Chuyện kể về một chiến sĩ anh hùng của QLVNCH, Trung Tá Lê Hằng Minh – Trích ghi từ phần phóng sự chiến trường

(Trích ghi từ phần phóng sự chiến trường)

https://scontent-syd2-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/90650456_703173040460359_2639991980238569472_n.jpg?_nc_cat=106&ccb=2&_nc_sid=110474&_nc_ohc=8CstP6v9SmAAX9NuF1v&_nc_ht=scontent-syd2-1.xx&oh=4fc1352df6f9cd48d983387781c566c5&oe=5FE55473

Vì thế với sự phục kích đại quy mô, lực lượng hùng hậu là một trung đoàn VC với sự chủ động chọn lựa địa hình mọi ưu thế nắm chắc cùng khẩu hiệu “phải chuẩn bị thật chắc ăn mới đánh” không ngờ gặp sự xung phong chiến đấu dũng mãnh của các chiến sĩ Trâu Ðiên TÐ2/ TQLC cùng sự tài tình đảm lược của vị tiểu đoàn trưởng khét tiếng đã biến thành trận phản kích lẫy lừng lần thứ nhất tạo thành trên chiến địa Việt Nam.

Khi TÐT Lê Hằng Minh vừa gục ngã cũng là lúc bại quân VC đang cố tìm đường tháo chạy về hướng núi Hồ Bơi, Cánh Dơi v.v…. Nhưng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù đã kịp thời bám sát truy lùng, chận đường tẩu thoát của địch. Giữa lúc trận đánh đang tiếp diễn các cánh quân của Nhảy Dù, Trung đoàn 3, Thiết quân vận M 113, Thủy quân lục chiến Mỹ đang rượt địch thì Tướng Walt, tư lệnh Cọp Biển Hoa Kỳ đã ngồi trực thăng đi quan sát chiến trường. Mặt khác Tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân Đoàn I cũng cùng với Ðại Tá Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Sư Đoàn I ngồi trực thăng theo sát trận địa. Tướng Walt từ trên nhìn xuống ở ven sông thấy có hai xác VC nằm chết gục bên cây đại bác 75 ly khổng lồ, Tướng Walt thận trọng cho gọi một đơn vị Cọp Biển, có thêm đoàn quân khuyển trực thăng vận xuống bao quanh khu vực này. Sau đó chính Tướng Walt đã hạ cánh xuống nơi có cây đại bác 75 và tịch thu mang về Bộ Chỉ Huy.

Chỉ trong vòng một tuần lễ với ba chiến thắng Lam Sơn 283 (Phù Lưu-Gia Ðặng); 284 truy kích tiểu đoàn 808 VC và 285 là trận phản phục kích thần sầu của Tiểu đoàn Trâu Ðiên tại mặt trận miền Trung đã vang dội khắp các chiến trường. Ðể viết nên những trang sử xanh này, Trung tá Lê Hằng Minh cùng một số các chiến sĩ oai hùng khác… đã vĩnh viễn ra đi từ chốn tử sinh!

Ðến đây, tôi cố hình dung ra buổi sáng kinh hoàng và đầy máu lệ hôm ấy. Một buổi sáng mai còn tươi đẹp ánh nắng vàng rực rỡ. Trên con đường quốc lộ số 1 chạy dài từ Huế ra đến Quảng Trị-Ðông Hà, khói lửa đã bùng lên nơi đoạn đường Cầu Phò Trạch, Phong Ðiền-Thừa Thiên trên cây số 34. Trận chiến diễn ra thật khốc liệt chỉ hơn nửa tiếng thời gian nhưng đã lấy đi bao mạng sống con người và gây ra bao cảnh tang thương, từng ngày từng giờ trên quê hương điêu linh khốn khổ Việt Nam. Ðã bao nhiêu chiến sĩ anh hùng đã nằm xuống như những người vừa ngã xuống nơi đây. Dòng máu thanh xuân của họ đã chảy thắm trên mảnh đất cằn khô quê mẹ cho mạch sống tương lai được thêm phần tốt tươi. Những giờ phút kinh hoàng đau thương ấy chỉ diễn ra ngoài trận địa. Hậu phương, thành phố nơi tôi đang yên vui cắp sách đến trường, chỉ biết hồn nhiên với khung trời tuổi nhỏ, sống cuộc đời êm ả trong mái ấm gia đình. Làm sao có thể biết rõ và thấu hiểu hết được sự hi sinh như thế nào của những người lính chiến và những tàn phá khổ đau trên quê hương khói lửa triền miên ngày ấy.

