Đời Y Sĩ Trong Cuộc Chiến Tương Tàn: CHUYẾN HÀNH QUÂN CUỐI CÙNG THEO SƯ ĐOÀN TRÊN VÙNG EO BA, PHÚ YÊN PHÚ BỔN

Bác sĩ Nguyễn Duy Cung

https://dongsongcu.files.wordpress.com/2020/10/4cb55-nhatbook-doi-y-si-trong-cuoc-chien-tuong-tan-nguyen-duy-cung-2014.jpg

Cheo Reo Phú bổn là một điểm chiến lược quân sự then chốt nằmtrên đường liên tỉnh số 7, nối liền Pleiku với Tuy hoà.  Trong quá khứ đã từng có những trận đánh ác liệt giữa Việt minh và quân đội viễn chinh Pháp, xác xe thiết giáp còn nằm ngổn ngang trên đèo Tona là một chứng tích.
Khi xe tôi đang đổ dốc xuống vùng đất thấp nằm trong lòng chảo, chung quanh bao bọc rừng núi bạt ngàn, đầy hoang vu hiểm trở, đang nhìn quanh quất thì thấy xe cứu thương của Bác sĩ Nguyễn hữu Tiến đang leo đèo, chúng tôi chỉ kịp vẫy tay chào nhau, từ lúc ra trường mỗi người đổi đi một nơi theo yêu cầu công vụ, thật tình cũng không biết anh thuộc đơn vị nào, nhưng biết chắc qua màu áo QY, anh là đồng nghiệp của tôi, đang chạy gấp rút ra mặt trận, cũng như tôi đang tất tả trong chuyến thăm cơ quan Y tế Quận nằm dưới thung lũng nầy.
Chúng tôi dừng lại một tiền đồn hình tam giác rộng lớn, kiên cố với thành lũy bao quanh cao khỏi đầu người, tình cờ gặp Trung úy Ấn đang chỉ huy toán công binh hì hục làm phà để qua sông, anh nầy tánh tình vui vẻ, lúc tôi còn làm bên Trung đoàn 40, anh thường qua trạm xá chơi, trong khi chờ đợi chỉnh sửa hoàn tất chiếc phà, anh pha trà sen nóng mời chúng tôi uống “Cũng sắp xong rồi, chỉ còn xem lại lần chót cho chắc ăn.”  Chiếc phà bằng sắt hình dáng như cái mai rùa lật ngửa, kích thước cở chiếc xe vận tải có thể chở khoảng 10 người và một số vật liệu nhẹ, phà chuyển động bằng hệ thống dây cáp bắt ngang qua sông Ba, (đồng bào Thượng còn gọi là Ea Ba) có chiều rộng hơn trăm thước, mùa mưa về nước sông đục ngầu chảy xiết, rất nguy hiểm cho việc qua lại hai bên bờ nếu dùng những xuồng nhỏ thô sơ mỏng manh, dễ bị cuốn trôi xuống triền dốc.
Nắng chiều tắt dần trên sông, anh Ấn quay sang hỏi tôi “Bác sĩ có muốn cùng tôi qua bên kia sông để khám bịnh cho buôn Thượng không?” Đây là vùng cấm địa bất khả xâm phạm từ 10 năm qua, nhưng bây giờ được bình định rồi chắc cũng an toàn..  Có điều trời sắp tối, cũng không có trường hợp gì khẩn cấp nên chúng tôi tạm nghỉ bên nầy, chuẩn bị sẵn sàng để sáng đi sớm .  Để tôi yên tâm, anh còn dặn dò “Đêm nay có một toán lính được bố trí nằm dọc theo bờ, bác sĩ cứ ngủ thoải mái nhe”.  Nói vậy chớ cũng khó ngủ với tiếng ếch nhái kêu rầm trời ngoài bụi cỏ, trăng non chênh chếch soi bóng mờ mờ xuống dòng sông Ba ầm ì thác đổ khiến tôi nhớ tới những dòng sông tuổi thơ êm đềm của mình ở Đồng Tháp, nhớ con đom đóm trong hũ keo và câu chuyện kể của Má tôi về người học trò nghèo ở tuốt bên Tàu, nhớ dáng lui cui giã gạo của chị Ba ngoài sân ngập ánh trăng vàng…Tôi thao thức đến lúc nghe tiếng gà gáy đầu hôm mới ngủ chập chờn đôi chút.
Những đám lau sậy cao khỏi đầu người bên kia bờ đã được phát quang vô sâu, để lộ một con đường đất hẹp, toán tiền thám đi trước mở đường từ sáng sớm, chúng tôi vào tận bên trong là một buôn của người Djarai, đàn gà đang bươi đất quanh mấy bụi chuối, bầy heo mọi đen đủi với cái bụng xề sát đất thì thơ thẩn dưới sàn nhà kêu ủn ỉn khi thấy bóng người. .
Buôn cũng không lớn lắm, dân số chừng chục nóc nhà, loại nhà sàn cao hơn mặt đất không đầy một thước, hai mái chụm nhau lợp bằng cỏ tranh, vách dựng bằng cây lồ ô đập dẹp từng mảnh kết lại, sàn bằng gỗ bóng láng.  Gần đó có một nhà rông mái nhọn, sàn cao, rộng rãi thoáng mát dùng làm nơi hội họp trong làng.  Khi Y tá xem lại tình trạng thuốc men thì tôi khám bịnh cho một nhóm người đang chờ đợi, phần lớn chỉ cảm mạo thông thường, không gặp trường hợp bịnh nguy kịch nan y, nhưng có một sản phụ trẻ nằm bên trong nhà lăn lộn vì đau nhức vùng ngực, bịnh nhân sốt cao, hai vú sưng to như hai trái dừa lửa. . Tôi chẩn đoán bà bị áp xe, phải mổ rút mủ ra nhưng vì không chuẩn bị sẵn dụng cụ giải phẫu, thiếu thuốc tê và bông băng khử trùng, nên tạm thời tôi cho bà uống kháng sinh và giảm đau.
