó ở bên Tây về đó Thiếu úy, người lính ngồi cạnh anh lên tiếng.
Tôi ngạc nhiên nhìn kỹ lại anh lính trẻ. Anh vào khoảng 18, 19 tuổi, sống mũi cao, tóc vàng, mắt xanh lơ, mà ngạc nhiên không ít.
– Có thiệt mày ở bên Tây về không?
– Dạ phải, Thiếu úy.
Anh nói tiếng Việt lơ lớ. Tôi cũng muốn biết thêm, nhưng không có nhiều thì giờ để tìm hiểu về cuộc đời anh nên chờ khi khác có dịp thuận tiện hơn.
Hơn một tháng sau, hàng rào được hoàn tất.
Một hôm huynh trưởng Tăng Bá Phụng mời các sĩ quan đại đội lên họp. Anh là một đại đội trưởng giỏi, có đạo đức và tư cách. Tôi đã học được từ anh rất nhiều về cung cách điều động và ứng xử với thuộc cấp.
– Ông Minh, lệnh từ sư đoàn là phải tổ chức một lớp học Việt ngữ cho những người lính mù chữ. Thượng sĩ Nam, thường vụ đại đội, sẽ phụ trách lớp học nhưng cần sự cố vấn, giúp đỡ của một sĩ quan, tôi giao cho anh chuyện này.
Sau đó anh em chúng tôi ngồi tâm sự, nói chuyện đời. Anh đưa cho tôi mượn vài quyển tiểu thuyết, truyện dịch của Quỳnh Dao và Erich Maria Remarque. Huynh trưởng Nguyễn Lai vừa cười vừa nói:
– Ê Minh, lính tác chiến không biết ngày về, cầm đọc cho đỡ quên chữ.
Anh Lai là sĩ quan thâm niên và lớn tuổi nhất đại đội. Anh nhập ngũ khóa hạ sĩ quan, sau đó được đi học sĩ quan đặc biệt khóa 1/70 và cũng là sĩ quan độc nhất có gia đình. Các anh em còn lại chúng tôi, đại đội trưởng và các trung đội trưởng vẫn còn độc thân tại chỗ.
Lớp học Việt ngữ có khoảng 10 học sinh, ai cũng nói giỏi tiếng Việt nhưng không biết viết. Chỉ trừ Binh II Nguyễn Văn Quang từ Paris về, nói không rành và viết chữ cũng không có dấu.
Bắt đầu thì học cho thuộc các mẫu tự, rồi tập ráp vần, ráp chữ, sau đó thì tập đọc và viết.
Một hôm có một anh lính tinh nghịch chỉ cho Quang đánh vần thơ lục bát. Quang học nhanh vì em có trình độ.
Hai câu thơ lục bát như sau:

“M K M H U Ơ
M K M H M R Q N.”

Nhìn gương mặt hồn nhiên của một chàng trai mới lớn, hiếu học, ham tìm hiểu tiếng mẹ đẻ mà thấy dễ thông cảm với em hơn.
Quang háo hức cất tiếng đọc chậm rãi:

“Em ca em hát u ơ
Em ca em hát em rờ… cu anh.”

Cả lớp học rộ lên cười, trong khi Quang trố mắt ngạc nhiên và mỉm cười cất tiếng hỏi:
– Bộ vui lắm hả?
Hình như em chưa hiểu hết ý nghĩa của câu thơ.

Giữa tháng Tư, tôi nhận trung đội 3 khi Bửu về tập dượt diễn hành cho ngày Quân Lực 19/6. Tôi có một cuốn sổ bỏ túi để ghi tên tuổi, cá tính, trình độ học vấn của tất cả các chiến binh trung đội 3. Những chi tiết cần thiết này giúp tôi biết rõ các chiến binh thuộc quyền để dễ dàng điều động cho thích hợp với nhiệm vụ.

Trang viết về Binh II Nguyễn Văn Quang như sau:

Tên: NGUYỄN VĂN QUANG. Cấp bực: Binh II.
Ngày và nơi sinh: 1955 – Cần Thơ.
Trình độ học vấn: Tú tài (Vỡ lòng).
Hoàn cảnh gia đình: Độc thân.
Sở thích: Đọc sách tiếng Pháp.
Vũ khí sử dụng: M-16.
Cá tính: Hay ngủ gật khi gác.