Người chiến sĩ Lê Hằng Minh đã hiên ngang chiến đấu dưới màu cờ cùng đồng đội, chiến hữu. Và trong buổi sáng đẹp trời hôm đó, anh đã ra đi, dũng cảm và liệt oanh khi tuổi đời thanh niên của anh đang tràn đầy sức sống mạnh mẽ, trẻ trung. Chiếc đàn guitare yêu quý mà anh luôn mang theo bên mình cũng đã vỡ tan trước mũi súng quân thù. Cuối Tháng Sáu, gió Hạ Lào đang thổi về như tiếng mẹ ru buồn bay lướt trên những dãy đồi trọc trống vắng quạnh hiu. Hồn anh du nhập theo bóng núi Trường Sơn trùng trùng ngạo nghễ, để lại xác thân bên ven bờ quốc lộ 1 những niềm đau nuối tiếc sống cuộc đời chưa phỉ, chưa đành đoạn xa rời những người thân yêu quý, xin cho trôi ra dòng biển lớn bao la trước mặt, rửa sạch hết những hờn đau của một kiếp người. Nắng vàng tươi của buổi sớm mai đang trải rộng mênh mông trên mảnh đất cằn khô sỏi đá, tiễn đưa những người chiến sĩ đã sống và vừa chết cho quê hương. Những người con của Mẹ đã ra đi và nằm xuống, nhưng khí hùng bất tử của các anh vẫn là những giọt nắng vàng tươi lấp lánh và chiếu sáng trong hồn dân tộc, trong lòng những người còn lại hôm nay và mãi đến muôn đời sau. Trung Tá Lê Hằng Minh đã anh dũng đền xong nợ nước vào lúc 8 giờ 50 phút sáng tại chiến trường miền Trung năm 31 tuổi, ngày 29 Tháng Sáu năm 1966, trong bao niềm tiếc thương của bạn bè, thượng cấp và đồng đội chiến hữu khắp các đơn vị.

Chiều hôm sau, chiếc quan tài phủ lá cờ Tổ quốc đã đưa người chiến sĩ Lê Hằng Minh về Sài Gòn. Chiều hôm ấy mưa rơi tầm tã, gió lạnh tơi bời như những niềm đau cắt ruột của những người thân trong gia đình vừa mất đi một người con, người em, người anh thương yêu. Người mẹ đã cho đi bốn người con trai (Lê Minh Ðảo, Lê Hằng Minh, Lê Hằng Nghi, Lê Quang Thạch) vào trong quân ngũ. Sau này đã khóc trước sự ra đi vĩnh viễn của 2 người con (Tr/T LHM & T/S LQT) cùng năm tháng mòn mỏi đợi chờ 2 người con còn lại trong lao tù Cộng Sản mười mấy năm dài sau biến cố lịch sử 30 Tháng Tư, 1975 (Thiếu Tướng LMÐ & Ðại Úy LHN). Chiếc quan tài buồn đã được đưa về ngôi nhà mà Tr/T LHM đã được sinh ra và lớn lên ở Hàng Keo-Gia Ðịnh.

Người mẹ đã một thân cò nuôi dưỡng một đàn con với bao dòng nước mắt đau khổ chảy xuôi. Hôm nay thêm một lần chảy xuống thành dòng máu lệ trong trái tim của người mẹ hiền già nua héo hắt! Mọi người trong gia tộc đều thương tiếc và yêu thương LHM đến nỗi cho sơn chiếc quan tài màu trắng là màu ông rất ưa thích lúc sinh thời. Họ đều không được nhìn mặt ông lần cuối mà chỉ biết ôm lấy chiếc quan tài đã phủ kín xác thân, than khóc tiếc thương. Ðám tang của ông được cử hành trọng thể, trang nghiêm với các lễ nghi quân cách, Tổ quốc ghi công, và an táng tại nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi, Sài Gòn. Cố Tr/T Lê Hằng Minh được ân thưởng: Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương, Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương, với nhiều Anh Dũng Bội Tinh, Nhành Dương Liễu, Ngôi Sao Vàng, Bạc và nhiều huy chương khác của QLVNCH.

Trên mộ là bức hình cố Trung Tá Lê Hằng Minh mặc quân phục, đội nón sắt (do một phóng viên người Mỹ chụp và đăng hình trên báo Marine Corps Gazette & Time News) cùng khắc hai câu thơ “Vì tôi là lính áo rằn. Ra đi nào biết mấy trăng mới về.” Bởi ông đã chọn đời binh nghiệp, hiến cuộc đời cho Tổ quốc, sẵn sàng chấp nhận hy sinh nên đã không dám nghĩ đến tình riêng, sợ vướng khổ cho cuộc đời cô nhi quả phụ nên khi chết vẫn còn độc thân, chưa lập gia đình. Cái chết của Tr/T Lê Hằng Minh đã là một cái tang xót đau lớn cho gia đình, ngờ đâu 6 tháng sau lại thêm sự ra đi vĩnh viễn của người em gái kế là Lê Mộng Huyền đang là một cô giáo hiền hòa tươi trẻ (dạy học trường Quốc Gia Nghĩa Tử), vì không chịu nổi sự buồn đau trước cái chết đột ngột của người anh ruột mà cô hết lòng yêu kính.