Ngày hôm sau tôi trở qua định rút mủ trong ngực cho bà thì thật ngạc nhiên khi thấy bịnh thuyên giảm nhiều, hai bên ngực bớt sưng đau nên tôi tiếp tục cho uống thuốc và theo dõi.  Có lẽ đồng bào Thượng ở vùng hẻo lánh chưa bao giờ dùng thuốc trụ sinh nên thuốc tỏ ra công hiệu vô cùng.  Cả nhà vui mừng ra mặt, ông chồng xá dài tỏ dấu cám ơn.
Người Djarai ở đây còn giữ tánh chân thật trong nếp sống bình dị sơ khai và hiếu khách.  Người tộc trưởng bắt một con heo sữa, lấy một khúc cây tròn đập mạnh vào đầu cho con vật ngất đi, đem ra sân đốt lửa lên thui lông, xong mổ bụng lấy lá gan to để lên dĩa bỏ vào nhúm muối hột rồi mời tôi như hình thức hậu đãi trân trọng, thịt chưa chín hẳn, còn dính máu đỏ tươi khiến tôi hơi ớn, nhưng không thể từ chối được đành phải cắt một miếng nhỏ bỏ vào miệng nhai với muối cho chủ nhà vui bụng.  Hơn nữa muối ở đây rất quý hiếm, họ phải đi thật xa mới mua được để dành đãi khách, nơi nào không có muối thì họ đốt một thứ lá cây rừng, lấy tro có vị mặn mặn để ăn thế.
Thời gian ở Cao nguyên Kon Tum- Dakto- Daksut tôi cũng thường đi công tác trong các ấp Thượng nên biết được phần nào tánh tình của họ, bản chất hiền lành nể trọng người miền Xuôi, nhưng nếu làm họ không hài lòng, họ có thể hiểu lầm là bị khinh thường, từ đó trở thành thù nghịch.  Sau buổi ăn “hoang dã” ngán ngược đó, tôi cười vui theo ông Tộc trưởng lên nhà rông, bước cẩn thận trên từng nấc thang đục vào thân cây to dựng nghiêng nghiêng, một đầu móc chặt vào sàn gỗ rất vững chắc, căn nhà trống trải đơn sơ, không có vách ngăn, không có bàn ghế, đã để sẵn một vò rượu nâu với hai cần trúc dài ở giữa nhà.  Ông tộc trưởng mời tôi ngồi xuống và ông cũng ngồi đối diện, với dáng vẻ rất trịnh trọng ông chậm rãi mở miếng vải vuông đỏ ra lấy một chiếc vòng đồng có khắc dấu tréo chung quanh, cẩn thận mang vào tay tôi, miệng lâm râm khấn vái, ông cầu xin “Yang” vị thần linh sông núi, gió rừng, sấm sét phù hộ cho tôi.  Xong kê miệng vô cần trúc hút một hơi dài ngon lành, tôi cũng bắt chước đáp lễ nhưng chỉ nhấp nhấp tượng trưng thôi, rượu có vị chua chua ngọt ngọt uống nhiều cũng dễ say lắm.
Trời đã quá khuya, chúng tôi giã từ buôn làng trở về quận Cheo Reo, đường rừng mờ mịt vắng tanh, phải dùng đèn pha mới thấy đường lái, thỉnh thoảng có vài ánh mắt xanh lè như lân tinh của thú rừng đi ăn đêm, gặp đèn chói vào mặt nhiều con đứng im như bị thôi miên, nhất là giống chồn đèn chồn mướp đang leo trên mấy cành cây sát lề đường, bị anh em bắn hạ dễ dàng, lột da đem về ngâm rượu, bổ gì chưa biết chớ thấy xác con vật oằn oại, thiệt tình tôi mất cả hứng thú đi săn .
Xe đang quẹo cua chạy chậm qua một làng khác thì đột nhiên anh lính Thượng người địa phương hét với tài xế “chạy nhanh lên, trong buôn nầy có Malai, có người mới chết”. Người Djarai rất sợ R’R’rung tức Malai rút ruột, mà họ coi như là một thứ quỷ truyền kiếp nhập vào người để đêm đêm hiện về rút ruột người sống.  Nếu biết được có Malai trong làng, họ sẽ tìm cách rời bỏ buôn làng đi nơi khác lánh nạn, hoặc dấu kín con cái trong nhà không cho ra đường, rủi ro có người đau bịnh họ cũng không dám nói ra sợ Malai biết được sẽ thừa lúc đêm khuya mò tới hút máu cho tới chết. 
Xe đã chạy ra khỏi làng một đỗi xa mà anh lính Thượng vẫn chưa hoàn hồn, ngồi rút đầu sát xuống gầm ghế, mặt mày lơ láo hoảng sợ đến tội nghiệp.  Thời buổi phi thuyền sắp lên cung trăng rồi mà vẫn còn tin vào những điều thần bí mơ hồ, nhưng khó mà giải thích cho họ thay đổi cách suy nghĩ lạc hậu nầy. Vài hôm sau phà được đưa vào sử dụng, tạo thuận lợi cho đồng bào hai bên bờ qua lại, nhất là về quận nhận quà do máy bay tiếp tế, trong số hành khách nầy có người phụ nữ Thượng tay ôm một con gà mái dầu lớn, nhóm quân nhân trước cửa đồn tranh nhau hỏi mua, nhưng bà ta nhất định không bán, nói chỉ mang qua cho ông bác sĩ, thì ra đó là bịnh nhân của tôi, hai ngực bà ta đã trở lại bình thường sau khi dùng thuốc trụ sinh “thần dược”, một phát minh hiện đại của thế giới ngày nay mà đồng bào dân tộc thiểu số như buôn làng của bà chưa bao giờ biết đến.