Quyển sổ tay nhỏ này giúp cho tôi rất nhiều trong thời gian ở đại đội 3 và những ngày trong quân đội. Anh Lê Văn Xê, trung đội phó, hỏi tôi:
– Sao ông viết Tú tài rồi còn vỡ lòng nữa?
– Nó Tú tài Tây nhưng vỡ lòng Việt ngữ.
Anh Xê cũng chiếm một trang trong sổ tay của tôi và chính anh cũng có một sổ tay riêng của trung đội phó ghi chép về trang bị và vũ khí của từng người trong trung đội.
Thời gian đi công tác làm hàng rào chống đạn trực xạ, tôi có nhìn thấy một chiếc xương sọ người trong một ngôi nhà đổ nát. Một hôm nhìn vào tôi thấy chiếc xương sọ biến mất. Ngạc nhiên tôi hỏi những người lính:
– Ai lấy chiếc xương sọ ở đây?
Một anh ở trung đội 4 trả lời.
– Anh Tiền đó Thiếu úy.
Trung sĩ Tiền, trung đội phó trung đội 4 đã lấy chiếc xương sọ về. Thảo nào tôi có nghe các người lính kể chuyện anh Tiền gửi hậu trạm, mua nhang đèn, trái cây, giấy tờ vàng bạc, và đêm nào cũng thắp nhang đèn vái lạy tứ phía.
Khoảng hơn một tuần sau, tôi lại thấy chiếc xương sọ trở về chỗ cũ trong ngôi nhà. Lại nghe các người lính kháo nhau về chuyện này.
Tôi ghé hỏi thăm Dũng và Chắn, hai người lính ở ban chỉ huy trung đội 4, Dũng trả lời:
– Ông không biết hả Thiếu úy, tối nào nó cũng về bóp cổ ổng, thở không nổi nên ổng phải đem trả lại đó.
Một buổi trưa tôi đang ngồi đọc sách dưới bóng râm của những tấm tôn vá víu dùng làm chỗ ngồi ăn của trung đội 3 thì thấy một số người lính đi nhận tiếp tế hàng tuần từ cánh B trở về đi ngang qua, trong số có Trung sĩ Thật, trung đội phó trung đội 2, mang theo một ôm thư, theo sau anh là Binh I Triết, hiệu thính viên của trung đội 2, cũng khệ nệ ôm một đống thư.
Tôi lên tiếng hỏi:
– Thư của ai nhiều vậy anh Thật?
Chỉ vào thằng Triết, anh nói:
– Của thằng này đây nè, nó bốn phé bắn (tìm bạn bốn phương) trong chương trình Bạch Tuyết trên đài phát thanh Quân đội nên thư gửi tới cả đống.
Sau ngày TQLC tái chiếm cổ thành Quảng Trị, trên các đài phát thanh hàng ngày thường phát đi bài hát “Cờ Bay Trên Cổ Thành Quảng Trị”.
Những người dân miền Nam lúc đó rất thương mến những chiến sĩ cọp biển, nhất là các cô em gái hậu phương, hình ảnh người anh cọp biển tiền tuyến là thần tượng khi nghe đọc trên đài phát thanh trong mục tìm bạn bốn phương. Tôi còn nhớ lời tìm bạn bốn phương của Nguyễn Văn Tân.

“Hơn 20 tuổi đời, tròn 2 tuổi lính, ôm giấc mộng làm trai thời chinh chiến, thèm ánh đèn đô thị với những buổi hẹn hò, thương chiếc áo dài trắng trên sân trường ngập nắng, mà chưa một lần được ngỏ cùng ai. Này cô em gái hậu phương, nếu có cảm thông niềm tâm sự, xin cho cánh nhạn bay về:
Nguyễn văn Tân
Đại đội 3, Tiểu đoàn 7 TQLC
KBC 3359
Hứa hồi âm dù thư đến chậm.”

Chắc các người trong chương trình tìm bạn bốn phương đã sửa đổi ít nhiều khiến cho lời rao tìm bạn của Nguyễn Văn Tân trở nên văn hoa quá!
Tân và Triết là hai trong hàng trăm cọp biển độc thân của đại đội 3, yêu đời lính, thích nhạc họ Trịnh (chú thích: Trịnh Lâm Ngân). Đoạn này làm tôi nhớ đến thằng Mẫn, trung đội trưởng trung đội 4, mỗi lần nghe đến câu thích nhạc họ TRỊNH là nó phá lên cười sằng sặc. Mẫn đã hy sinh vào cuối năm 74 khi đơn vị đóng quân tại căn cứ Hòa Mỹ, lúc tiểu đoàn 7 tăng phái cho lữ đoàn 1 thiết kỵ trong khu dinh điền Đông Lâm.
Các bản nhạc rất phổ thông trong đời lính xa nhà lúc bấy giờ là “Xuân Này Con Không Về”, “Giã Từ Vũ Khí”, “Sương Trắng Miền Quê Ngoại”…
Khoảng mười ngày sau khi nhận thư, tôi đang ngồi đọc sách thì Triết đến tìm tôi với vài lá thư trên tay.
– Thiếu úy à, ông đọc giùm tôi bức thư này được không?
Tôi gật đầu nhận bức thư và mở ra xem. Đó là một lá thư từ Saigon gửi ra cho anh, nét chữ tròn trịa, mềm mại của một cô gái. Nếu cứ nhìn nét chữ mà đoán người thì cô gái này chắc trông cũng “phì nhiêu” và có da có mỡ lắm!
Mở đầu thư cô nhắc về những tư tưởng của Hégel, Des Cartes, Pythagore… Cô diễn tả về con đường Cường Đễ với những hàng Me và những hàng cây Sao kéo dài tới bến Bạch Đằng…
Lá thư thứ nhì nét chữ sắc sảo, thanh tú, cao và gầy như những búp măng. Nhìn chữ tôi liên tưởng tới hình cô gái làm kiểu mẫu cho hãng tăm tre hiệu “Hạnh Phúc”.