Là một sĩ quan ưu tú của quân đội, là một nghệ sĩ vui tính với ngón đàn tuyệt diệu. Tr/T Lê Hằng Minh còn là một người con rất hiếu thảo với mẹ. Dường như ông biết đời lính chiến của mình có thể ra đi bất cứ lúc nào nên ông đã viết một lá thư tỏ bày sự kính yêu cùng một khoản tiền dành dụm được lúc du học ở Hoa Kỳ, để lại cho mẹ sau ngày ông mất đi. Và đây là những dòng hồi ký ông đã ghi lại những cảm xúc và tâm tình lúc bé thơ, thể hiện một con người đa cảm và nhân ái:

“Ngày… tháng… năm…
Bệnh viện Nguyễn Văn Học tục gọi là bệnh viện nhà nước hay nhà thương thí cũng thế. Anh em mình lớn lên bên bệnh viện này, liên hệ mật thiết với nó như bóng với hình. Mình chào đời vào lúc 8 giờ tối ngày 18 Tháng Năm, 1935 tức (16/4 năm Ất Hợi) trong khu Bảo Sinh, phòng dành cho công chức, do bà sáu Nhiều đứng đỡ…
Hầu như mình thuộc nằm lòng vị trí của bệnh viện, nào là phòng khám bệnh, phát thuốc, trại 1, trại 2, trại 3, trại 4, trại 5, trại 7, trại Bùi Văn Lố và trại bảo sanh. Sở dĩ mình nhớ như vậy vì bao lần má sinh các em, nào lúc ba bệnh, những khi mình ốm đau đều nhờ nó cả!
Mình lớn khôn, đi xa, thấy rộng, mình có cảm tưởng càng ngày bệnh viện càng nhỏ hẹp lại, cằn cỗi, già… theo má mình vậy!
Mỗi lần đi xa trở về, đi ngang bệnh viện, mình trìu mến nhìn, có ý thưa: “Con mới về đây.”
Ngoài má ra, bệnh viện này là bà mẹ thứ hai có công ơn nuôi dưỡng anh em mình khôn lớn khỏe mạnh đến ngày nay!”

“Ngày… tháng… năm…
Ðến trường
Sáng hôm ấy,
vào năm 1940, mình được má đưa đến trường Mac Ferrando-Gia Ðịnh.
Ðêm trước, mình thấy nao nao, cảm giác là lạ khi nghe ngày mai mình phải đi học. Mình thấy ba má, chị Hai, chị Ba, anh Tư đều bận rộn việc đi học của mình. Nhứt là anh Tư*, anh vỗ tay dí vào mũi mình, vừa nhảy cà tửng vừa chộ mình: “Ê, mai mày đi học rồi. Ê, ê….” Mình nghĩ có lẽ vì ảnh đi học mà mình ở nhà đi chơi với anh Xái nên ảnh tị, bây giờ nghe mình đi học ảnh khoái lắm!
Sáng sớm, bị ba đánh thức rất sớm, mình ăn lót lòng cháo trắng với đường, ba cho mình “hai đồng nửa xu” mới tinh, tay ôm cuốn dầu “con thỏ và con rùa,” tay phải nắm tay má rụt rè tới trường… thỉnh thoảng mình buông tay má vạch túi xem hai đồng nửa xu còn không.
Ðến cổng trường, trời… học trò sao mà đông thế. Những đứa lớn đùa giỡn, la lối, rượt bắt nhau như ong vỡ tổ. Mặt mình lúc ấy hình như mếu rồi, mình sợ quá nắm tay má thật chặt, mặt cứ rúc vào tà áo dài bằng hàng trắng thật mới của má, mình ngửi mùi hàng thấy ngọt ngào làm sao! Có những tên lạ cũng mếu, ngơ ngác theo ba má chúng đi xin học như mình!
Trước căn phòng hiệu trưởng, nhiều người dìu con đi học nên có sự chen lấn xảy ra. Có một tên chèn mình vì bị ba nó kéo lên phía trước… Suýt chút bị sút tay khỏi tay má, mình sợ lạc má nên vội thúc vào hông nó thật mạnh khiến hắn khóc ré lên..
Ðến phiên mình vào, trời khiếp, ông Ðốc Mão sao to béo thế. Ông cầm đơn xin học của mình đoạn nhướng mắt nhìn mình qua làn kính trắng, giọng oang oang hỏi má: “Trò Minh chưa đủ tuổi mà học cái gì?” Má vội đưa tấm danh thiếp giới thiệu của ông Dournot, thanh tra người Pháp, ông này quen với ba sao đó. Bấy giờ ông Ðốc Mão “dịu giọng” ngay: “Thôi được” và ra lệnh người tùy phái dẫn má và mình đến lớp năm A gặp thầy Phước làm mình thất vọng quá. Ðang hy vọng trở về vì chưa đúng tuổi! Mặt méo xẹo, riu ríu theo má đi gặp thầy Phước, tay ông đang cầm cây thước nhịp nhịp vào không khí, mình thấy ông ta nghiêm quá, vội rúc vào lòng má, ôm chân má thật chắc. Thầy Phước khẽ cười, cúi đầu đáp lễ má và nói: “Dạ, bà giao em cho tôi,” tay thì nắm lấy tay mình kéo đi, mình khóc rú lên “má ở đây má ơi!,” má cười gượng, gỡ tay mình đang ôm đùi má và an ủi mình: “Không sao đâu con, má phải về còn đi chợ nữa chớ.” Mình cố gào thét nhưng vô hiệu!
Má đi rồi, thầy Phước vừa dỗ vừa dọa, tay ông cầm cây thước dọa dọa. Không còn má, mình thấy bơ vơ trong thế giới của học đường và sợ hãi trước ông giáo xa lạ, mình hết dám khóc. Thầy Phước dìu mình đến ngồi bàn thứ hai.
Mình lấy tay áo mới, chùi mắt và mũi, khẽ liếc chung quanh, thấy các bộ mặt “mếu” chẳng khác gì mình, chúng đang lấm lét nhìn ông thầy. Mình thấy dường như vừa mất mát cái gì to lớn lắm!
(*) (Anh Tư: Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo)

