Cá tra bần

Dược Sĩ Trần Việt Hưng

Em về nấu canh Tra Bần
Mời anh một chén bần thần không quên
Anh về hỏi mẹ, cưới em
Để lâu lâu được ăn canh Tra Bần..
(Bửu Lai- Diễn đàn Câu cá Việt Nam)

https://storage.googleapis.com/ifarmer-vn/eb51b8ad868f46d689ce300d0f4ca051/an-ca-tra-co-tot-khong1597597458026.jpg

Ảnh minh họa cá Tra Bần của ifarmer.

Cá Tra Bần, một loài cá trong họ Pangasidae, tuy cũng mang tên Tra, nhưng trên thực tế khác biệt hẳn với loài Tra nuôi (là loài được nôi rộng rãi tại Việt Nam để lấy philê xuất cảng; xin xem bài cá Tra nuôi). Tra Bần có một số đặc tính sinh thái như cá Bông Lau, là một loài sinh sống phần lón tại vùng nước lợ.
Tên gọi của Cá: Tra Bần cũng gây một số vấn đề cần giải quyết về cả hai phương diện tên khoa học và tên dân gian.
– Cá Tra Bần được các nhà ngư học L. Pouyaud, G.G Teugels và M.Legendre đặt tên là Pangasus kunyit vào năm 1999. Danh mục cá của Tổng Cục Thủy Sản VN và tên cá của Trường Thủy Sản Viện ĐH Cần thơ đều gọi P. kunyit là Tra Bần. Năm 2003, các nhà ngư học (Journal of Natural History Số 3-2003) dựa trên những đặc điểm hình thái như hình dạng của đầu, tỷ lệ chiều dài của mõm so với đầu, chiều dài của râu hàm và đặc tinh của vây lưng.. đã đặt tên thêm 2 loài phụ, tách riêng từ P. kunyit là:
Pangasius sabahensis (sinh sống tại lưu vực sông Kinabatangapan, Malaysia)
Pangasius mekongensis ( sinh sống tại vùng hạ lưu Mekong, Việt Nam).
Các nhà ngư học Philippe Cacot và J. Lazard (Trung tâm CIRAD) cho rằng P. kunyit và P.mekongensis là một loài chung và đề nghị dùng tên Pangasius mekongnensis để gọi Tra Bần. Tổ chức Sông Mekong (Mekong River Commission= MRC) chọn tên P. mekongensis để dùng trong các bản nghiên cứu.
– Tên gọi trong dân gian tại một số địa phương như An Giang thì Pangasius kunyit lại là cá Dứa, tên này được chính thức đặt cho loài Pangasius polyuranodon (xin xem bài Cá Dứa).

Tên khoa học và các tên khác:
Pangasius kunyit thuộc họ cá Pangasidae
Tên Anh ngữ: Yellow-finned catfish.
Các tên tại Việt Nam: Cá Tra Bần, tra mắm, cá tra nghệ, cá bông lau nghệ… Cá tra kunit. Lào: Pa nyang, Pa hua muan,
Indonesia: Patin kunyit. Người Nam Dương gọi các loại cá trong họ Pangasidae là Ikan patin hay cá có râu như mèo.