Thư viết:

“Ông Triết,
Tôi viết lá thư này cho ông khi ngồi ở sân trường, dưới bóng mát của những hàng me. Mùa này chưa có tiếng ve sầu vì trời chưa vào hạ. Trước khi đến trường, tôi ghé qua chiếc xe bán dừa tươi ở Công Trường Chiến Sĩ để mua một ly nước dừa xiêm ướp đá mát lạnh.
Nghĩ đến ông và những người bạn cùng đơn vị, nơi Cổ Thành Quảng Trị xa vời mà thầm cám ơn người lính Cộng Hòa…”

Lời thư ngọt lịm của những cô em gái, từ thủ đô Saigon xa xôi gửi tới người anh chưa từng biết mặt nơi tuyến đầu nắng cháy.
Tôi quay qua Triết hỏi đùa:
– Ê Triết, mày thích ngủ giường nệm mousse (mút) hay thích ngủ sạp tre?
– Con gái Saigon viết cái gì khó hiểu vậy ông?
Triết hỏi lại tôi mà không trả lời.
Nhìn vào bì thư tôi thấy tên người nhận là:
“Cao Hiền Triết
Đại đội 3 – Tiểu đoàn 7 TQLC“
Tôi chợt hiểu và không ngờ người lính TQLC này có cái tên nghe quá hay và học thức như thế!
– Triết à, mày quê ở đâu?
– Năm Căn – Cà Mau, Thiếu úy ơi!
– Mày đi học ở đâu? Hết trung học chưa?
– Tui đi học trường ở dưới quận, chưa hết lớp Nhứt ông ơi!
Tôi nhìn vào mặt Binh I Triết, vẻ ngây thơ và nụ cười rụt rè của một người con trai vùng quê mới lớn, khoảng 20 tuổi đời. Lòng phân vân tôi nói với Triết:
– Tao có thể viết thư trả lời giùm cho mày, nhưng chỉ một hai lần thôi, sau đó mày có viết tiếp được không thì tùy mày. Nhưng tao đề nghị mày nên chọn một lá thư nào mà mày đọc và hiểu rõ ràng thì mới trả lời, thư nào thiệt dễ hiểu thì tốt nhất.
Cái tên Cao Hiền Triết làm cho các cô gái nghĩ ngay tới một người mẫu người nghiêm trang, học thức, lý tưởng cho các cô gái có học. Nhưng Triết thực tế ngoài đời không phải là đối tượng như vậy cho các cô sinh viên Văn Khoa và Luật Khoa đầy mơ mộng ở các giảng đường đại học Saigon.
Triết là một người trai trẻ học ít nhưng yêu quê hương, yêu đời, sinh ở miền tận cùng đất nước, vào lính theo tiếng gọi non sông và đóng quân ở tuyến đầu cực Bắc… Vài tuần lễ sau thư tới tay Triết thưa dần, gặp Triết tôi hỏi:
– Mày chọn được cô nào chưa Triết?
– Thôi ông thầy ơi, thư gì mà khó hiểu quá, mà tui cũng hổng đủ tiền mua tem nên không dám trả lời. Thằng Tân nó nhận thư nào cũng dễ đọc và dễ hiểu.
Cái tên thật bình thường và giản dị Nguyễn Văn Tân, đúng là cái tên dành cho các cô gái quê chất phác miền Nam và vùng 4 một niềm tin thành thật.

Một buổi sáng đang ngồi chơi với thằng Mẫn tôi thấy vài người lính rủ nhau đi bắt tôm, họ mang theo một nắm cơm, cột một hòn đá vào một bên của cái nón sắt, rồi thả xuống giếng nước. Mỗi lần kéo lên là lại được vài con tôm đỏ tươi, kéo cả tiếng đồng hồ thì cũng đủ để nấu một tô canh tập tàng (đủ các loại rau dại). Chuyện này làm tôi nhớ lại một kỷ niệm vui tôi được nghe trong lúc đơn vị còn trên đường tiến chiếm Cổ Thành. Khi những người lính đại đội chỉ huy đi hái rau lẫn lộn trong cỏ dại để nấu canh, mong có chút rau tươi thay vì chỉ ăn Ration C, nóng và bón. Người sĩ quan cố vấn Mỹ nhìn thấy và nói bập bẹ tiếng Việt: “Lính TQLC Việt Nam ăn cỏ”, nghe câu này tôi thấy thêm thương đời lính tác chiến xa nhà. Lúc đóng quân ở vị trí mới thì đi tìm nước uống, những người lính tìm thấy giếng thì múc nước uống, thấy có tôm trong giếng thì múc nước bắt tôm. Ngày hôm sau không có ai đi bắt tôm nữa, tò mò tôi hỏi thằng Chắn:
– Bộ hết tôm rồi hả Chắn?
– Không, tôm còn nhiều lắm, nhưng mà khi nước xuống thấp thì thấy nguyên một bộ xương người ngồi dưới đáy giếng. Không đứa nào dám bắt tôm nữa ông ơi!
Thế rồi họ quay sang đi bẻ măng. Những người lính đôi mươi, tuổi mới lớn đang khỏe ăn, lúc nào cũng mong có thêm một ít thức ăn tươi cho bữa cơm đạm bạc của họ. Mãi cho đến một hôm, một người lính trung đội 1 của huynh trưởng Nguyễn Văn Huyền đi bẻ măng bị thất lạc, hỏi thăm thì thằng Xương ở trung đội 1 cho biết:
– Thằng Hội đi hái măng từ 11 giờ sáng cho tới bữa cơm trưa cũng chưa về. Cả trung đội thay phiên đi tìm nó chung quanh mấy bụi tre trong khu đại đội đóng quân mà không thấy. Mãi đến 2 giờ chiều mới có người trông thấy anh ta ngồi kẹt trong một bụi tre gai, miệng la bài hãi kêu cứu. Mấy anh lính TQLC phải dùng dao đi rừng, phát cây, chặt tre để mở đường cho anh ta thoát ra. Ra đến bên ngoài thì thằng Hội xây xát cả mình mẩy.
Một người lính của trung đội 1 hỏi thằng Hội:
– Mày làm gì mà chui vô trong đó ngồi?
– Tao thấy măng trong bụi này, chui vô rồi bị kẹt cứng, loay hoay hoài không thấy đường ra nên kêu la cầu cứu. Thật không hiểu nổi tại sao!