Ngày… tháng… năm…
Ngày bãi trường đầu tiên
Mình làm quen thế giới học đường được một năm rồi, sau kỳ thi tất cả 52 đứa đều được lên lớp tư. Không biết thông lệ từ hồi nào, ngày bãi trường là học sinh đóng tiền liên hoan đãi thầy do các tên lớn đề xướng và tổ chức.
Hôm ấy, từ lớp tư trở lên đều liên hoan rầm rộ. Còn lớp mình im ru buồn hiu vì toàn là bé con. Chẳng có tên nào lãnh đạo, thành lớp mình buồn hơn đám ma!
Có lẽ cảm thấy nỗi buồn ấy, hơn nữa sắp xa đám học trò, các tác phẩm do chính tay mình gầy dựng cả năm trời… bất thần có tiếng leng keng của người Tàu già bán kẹo đục đi qua. Thầy Phước vội kêu vào bảo đục 53 phần kẹo, mỗi phần một xu!
Năm mươi ba phần kẹo được đục xong, thầy Phước móc bóp đếm cẩn thận năm tờ giấy một cắc và ba đồng xu, trả tiền kẹo, tay run run…
Lúc ấy, mình hết nhìn người bán kẹo lại nhìn thầy Phước, xong lại nhìn 53 phần kẹo, miệng nuốt nước bọt. Mình thấy thương thầy Phước quá, bao nhiêu lần bị phạt, bị đòn trong năm đều tiêu tan hết…
Thầy Phước tay chắp sau đít, đi qua đi lại như bao ngày, ông ho gằn mấy tiếng có lẽ vì cảm động, đoạn nói: “Các em, hôm nay ngày bãi trường, thầy trò mình bắt đầu xa nhau… Hôm nay, thầy đãi các em một xu kẹo đục, bắt đầu trò Ẩn đi lên lần lượt lãnh kẹo.” Tụi mình lãnh hết, còn lại một phần, ông cầm lấy và ra lệnh ăn. Ðứa nào đứa nấy mặt hớn hở nhìn thầy đầy trìu mến!
Trong đời mình, có lẽ không có bữa tiệc nào quý và cảm động bằng một xu kẹo đục của thầy Phước…”

Tâm hồn Lê Hằng Minh giàu cảm tình và nhân hậu là thế, nên khi hồi tưởng lại giây phút tôi gặp chú lúc đi lạc giữa súng ống và binh lính ngổn ngang, sợ hãi đứng khóc một mình trong ngày biến cố đảo chánh ở thành Cộng Hòa. Ðang là vị sĩ quan chỉ huy và cũng chắc rất đang bận rộn với những trách nhiệm của mình, vậy mà chú cũng đến bên tôi, dỗ dành cho nín khóc và đưa về tận nhà. Ðó là hình ảnh tôi không quên qua nghĩa cử của một người có tấm lòng nhân ái đối với trẻ em. Và cũng từ cơ duyên đó, 38 năm sau tôi mới có dịp viết, vẽ lại chân dung người lính Việt Nam Cộng Hòa cao đẹp qua hình ảnh cố Trung Tá Lê Hằng Minh.