Sau chuyến hành quân bình định với Sư đoàn 22 BB, tôi nhận được lịnh của Nha Quân Y gọi về trình diện Tổng Y viện Cộng Hoà để chuẩn bị đi học khoá Gây Mê hồi sức tại bịnh viện Letterman Hoa Kỳ Đây cũng là dấu ngoặc trọng đại trong cuộc đời Y sĩ của tôi, thật ra tôi chỉ là bác sĩ dự khuyết, không có nhiều hy vọng được tuyển chọn.  Sở trường của tôi là giải phẫu mà chiến trường thì cần rất nhiều bác sĩ chuyên ngành nầy.  Lúc mới đổi về đây trong sắc phục bác sĩ Quân Y tôi mang trong lòng biết bao nhiêu là hoài bão lý tưởng của tuổi trẻ, khao khát được phục vụ cho đồng bào nghèo khổ, chăm sóc cho đồng đội đang chiến đấu ngoài mặt trận để gìn giữ từng tấc đất Quê hương, tôi đã hết lòng làm việc không quản ngại nắng mưa, nguy hiểm trên vùng đất xa xôi hẻo lánh của địa đầu giới tuyến, những tưởng việc làm mình là đúng là tốt cho mọi người, nhưng khi gặp phải những bất công, những ganh ghét tị hiềm của bạn đồng nghiệp khiến tôi bẽ bàng thất vọng trước sự tầm thường của cuộc sống. 

Nên trong lúc buồn nản nhất tôi đã làm đơn xin đi học lại để tránh phải chung đụng lôi thôi trong đơn vị, cứ nghĩ mình còn trẻ đi đâu làm gì cũng được, miễn rời khỏi nơi nầy càng sớm càng tốt, tôi không còn đường nào khác hơn để lựa chọn, nhưng chắc chắn một điều tôi không phải là kẻ tham sống sợ chết để xin về hậu cứ an nhàn, né tránh làn tên mũi đạn như một số người đã cố tình chạy chọt để được yên thân trong thời binh biến.

Ngay cả việc đi học gây mê, tôi chỉ ghi tên cho có chớ không mong gì được chọn, bởi vì những ngành chuyên môn nầy thường được sắp xếp cho những đơn vị hậu cứ, nhưng không dè giờ chót anh bạn được tuyển chọn lại từ chối với lý do hết sức đơn giản, gần ngày Tết, anh muốn ở lại đón Xuân cùng gia đình, vì không kịp chuẩn bị người thay thế nên Nha Quân Y mới gọi tôi về để thế chỗ, rõ ràng hay không bằng hên, tôi thấy mình may mắn khi được trúng tuyển bất ngờ.

Chuyến bay quân sự cất cánh rời phi trường Kon Tum vào một buổi sáng đầy sương mù để đưa tôi trở lại Sàigòn, tôi cố nhìn lần cuối dòng sông cát trắng, cố dõi mắt tìm con đường đèo chênh vênh uốn khúc giữa một bên núi cao một bên vực thẳm hiểm nguy mà bao lần tôi khổ nhọc băng qua…

Giã từ Kon Tum, giã từ miền Cao nguyên bao la trùng điệp, giã từ những kỹ niệm đời lính nơi núi rừng của người thầy thuốc trẻ mới ra trường mang theo trái tim rực lửa nhiệt tình.  Giã từ thành phố buồn của riêng tôi!

Nguồn: http://vnchtoday.blogspot.com/2020/10/oi-y-si-trong-cuoc-chien-tuong-tan-5.html

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s