Trên đường từ cánh B đi xuống cánh A phải băng qua một khu đồng trống, nơi tiểu đoàn 1 Quái Điểu đã nhảy trực thăng vào Triệu Phong tháng 7 năm 1972. Chỗ chiếc trực thăng bị bắn nổ tung là một cái miếu với mấy chục cái nón sắt bị cháy sém, loang lổ…
Mỗi khi đi ngang qua đây, chúng tôi ghé vào đốt nhang khấn vái các chiến hữu đã hy sinh. Còn nếu đi một mình thì cắm đầu cắm cổ chạy cho lẹ qua khỏi chỗ này. Có lần trên đường về, nhìn thấy một anh lính ngồi bên vệ đường, tôi hỏi:
– Em làm gì ngồi đây, ở đại đội nào?
– Em ở đại đội 1. Em không dám đi một mình, chờ có ai đi chung cho đỡ sợ.
Nhớ lại câu chuyện mà một anh lính đại đội 3 kể lại. Một hôm trên đường đi về, gần đến cái miếu thì anh thấy có một người lính theo sau. Khi vừa qua khỏi cái miếu thì anh nghe có tiếng cười sau lưng, quay lại thì không thấy anh lính đi sau đâu nữa. Thế là anh vắt giò lên cổ chạy bạt mạng. Từ đó về sau, không bao giờ anh dám đi qua nơi này mà không có 2 hay 3 người đi cùng.
Quay qua nhìn anh lính, tôi hơi cảm thấy lo vì không biết có phải các anh khuất mặt trêu đùa hay không? Nhìn bảng tên anh trên ngực, màu cam của tiểu đoàn 7, thế là có bạn đồng hành.
Trên đường đi anh kể cho tôi nghe nhiều chuyện. Có lần đi qua ngôi miếu anh nghe có tiếng cười bên trong, có khi nghe cả tiếng người nói chuyện và cãi vã nhau nữa…

Tháng 5/1972 đại đội 1 và 3 chuyển về cánh A trên hướng sông Vĩnh Định và Hương lộ 555. Thời gian này trung đội 3 được tăng phái giữ an ninh vòng đai cho tiểu đoàn.
Tôi đến gặp huynh trưởng Ngô Kim Anh để nhận tuyến. Anh vừa được thuyên chuyển từ TĐ5 qua TĐ7 TQLC trước đó một tháng. Trong dịp tăng phái cho đại đội chỉ huy, tôi đã có dịp gặp anh và quen biết với hầu hết các sĩ quan trong ban ngành và đại đội chỉ huy. Hai tuần sau hết nhiệm vụ, trung đội 3 lại trở về đại đội bên bờ sông Vĩnh Định.
Mỗi đêm tôi thường đi kiểm soát tuyến đóng quân và các vọng gác của trung đội 3 một lần khoảng giữa khuya và một lần khoảng gần sáng. Trung đội có vài con chó được giao cho vài anh lính nuôi để gác đêm. Có lần tôi thấy con chó của Hạ sĩ I Phấn, tiểu đội 3 được cột ngay trước cửa hầm của anh. Tôi hỏi anh lính gác gần đó:
– Tại sao không để chó nằm ngoài vọng gác?
Anh trả lời:
– Tối nào anh Phấn cũng thấy hai người đàn bà, một người đang mang thai dẫn theo một đứa bé vào thăm anh, làm cho anh sợ hãi không ngủ được, mặt mày xanh lè xanh lét. Nếu cột con chó trước cửa, nó sủa, họ sợ không dám vào thì anh mới chợp mắt được; còn không thì anh phải thức làm việc cả đêm.
Cũng tại tuyến đóng quân này, Binh I Lên – Hiệu thính viên, đã từng gặp ma một đêm khuya, làm cho tôi phải dời chỗ ở qua nhà khác.
Thời gian đóng quân ở sông Vĩnh Định là thời gian tương đối nhàn nhã, rảnh rỗi. Ngoài các công việc thường xuyên hàng ngày, thời giờ còn lại tôi và anh Huyền thường đàn hát, đôi khi các trung đội trưởng ngồi chơi đố chữ. Cũng trong thời gian này, tôi có dịp ghé thăm các đại đội khác và quen biết các sĩ quan đại đội 1, 2 và 4.
Cứ mỗi lần tiếp tế tôi lại ghé huynh trưởng Tăng Bá Phụng để mượn một vài quyển sách anh đã đọc xong.