Chú Minh ơi, sau khi cánh cổng rào nhà cháu khép lại, là từ đó cháu không bao giờ còn gặp lại chú nữa. Nhưng hôm ấy, cháu còn giữ lại nơi chú một nụ cười trìu mến vỗ về, dù cháu đã hết sợ và nín khóc từ lúc mới gặp chú. Cả ngày hôm đó, con bé tám tuổi vẫn nhớ tới chú vì còn giữ mấy cánh hoa sứ trắng trong túi áo mà chú đã nhặt và hái cho. Cháu đã đem ép vào những cuốn sách mà cháu yêu thích nhất vì nghĩ hương thơm hoa sứ sẽ còn hoài trên những trang sách đó. Thỉnh thoảng qua hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm chơi và đi lượm hoa sứ rụng, cháu vẫn còn nhớ tới chú với lời hẹn hôm nào gặp lại sẽ được chú đàn cho nghe như lời chú hứa.. Mà chẳng biết tới bao giờ đây (?).Hơn một năm sau, nhà cháu dọn ra khỏi cư xá đi nơi khác và chút kỷ niệm thân ái bé nhỏ ấy cũng dần nhạt nhòa theo những ngày tháng cháu lớn khôn thêm. Một đôi lần cháu theo mẹ vào Tổng Y Viện Cộng Hòa thăm ba cháu những lúc ông bị thương, cháu lại nhìn thấy những hàng bông sứ trắng được trồng dọc theo mấy dãy hành lang bệnh viện trắng toát u buồn, làm những cánh hoa rơi khẽ chỉ lặng lẽ tỏa hương để không gian nhẹ bớt phần thê lương của những người thương binh. Cháu lại thoáng nhớ đến chú rồi lại quên trong cái tuổi hồn nhiên vô tư lự. Vài năm sau, có một lần cháu sang nhà hàng xóm chơi, thấy sân nhà bác Thiếu Tá Nhàn mới nở mấy cây hoa sứ kiểng rất đẹp. Cháu hỏi xin, bác từ chối, cháu cố năn nỉ: “Cháu chỉ xin bác một bông thôi, bác xem có bông nào xấu nhất, bác cho cháu nhé!.” Bác Nhàn bật cười: “Hoa nào cũng đẹp, chỉ có mỗi bác Nhàn là xấu thôi, không có hoa nào xấu cả, cháu ơi.” Bác Nhàn nói thế để lờ đi đấy mà (dĩ nhiên là không rồi, vì đó là hoa kiểng của bác mới nở được có mấy bông). Nhưng lúc ấy cháu còn trẻ con, nên nghĩ bụng, bác Nhàn xấu thật, mình xin có mỗi một hoa nào xấu nhất, vậy mà bác cũng không cho. Rồi cháu chợt nhớ tới chú, tới những bông sứ trắng nơi hàng cây bóng mát tuổi thơ của cháu ngày nào mà đã có lần được chú hái cho bỏ đầy hai túi áo ngày xưa.

Năm tháng trôi qua với biết bao đổi thay, biến động của cuộc sống và tình hình đất nước, cháu đâu còn có dịp nào để nhớ lại câu chuyện bé nhỏ ngày xưa ấy.. Cho đến một hôm, trước Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu vài ngày, cháu tìm hiểu và liên lạc với một số vị chỉ huy của những trận chiến oai hùng của quân đội VNCH để phỏng vấn trong chương trình phát thanh “Tiếng Việt Mến Yêu” nhân dịp kỷ niệm Ngày Quân Lực VNCH. Tình cờ cháu nhìn thấy hình của chú trên bìa đặc san Sóng Thần-2002 trong văn phòng làm việc, cháu thấy khuôn mặt và nụ cười của người lính này sao nhìn quen quá, rất quen, rồi… không sao nhớ thêm được tí nào nữa. Cháu vẫn nhớ chú tên Minh nhưng không biết nguyên tên họ chú là Lê Hằng Minh. Ngay lúc đó cháu cũng đang đọc cuốn bút ký “Cuộc Chiến Dang Dở” của Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt (cũng là bạn học với chú) vừa gửi tặng. Ðến đoạn viết về cuộc đảo chánh ngày 1 Tháng Mười Một, 1963 với sự tham dự TÐ4/TQLC của chú, cháu mới chợt nhớ ra như dòng suối đã được khơi nguồn. Câu chuyện và những hình ảnh đã lãng quên, nay giật mình nhớ lại thì đã 36 năm trôi qua. Cháu cũng không biết rằng sau lần gặp chú thì chỉ hơn hai năm sau, chú đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến ở miền Trung, và cũng không hề biết chú là em của Th/Tướng Lê Minh Ðảo dù đã trò chuyện với ông vài lần qua một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh. Thêm một tình cờ ngẫu nhiên khi cháu nhớ ra chú và muốn tìm hiểu thêm về trận đánh ngày 29 Tháng Sáu, 1966, lúc tiếp chuyện với Ðại Tá Ngô Văn Ðịnh là người thay thế chức vụ tiểu đoàn trưởng TÐ2/TQLC ngay buổi chiều chú vừa hy sinh, cháu nhắc với ông: “Hôm nay là ngày giỗ của chú Lê Hằng Minh, ngày 29 Tháng Sáu.” Ông cũng bùi ngùi nói: “Ðó là người chiến hữu thân của tôi đã mất cách đây đúng 36 năm, không ngờ hôm nay còn có người nhắc nhớ và viết đến. Cám ơn cô Ngọc Thủy!”