Vài đặc điểm sinh học:
Những đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt Tra Bần với các cá khác trong họ pangasidae là:
Đầu Tra Bần rộng và tương đối tròn, hơi dẹp. Chiều dài của mõm bằng 40-53.% so với chiều dài của đầu. Vây lưng có 1 gai cứng phần sau gai có 44 khía răng.Vây ngực cũng có gai cứng, phần gờ sau có 40 khía răng Vây hậu môn có 30- 33 tia mềm.
Thân tương đối thuôn, có nhiều hấm nhỏ xếp thành vằn dọc hai bên hông.
Theo kinh nghiệm của ngư dân và người nuôi cá thì có thể xác định Tra Bần bằng những vết hình rẽ quạt trên nắp mang của cá. Tuy nhiên vết này càng ngày càng mờ dần khi cá càng tăng trưởng.
Thân, vây và thịt của cá có màu vàng nhạt (do đó có tên là Tra nghệ)
Cá trưởng thành có thể dài trên 70 cm, nặng 15-20 kg.
Cá Tra nghệ phân bố tại một số thủy vực trong vùng Đông Nam Á như lưu vực các sông Musi, Batang Hari, và Indragiri (Sumatra, Indonesia), các sông Mahakam, Kapuas (Đông Kalimantan), sông Kinabatanagan (Malaysia) và sông Mekong (Việt Nam). Cá Tra Bần thường gặp chung với cá Bông lau. Cá sinh sống tại vùng nước lợ cửa sông và có giai đoạn di chuyển trở lại vào vùng nước ngọt để sinh sản. Tài liệu của FAO không ghi nhận được sự có mặt của Tra Bần tại thủy vực Mekong trên phần đất Lào và Kampuchea (?). Trong khi đó theo MRC thì Tra Bần có thể gặp trong các khu vực từ Nakhon Phanom phía Bắc cho đến Kandal ở phía Nam Kampuchea. Riêng tại Lào và Thái Lan, cá chỉ xuất hiện mỗi năm trong vài tháng mà thôi.
Cũng theo MRI thì có lẽ có nhiều quần thể Tra Bần khác nhau: Một tập trung trong khu vực giữa Loei và Chiang Khong và có thể còn 1 hay 2 quần thể khác nữa tại Lào, Thái và Kampuchea Mỗi quần thể hầu như sinh sống quanh một nhánh sông lớn như sông Mun. Mặt khác, còn có một quần thể riêng biệt ở vùng phía Nam thác Khone, sinh sản tại hệ thủy vực sông Se San. Cá lớn, nhỏ và cả ấu trùng di chuyển xuôi dòng đến những vùng đồng ngập nước, quá Kratié.
Tại Việt Nam: theo nghiên cứu của Khoa Thủy Sản, Viện ĐH Cần Thơ thì cá Tra Bần thường gặp trong những khu vực cửa sông Ba Tri và Bình Đại, những cửa sông Trần Đề và Đinh An. Cá đánh bắt tại sông Tiền lớn từ 20.6-50.0 cm và tại sông Hậu lớn từ 19.7 đến 72 cm. Ngoài ra cũng có những mẫu cá bắt được tại Châu Đốc và Vàm Nao.
Thực phẩm chính của cá Tra Bần là những phiêu sinh vật, giáp xác nhỏ và những trái cây nơi vùng nước ngập mặn như bần, mắm (nên có tên Tra Bần, tra mắm).
Cá Tra Bần nổi tiếng nhất tại VN hiện nay là cá đánh bắt tại Cần Giờ và tại cửa sông Bồ Đề, Cửa Lớn (Cà Mâu). Theo những người câu cá ‘chuyên nghiệp’ thì mồi câu cá Tra Bần tốt nhất là gián và bông gòn có tẩm nước ‘ a ngùý.
Việt Nam hiện đang có những chương trình tạo giống nhân tạo để nuôi thử nghiệm cá Tra Bần tại một số trại thủy sản ở Trà Vinh và đặc biệt nhất là tại Lý Nhơn (Cần Gìờ) và Hiệp Phước (Nhà Bè) (những nơi nước lợ có độ muối thích hợp với cá ở khoảng 5-18%). Tra Bần tuy có thể nuôi nơi vùng nước ngọt nhưng tăng trưởng rất chậm và không thể nuôi tại những vùng nươc có độ mặn cao như Duyên Hải (28%). Về phương diện kinh tế, cá Tra Bần nuôi có lẽ chỉ thích hợp cho việc cung cấp cá tươi đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ địa phương vì đối với thị trường xuất khẫu chỉ cá tra nuôi (P. hypothalmus) là loài có tiềm năng cao do tỷ lệ philê thu hoạch so với thức ăn cần đầu tư để nuôi cá. Tuy nhiên Ca Tra Bần và cá Bông Lau có thể là những loài co thể giúp phát triển các vùng nước lợ, rừng ngập mặn nơi cửa sông.
Tại Indonesia, có những thử nghiệm nuôi Tra Bần (Patin kunyit) tại vùng nước lợ nơi cửa sông Riau để cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ tại địa phương.

https://i.pinimg.com/originals/da/a3/20/daa3206a3aa3d3856c699830b885a135.jpg

Ảnh minh họa canh chua cá Tra Bần của pinterest.

Ẩm thực:
Thịt cá Tra Bần màu trắng-vàng rất nhạt, ít mỡ, săn chắc, thơm ngọt và không mùi tanh.
Món đặc sắc nhất là Canh chua cá Tra Bần nấu với bần chua (theo giới sành ăn thì không kém Canh chua cá Bông Lau)
Cá Tra Bần kho tộ, ăn với nhiều loại rau sống..
Món khô Tra Bần là một ‘đặc sản’ của Cần Giờ, thường được chiên giòn ăn với cơm vắt ( tại nhiều nơi gọi là khô cá dứa)
Tại Indonesia, đa số thịt của các loài Pangasidae được chế biến thành dạng chả cá viên = Bakco Ikan Patin, trong đó viên chả cá Tra Bần đươc xếp vào loại ngon nhất và rất được ưa chuộng.

Tài liệu sử dụng:
Fishes of the Cambodian Mekong (FAO)
Fish and Fish dishes of Laos (Alan Davidson)
Pangasius kunyit (Fishbase)
Catfish Culture and Enlargement (Bank Sentral Republik Indonesia)
Domestication d’espèces de poisson-chats du Mekong de la famille des Pangasiidae ( P. Cacot & J. Lazard)
Distribution and Ecology of Some Important Riverine Fish Species of the Mekong River Basin (Mekong River Commission)  

Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/c%C3%A1-tra-b%E1%BA%A7n.28424/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s