Thời gian này tôi bắt đầu tìm hiểu thêm về cuộc đời của Binh II Nguyễn Văn Quang.
Một hôm tôi gọi Quang đến để hỏi thăm về hoàn cảnh của em.
– Lúc trước mày ở đâu bên Pháp?
– Em ở phía Nam của thủ đô Paris.
– Tại sao mày lại về Việt Nam đi lính?
– Hè năm 72 sau khi tốt nghiệp Trung học, ba má cho em về Việt Nam thăm bà ngoại.
– Bà ngoại mày ở đâu?
– Dạ, ở Cần Thơ.
– Rồi tại sao hết hè mày không về Pháp mà lại ở đây?
– Em không biết, không nghe ba má nói gì hết.
– Mày làm gì ở nhà bà ngoại?
– Không có làm gì, chỉ đi chơi, đói thì về nhà ăn, rồi ngủ.
– Tại sao mày lại đi lính TQLC?
– Một hôm em đi theo tụi bạn cùng xóm lên chợ, tụi nó tình nguyện đăng lính. Một anh lính trong ban tuyển mộ hỏi em, “Ê, còn mày đi không? Tao có giấy tờ cho mày nè!”. Rồi anh làm hết thủ tục giấy tờ cho em.

Sau vài ngày chờ đợi ở trung tâm 4 tuyển mộ và nhập ngũ, Quang và các bạn được đưa về trung tâm huấn luyện TQLC ở rừng Cấm. Thế rồi tiếp theo 9 tuần căn bản quân sự, một khóa học đổ bộ và leo lưới, em đã trở thành một chiến binh TQLC tên Nguyễn Văn Quang. (Tôi không còn nhớ tên Pháp của em).
Quang sống vô tư, không biết lo lắng, chưa ý thức được hiểm nguy, nên khi gác em thường ngủ gật, hoặc mang theo ghế ngồi gác, dựa vào tương vôi, hút thuốc tỉnh bơ. Tôi phạt Quang và giải thích cho em rất nhiều lần về nhiệm vụ gác giặc, ngày và đêm phải luôn luôn thức tỉnh, kín đáo phát giác kịp thời các hoạt động của địch để bảo vệ sinh mạng của mình và đồng đội.
Một hôm tôi hỏi Quang:
– Mày có thường coi cinéma không?
– Dạ có.
– Có biết tài tử Alain Delon không?
– Dạ, ở Pháp Alain Delon nổi tiếng như Hùng Cường ở đây vậy.
Quang là một người con lai, cha Pháp mẹ Việt. Tôi cố gắng tìm hiểu kỹ càng thì được biết về cuộc đời em như sau:

“Cha em là một người lính viễn chinh Pháp tại Việt Nam, yêu thương mẹ em là một cô gái Việt nhưng bên nội ở Pháp không đồng ý. Hai người muốn đặt bên nội trước tình thế đã rồi nên xin một đứa con nuôi lai Pháp của một người bạn gái mẹ em đem về Pháp vào khoảng 1956 khi lực lượng viễn chinh Pháp cuối cùng rút về nước. Đứa bé nuôi đó chính là em bây giờ”.

– Ở Paris mày có chú thím, cô bác gì không?
– Chỉ có Grand père et Grande mère.
– Ông bà nội có thương mày không?
– Thương lắm nhưng bây giờ chết rồi.
– Mày có em không?
– Dạ có hai em gái. Hồi chưa có thêm em gái thì ba má thương, sau đó rồi thì ba má không thương nữa.
– Có viết thư cho ba má mày không?
– Không.
– Cậu mợ dì dượng mày ở đây có liên lạc với má mày ở bên Pháp không?
– Có, nhưng không thấy nói gì hết. Có lần họ nói em là con hoang, muốn đi đâu thì đi.
Tôi giật mình vì câu nói của em, không thể tin được ở tai mình. Thật tội cho em, nếu em ở lại Việt Nam thì đáng thương cho một kiếp người.
Khi tiểu đoàn ra dưỡng quân tại làng TQLC trước khi về Saigon, tôi gọi em đến và bảo:
– Để dành tiền lương tháng này và tháng tới, chỉ xài chút đỉnh khi nào cần thiết mà thôi.
Lấy một tờ giấy, tôi vẽ cho em một bản đồ nhỏ và ghi rõ chú thích: Từ bến xe Phú Lâm gọi taxi hoặc xích lô đi đến ngã tư Hồng Thập Tự và Hai Bà Trưng, vừa qua khỏi ngã tư bên tay phải là tòa Tổng Lãnh Sự Pháp.

– Về nhà bà ngoại ở Cần Thơ, ráng tìm cho được các giấy tờ hồi mày ở Pháp, đi xe đò lên Phú Lâm, tới chỗ này, tôi chỉ tay vào bản đồ. Dù có giấy tờ hay không cũng không cần thiết, vào nói với họ mày xin về Pháp. Tên ba mày, địa chỉ ở Pháp, giọng nói và hình dáng mày thì người ta sẽ cho mày về. Ở đây không phải là chỗ thích hợp cho mày đâu.

Cuối tháng 7 năm 73 tiểu đoàn về hậu cứ. Đầu tháng 9 năm 73 tiểu đoàn trở ra hành quân, và trong đoàn chiến binh TQLC trở lại Quảng Trị lần này vắng mặt Binh II Nguyễn Văn Quang.