Rồi ông liên lạc ngay với người bạn rất thân của ông từ nhiều năm qua và cũng là một người bạn rất thân mến từng sát cánh cùng chú trong nhiều năm binh nghiệp hiện đang định cư ở Iowa là Ðại Tá Tôn Thất Soạn, và bất ngờ trong một cuộc điện đàm, Ð/T Tôn Thất Soạn có cho cháu biết ông đã nghe được câu chuyện này cách đây hơn ba mươi năm về trước: “Trong ngày 1 Tháng Mười Một, 1963, TÐ4/TQLC chia ra làm 2 cánh quân. Lúc đó tôi là tiểu đoàn phó TÐ4/TQLC giữ cánh B đóng ở Nha Cảnh sát, còn Tiểu Đoàn Trưởng Lê Hằng Minh thì đưa cánh quân A qua thành Cộng Hòa. Sau ngày đảo chính, có một lần, anh ngồi cười kể cho tôi nghe chuyện gặp một cô bé đi lạc, anh đã đến dỗ dành và đưa cô bé ấy về nhà. Tôi nghe anh Ðịnh kể về nguyên nhân câu chuyện của cô muốn đi tìm chi tiết để viết về anh Minh là tôi nhớ lại ngay cũng câu chuyện này đã từng được nghe Lê Hằng Minh kể, tôi không ngờ cô bé đi lạc hồi đó là cô Ngọc Thủy bây giờ.” Và sau đó ông đã gởi ngay cho cháu một bài viết về một số những trận đánh ông từng tham dự sát cánh với chú, trong đó có đoạn: Trong những ngày diễn tiến của biến cố 1 Tháng Mười Một, 1963, Tiểu Đoàn 4/TQLC đã hoàn thành nhiệm vụ giao phó mà không gây thiệt hại gì cho đơn vị đối phương hoặc dân chúng địa phương. Ðiều này đã nói lên được tinh thần kỷ luật của đơn vị rất cao cũng như tình Quân Dân Như Cá Nước của các chiến sĩ Kình Ngư (TÐ4/TQLC) mà điển hình là một câu chuyện kể của người anh cả Kình Ngư (TÐT Lê Hằng Minh) một ngày sau đó (1/11/63): “Với quân phục rằn ri cọp biển, đi đứng hiên ngang hùng dũng, nón sắt chiến trận nặng nề, chụp trên đầu của khuôn mặt sạm nắng, cặp mắt quầng thâm thiếu ngủ, với bộ ria mép rậm rạp như trong phim “cow boy” Mexico, với dây súng gắn dài đạn đồng đeo chéo ngực v.v… khiến ai nhìn mà không khiếp đảm, huống hồ là một em bé gái bé bỏng 8 tuổi của đô thành hoa lệ Sài Gòn, nào có biết chiến tranh là gì; nên khi Ð/U Minh và các binh sĩ từ trên xe GMC nhảy tràn xuống đường gần thành Cộng Hòa để chiếm các vị trí bố phòng dọc theo nhà dân hai bên vệ đường, khiến em bé gái này sợ hãi quá, khóc thét lên… Tuy với vóc dáng bên ngoài “gồ ghề” là thế, vậy mà bên trong chứa ẩn một trái tim nhân hậu và đầy tình cảm. Ð/U Minh người anh cả Kình Ngư, đã quỳ một chân xuống bên cạnh em bé gái đó, để đưa tay vuốt tóc em bé cho đỡ sợ và nói những lời an ủi dịu ngọt để cho em vững tâm mà nín khóc…