“Chúc em được nhiều may mắn nơi quê cha ở trời Tây!”.

Suốt thời gian đóng quân ở Chợ Sãi, mỗi chiều sau khi công tác xong, chúng tôi thường xuống sông Thạch Hãn tắm và bơi. Một hôm trên đường về, đi ngang qua một ngôi nhà, tôi gặp ba cô cháu đang ngồi ăn cơm chiều nơi góc một căn nhà đổ nát.
Bước về phía họ tôi mở miệng:
– Mạ với mệ ăn gì đó, cho con ăn với?
– Ăn cơm eeng ơi!
Tôi ngồi xuống đất thì bà cô trẻ nhất bới cho tôi một bát cơm. Nhìn vào cái mâm đồng hoen rỉ trước mặt ba cô cháu thì chỉ thấy một chén muối ớt.
– Cám ơn mạ!
Đón lấy đôi đũa và bát cơm, tôi gắp một lát sắn bỏ vào miệng nhai, cảm thấy bùi bùi. Gắp lát thứ nhì và nhai kỹ hơn, tôi cảm thấy vị đăng đắng và mùi ẩm mốc xông lên. Nhìn kỹ vào bát cơm độn tím ngắt, tôi có thể nhìn thấy rõ những vết mốc trên những lát sắn phơi không đủ khô, hoặc còn ẩm ướt khi dự trữ.
Bước đến chỗ một người lính đóng quân gần đó, tôi xin anh một bao gạo sấy và đi về phía căn nhà đổ nát bên cạnh, trút bát cơm độn vào một hố trống cạnh nhà, dùng chân đùa vội những mảnh gạch vụn quanh đó để khỏa lấp bát cơm mốc. Tôi quay trở lại để trả bát đũa cho bà cô trẻ và tặng bà một bao gạo sấy.
Lòng xót xa nghĩ về ba cô cháu đã phải chịu đựng đạn bom trong suốt cuộc chiến tranh ập xuống Quảng Trị trong những năm vừa qua. Bây giờ không còn người thân, không còn nhà cửa, đất đai và phương tiện sinh sống. Ba cô cháu sẽ phải nương tựa vào nhau cho đến hết cuộc đời.

Một hôm trên đường xuống sông tắm, tôi thấy bà cô trẻ ngồi khóc thút thít bên ngoài căn hầm.
Bước đến cạnh bà tôi mở miệng hỏi thăm:
– Làm gì mà khóc đó mạ?
Tiếng bà cô già bên trong vọng ra:
– Cái ngữ biếng nhác đó thì làm ăn gì eeng ơi!
À, thì ra cô bị O mắng.

Tháng 6 năm 72, đại đội 3 đóng quân ở sông Vĩnh Định, tôi có ghé lại khu Chợ Sãi nhưng chỉ còn gặp một bà cô trẻ và bà cô già. Hỏi thăm những người lính đóng quân gần đó thì được biết bà cô trẻ ít nói đã qua đời. Những người lính đã tiếp tay vùi nông thân xác bà ở một mảnh đất trống cạnh đó.
Nhìn gương mặt hốc hác của hai cô cháu còn sót lại với vẻ âm thâm chịu đựng, tôi không biết dùng chữ gì để diễn tả gương mặt hai bà lúc đó. Một nỗi ray rức dấy lên trong hồn tôi, “Ngày nào thì sẽ đến phiên hai người này, ai sẽ là kẻ đi trước….?”
Một ý nghĩ mâu thuẫn chợt đến trong đầu tôi, vừa mong cho họ sống lâu, vừa mong cho họ thoát nhanh ra khỏi cuộc đời đầy cay đắng này. Hình như không phải họ đang sống mà chỉ đang kéo dài cái chết…

Để chuẩn bị cho ngày Quân Lực, đại đội 3 được nhận một số lá cờ mới, chia đều cho các trung đội để cắm xung quanh vị trí đóng quân và gắn lên hàng rào ngăn cách giữa hai bên Nam Bắc.
Một người lính trong lúc bước tới hàng rào, xuyên qua một bãi cát đã đạp lộ ra một quả lựu đạn M-67 được gài từ trước, chốt lựu đạn đã được rút, còn thìa thì được dằn bên dưới một hòn đất khô. Vừa nhìn thấy, tôi bảo anh đứng yên tại chỗ và gọi các người lính khác trở lại giao thông hào. Tôi ra hiệu cho anh rút bàn chân không giẫm lên quả lựu đạn đưa về phía sau, kiếm một điểm tựa chắc chắn và từ từ rút bàn chân đang đạp trên quả lựu đạn lên. Nếu thìa quả lựu đạn bật thì a lê hấp nhảy xuống giao thông hào… Khi anh rút chân ra khỏi thì quả lựu đạn vẫn còn nằm yên tại chỗ… Hú vía!!!
Tôi chỉ thị cho các người lính cắm những lá cờ còn lại chung quanh vị trí đóng quân, không mạo hiểm nữa, và đóng một hàng cọc làm mốc đánh dấu cho các người lính khác khỏi đạp nhầm.
Một anh lính xin tôi cho gỡ quả lựu đạn.
– Thiếu úy, em biết cách gỡ trái lựu đạn đó.
– Tao cấm mày bước tới đó, nếu tao biết được thì mày coi chừng tao.
Tôi không muốn cho anh phiêu lưu, đem mạng sống của mình ra đùa giỡn với tử thần.

Mùa hè đến với những cơn gió Nam Lào khô khốc. Sông Thạch Hãn nước xuống thấp, có những đoạn ta có thể lội bộ từ bờ bên này sang bên kia mà không cần phải biết bơi. Giữa sông có những cồn cát mà chúng tôi có thể ra ngồi chơi. Trời nóng bức đến nỗi chúng tôi phải xuống sông tắm 2, 3 lần một ngày.
Những người lính TQLC suốt ngày trần trùng trục với mỗi một chiếc quần lính cắt ngắn, ai nấy đều mồ hôi vã ra như tắm. Mặc quân phục vào chừng mươi, mười lăm phút là ướt đẫm mồ hôi.
Các sĩ quan chúng tôi ai cũng mong đến ngày tiếp tế để ghé huynh trưởng Tăng Bá Phụng, uống ké cà phê đá do hậu trạm mang ra.

Trung đội 4 có cây đàn guitar, nên những buổi trưa nóng bức không nghỉ được, anh Huyền, Mẫn và tôi thường tụ họp lại để ca hát khuây khỏa. Ngoài ra trung đội 1 lại có thêm cây lục huyền cầm, thế là khi thì cải lương, khi thì tân nhạc, khi thì tân cổ giao duyên cũng nguôi bớt đi nỗi sầu chinh chiến.
Ca mãi đâm chán, vài anh lính tinh nghịch thường đến bên hàng rào, nói chuyện và chòng ghẹo các anh lính miền Bắc.
– Anh bộ đội Bắc Việt ơi!
Không ai trả lời.
– Anh Việt Cộng ơi!
Cũng không ai trả lời.
– Anh Giải Phóng ơi!
Thì có tiếng đáp ngay.
– Gì thế các anh?
Những anh bộ đội miền Bắc nói chuyện rập khuôn, hình như họ phải học thuộc lòng một số câu căn bản để nói chuyện mà thôi. Nếu nói hết những câu này rồi thì họ thường cáo lui xin hẹn ngày mai, rồi ngày mai cũng lại toàn bổn cũ soạn lại.
Những người lính miền Nam thường hỏi:
– Anh ở đâu ngoài Bắc thế, Hà Nội à?
– Không, tôi ở Quảng Trị.
– Còn anh này cũng ở Quảng Trị.
– Vâng, tôi cũng ở Quảng Trị.
Thế là các người lính miền Nam bắt đầu chọc ghẹo.
– Anh là người Quảng Trị mà sao nói giọng như “Bắc kỳ ăn cá rô cây” vậy?
– Các anh hay trêu đùa quá!
– Thiệt mà, giọng anh đâu có giống mắm ruốc đâu, giọng anh là giọng rặt thuốc lào.
– Thôi, chúng tôi không nói chuyện nữa.
Những người lính miền Nam đề nghị ca hát thì hầu như các anh miền Bắc chỉ thuộc mỗi một bài “Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây” mà thôi.
Nếu không muốn ca hát chung nữa, những người lính TQLC chỉ cần ca bài “Cờ bay trên Cổ Thành Quảng Trị” là các anh lính miền Bắc rút lui ngay.
Một hôm, một anh lính TQLC hỏi một anh lính miền Bắc:
– Tôi thấy cái hàng chữ trên cổng của các anh là “Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập, Tự Do”.
– Đó là lời chủ tịch Hồ Chí Minh đấy!
Thế là anh lính TQLC đề nghị cắc cớ.
– Nè anh giải phóng, tôi đề nghị một trò chơi mới.
– Trò chơi gì đấy anh?
– Tui hô “Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu”, còn anh hô “Đả đảo Hồ Chí Minh”.
Anh bộ đội miền Bắc im lặng không trả lời, anh ta lặng lẽ rút lui.
Anh lính TQLC nói vói theo.
– Tự do thì mình muốn nói gì thì nói, sao anh không dám hô “Đả đảo Hồ Chí Minh”?
Đôi khi các người lính TQLC trêu chọc bằng cách gọi các anh lính miền Bắc.
– Anh giải phóng ơi!
– Cái gì thế các anh?
Đợi các anh miền Bắc lên tiếng trả lời xong thì anh lính TQLC đáp ngay:
– Phỏng giái rồi anh giải phóng ơi!
– Các anh ăn nói gì linh tinh thế!

Giữa tháng 6/73 tiểu đoàn di chuyển về phía Tây của Quốc lộ 1, khu vực mà chúng tôi đã đóng quân vào khoảng tháng 4 năm 72 “Trường Phước” thay thế cho tiểu đoàn 2, và đầu tháng 7 năm 73 tiểu đoàn 7 ra làng TQLC chuẩn bị về hậu cứ.

Gần 2 năm rồi kể từ sau trận Hạ Lào, tiểu đoàn 7 đã phải lưu động ở miền địa đầu giới tuyến. Có một chuyện khó tin là đa số những chiến binh TQLC chẳng hề được biết hậu cứ của đơn vị ra sao. Ngôi nhà nghỉ dưỡng quân của đơn vị mà các người con chẳng hề được biết.