Sau đó em bé đã hiện nét mặt vui mừng, trò chuyện và anh đã đưa cô bé về nhà gần đó…” Ðại Úy Minh đã kể lại cho tôi nghe câu chuyện này vừa xảy ra hôm qua với nét mặt hân hoan của một người nhân hậu vừa làm được việc tốt lành. Tôi có nghe nhưng rồi cũng bỏ qua, nhưng không ngờ sau 38 năm, lại được em bé gái đó, bây giờ là một nữ văn sĩ hiện định cư ở San Jose, Cali… lúc đọc được ÐSST-2002, đã bất ngờ nhìn thấy lại hình cố Tr/Tá Lê Hằng Minh trên trang bìa sách của đặc san. Một kỷ niệm trong sáng của một thời thơ ấu đã gợi lại hình ảnh một anh hùng mũ xanh của năm nào! Nhưng thật đáng buồn, vì bây giờ người anh hùng đó đã thành người thiên cổ!”

Nghe ông Ð/T Soạn nhắc lại cháu rất cảm động, nên viết thành mấy câu thơ:

Sao người không tặng cho tôi
một bông sứ trắng cho đời thơm hương
Tặng chi tôi một giọt sương
Trên bông hồng đỏ, dễ thường không khô?
Biết đời như một giấc mơ
Thì tôi xin một phút chờ cho vui!
Nhớ bông sứ trắng một thời
Có con bướm trắng bay rồi, đã bay…
(Thơ N.T.)

Chú Minh ạ, cháu thật sự xúc động bởi chú không những là người lính có tình người nhân hậu và trái tim nghệ sĩ năm xưa cháu đã gặp, mà qua chú sống dậy trong lòng cháu những hình ảnh thật kiêu hùng cùng những hi sinh quả cảm của những người trai thời loạn đã dành cho Tổ quốc Việt Nam: sự sống và tuổi trẻ cùng tấm lòng yêu dân tộc quốc gia. Hơn nữa, chú và hàng trăm vạn người lính trẻ khác đã chiến đấu và đã chết cho quê hương. Ðó là những anh hùng không tên tuổi. Nhưng Tổ quốc và lòng người dân Việt không bao giờ quên họ. Trong dòng cảm xúc này cùng sự hỗ trợ từ những người thân của chú, cháu mong được nhắc nhớ lại hình ảnh của một chiến sĩ Lê Hằng Minh, cũng là hình ảnh của muôn ngàn người anh hùng không tên tuổi mà cháu rất kính phục và biết ơn họ đã dâng hiến cuộc đời cho tổ quốc non sông và đã “vị quốc vong thân,” đem lại yên vui êm ấm cho bao người trong đó có cả những tháng ngày thơ ấu, tuổi trẻ của cháu đã hưởng được sự an lành tốt đẹp.

Chú Minh biết không, nhìn những bức hình của chú trước mặt, cháu thấy lại nguyên vẹn hình ảnh của người đại úy trẻ đã nhìn cháu với nụ cười trìu mến vỗ về và cháu vẫn là cô bé tám tuổi đi lạc ngày nào, không có thời gian cách biệt. Nhưng có một điều, cháu sẽ chẳng bao giờ gặp lại để chú đánh đàn cho nghe, và những cánh hoa sứ ép khô cùng hương hoa ngày cũ trên những trang sách đẹp ngày xưa của cháu đã trôi lạc theo dòng đời bể dâu đã từ lâu lắm rồi… không tìm thấy nữa.

Sau ngày chú ra đi, ngủ yên trong lòng đất mẹ, chín năm sau, miền Nam tự do thân yêu của chúng ta đã rơi vào tay Cộng Sản. Ðã 27 năm qua, quê hương vẫn lầm than tăm tối. Bây giờ cháu đang sống ở xứ người, lòng vẫn nhói đau mỗi khi đọc những mẩu tin tức ở quê nhà, bao nhiêu là thảm cảnh và tệ trạng, bao nhiêu là bất công phi lý, cuộc đời những người dân nghèo Việt Nam vẫn triền miên đọa đày trong đói khổ lầm than. Ðó là những tiếng kêu như rên xiết, xé ruột trong lòng mà cháu không biết mình phải làm sao! Cháu biết chú cũng buồn như cháu và mọi người khi thấy quê hương thân yêu mình qua bao năm vẫn điêu linh khốn khổ, chưa có được ngày đẹp tươi của ánh sáng tự do-giàu mạnh cho mọi người được hưởng cuộc đời văn mình, ấm no chung.