Khi rời khỏi trung tâm huấn luyện hoặc quân trường, chúng tôi được đưa thẳng đến đơn vị hành quân mà chẳng cần phải về hậu cứ, và rồi từ đó rong ruổi theo “Hành trình anh TQLC” hoặc “12 tháng anh đi”, mãi cho đến khi tiểu đoàn về hậu cứ.

Có nhiều anh em TQLC chúng tôi từ ngày đáo nhậm đến ngày rời đơn vị vẫn không hề biết được hậu cứ ở đâu, vì họ về trong những chiếc quan tài!!!

Tháng Giêng xuôi quân ra Huế
Cố đô hoang vu điêu tàn
Bãi học chiều em vắng bóng
Tóc thề đã quấn khăn tang
Tháng Hai về trấn ven đô
Chong mắt hỏa châu giữ cầu
Gió thoảng vào hơi rượu mạnh
Qua làn sương ánh đèn màu
Ba lô lên vai, đến miền Tây đô
Quê hương em xanh, xanh rợp bóng dừa
Đêm ngủ bìa rừng, thèm làn môi ấm
Ngọt trái sầu riêng, này lúc sang mùa
Bây giờ trời mây vào hạ
Mẹ em bận đi lễ chùa
Em nguyện cầu cho chiến sĩ
Trên đường sớm nắng chiều mưa
Tháng Năm theo vì sao biếc
Hoa phượng nở quanh sân trường
Ngày xưa những dòng lưu bút
Bây giờ phong thư gói quà
Tháng Sáu anh vẫn miệt mài
Hành quân chưa về thăm em
Đừng trách ve sầu mùa hạ
Xa thì xa vẫn chưa quên
Sang thu mưa Ngâu
Nước mù giăng mau
Ô hay! Ta sao trong lòng rưng sầu
Tráng sĩ xưa hề, vượt cầu sông ấy
Người đứng đầu sông, người cuối sông chờ
Bây giờ còn đâu huyền thoại
Hằng Nga của em bé thơ
Tất cả bầu trời thương nhớ
Ai làm tháng Tám cằn khô
Tháng Chín anh về Cửu Long
Vú sữa căng của mẹ hiền
Anh đi cho đồng tươi mát
Tặng em này chiến công vang
Về Cà Mau một phong thư gửi cho em
Lời gió thương mây, lời chim nhớ rừng (2)
Lời ta chờ nhau
Cuối năm mùa Đông đan áo
Cuối năm trời đã lạnh rồi
Thiên hạ thì may áo cưới
Ta thì hẹn tới năm sau
Hoa mai nở đầy, em đang đợi chờ
Mười hai tháng rồi, dài ước mơ say
Nhớ má cho hồng, nhớ môi cho ngọt
Anh về cùng em, vui đón mùa Xuân
Anh về cùng em, vui đón giao thừa…

Nhưng anh em chúng tôi không hề được về đón giao thừa. Ngồi hát bài nhạc mà trong lòng rộn ràng với niềm vui khi tiểu đoàn về hậu cứ.
Anh Xê, trung đội phó hỏi tôi:
– Ông hát bài “12 tháng anh đi” mà tiểu đoàn mình đi tới 2 năm rồi mà vẫn chưa về.
– Tại ông thi sĩ nhà mình làm bài thơ “12 tháng anh đi” chứ đâu phải là “12 tháng anh về”.
– Ờ há! Nói đi chứ đâu có nói về.

Đời người lính TQLC chúng tôi cứ tuần tự 12 tháng anh đi, rồi lại 12 tháng anh đi tiếp theo…
Thật thẹn cho thân nam nhi, đường đường trượng phu mà khi đi phép chỉ có vài lý do quanh quẩn, hoặc là “cha mẹ đau nặng” hay “cha mẹ mất”. Người nào có gia đình thì có thêm phép “con đau” hoặc “vợ đẻ”.
Phép kiểu này thì hết ai ham.

Cuối tháng 7 năm 73, tiểu đoàn 7 về hậu cứ. Trong số gần 800 chiến binh về đến nhà của đơn vị, chỉ có khoảng chưa được 1/4 là đã từng ở hậu cứ của tiểu đoàn.
Cả đại đội 3 lọt thỏm trong chiếc C-130 của Không Quân Việt Nam. Thời gian bay chỉ khoảng dưới 2 tiếng đồng hồ, mà sao chúng tôi cảm thấy quá dài so với khi ra trận hành quân.
Lúc máy bay cất cánh là lúc tất cả những hình ảnh quá khứ bắt đầu chạy qua trí nhớ. Từ lúc còn thơ ấu đến khi trưởng thành, gia nhập quân đội, lao vào biển lửa…

Quay nhìn xung quanh, những người lính đại đội 3 trẻ tuổi, hồn nhiên nói cười, chờ đợi. Khoảng nửa tiếng sau bắt đầu có tiếng ngáy. Nhìn về phía anh lính trẻ đang ngủ ngon, trên gương mặt vô tư thoáng hiện một nụ cười.
Có lẽ anh đã về đến nhà trong giấc mơ ngắn ngủi tuyệt đẹp, trong lòng chiếc phi cơ đang trực chỉ Sài Thành yêu dấu.

“Saigon đẹp lắm, Saigon ơi, Saigon ơi!”

Tôi dựa đầu trên ba-lô, thả hồn mình phiêu lãng.

Nguồn: http://batkhuat.net/van-nhungmanhdoi-dangdo-3.htm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s