Thôi để cháu nói qua chuyện khác cho chú nghe nhé. Bây giờ cũng đang là mùa Hạ ở xứ Mỹ này, ở đây không có hàng cây bông sứ trắng như ở quê nhà, nhưng có một loài hoa khác rất đẹp cũng rộ nở vào mùa Hè, đó là hoa Magnolia, còn được gọi là hoa Thiết Mộc Lan. Hoa màu trắng, nở to như hoa sen làm mát rượi cả một mùa Hè, mát cả con đường cháu vẫn đi qua hàng ngày. Với cánh hoa tươi đẹp này cháu xin gởi tặng chú trong ngày giỗ thứ 36 của chú hôm nay. Và cũng xin kính tặng hai bài thơ nhỏ để tưởng nhớ đến chú cùng dâng lên anh linh các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam:

Sau Cuộc Chiến
Người lính đó không về sau cuộc chiến
Phố vẫn đông trong những ngày cuối tuần
Ngôi Giáo đường rung hồi chuông cầu nguyện
Nửa cho chàng, nửa cho khắp Việt Nam!
Ngọc Thủy

Người Chiến Sĩ Mũ Xanh
Hồi năm tám tuổi tôi đi lạc
Người dẫn tôi về: Lê Hằng Minh!
Ba tám năm rồi, tôi vẫn nhớ
Người gọi tôi là cô bé xinh!
Trong tôi hình ảnh người không mất
Mãi mãi anh hùng của Việt Nam
Người lính dễ thương và lẫm liệt
Khiến tôi yêu mãi Nước cùng Non.

Ba tám năm rồi, người đã mất *
Giang sơn buồn quá… cũng như người!
Tôi và triệu triệu người xa xứ
Buồn quá cứ nhìn mây trắng trôi!
Tôi lật từng trang buồn ký ức
Từng trang nước mắt đọng bao giờ!
Một lần tháng sáu ngày hai chín
Tôi gởi về người: thân ái xưa!

Ba tám năm rồi, tôi mấy tuổi?
Người ơi… tôi biết người thiên thu!
Lê Hằng Minh hỡi, trên sông núi
Hồn xác người đâu? đang ở đâu?
Có thể đã tan cùng cát bụi?
Hay là đang quyện khói hương đây?
Trên đường trận mạc, người đi tới
Áo trận bao lần mưa nắng phai…

Ba tám năm rồi như giấc mơ!
Non sông Tổ quốc… chuyện không ngờ!
Có người nhắc Huế rồi lau mắt
Nhắc những anh hùng, thôi, đủ chưa?
Lê Hằng Minh ở trong lòng Huế
Cùng bạn bè đi vào sử xanh
Một nén hương thơm mà ấm nhỉ
Tôi đi khép lại cửa mông mênh!

Hồi năm tám tuổi, tôi đi lạc
Không gặp người thì tôi ra sao?
Nhiều lúc giật mình tôi nhớ lại:
Tuổi thơ là một giấc chiêm bao!
Người mất, tuổi tôi còn bé lắm
Bây giờ vẫn bé đến muôn năm
Nếu người còn sống tôi còn lạc
Lại được người dìu mỗi bước chân?

Lê Hằng Minh hỡi! thương mến chú!
Những giọt lệ từ “cô bé xinh”
Xin rót xuống đây – lòng biển cả
Lòng người chan chứa một niềm tin
Rằng mai đất nước mình tươi thắm
Huế dựng uy nghi một tượng đài
Trong khói nhang thơm trùm quá khứ
Bao người vị quốc đã vong thân!

*(Trung Tá Lê Hằng Minh đã anh dũng hy sinh lúc 31 tuổi tại mặt trận miền Trung, Vùng I Chiến thuật ngày 29 Tháng Sáu năm 1966).

Chút Hương Trong Gió
Sáng, em nhìn một đám mây
Trời xanh, mây trắng, chút này đủ thương!
Gió như còn chở chút hương
Của hoa sứ trắng trong vườn mộng xưa…

Sáng mà sao em còn mơ
Ai kia trong đám lá chưa nhuộm vàng?
Nghĩ hoa sứ chắc giờ tan
Như mây trắng lát bay ngang mặt trời…

Ơi hoa sứ một thời ơi
Buồn trong con mắt cuối đời không chao?
Ai kia trong đám lá chào?
Không đâu! Gió động cành đào xuân duyên…

Trả cành hoa sứ cho em*
Trả luôn những bước chim chuyền bình minh!
Hỡi ơi em nói một mình
Cành xuân gió động, giọt tình… là sương!
(N.T.) *(Hoa Sứ còn được gọi là hoa Ðại)

Anh Hùng Vô Danh
Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.

Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước
Ðã phá rừng, xẻ núi lấp rừng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một dải sơn hà gấm vóc…

Họ là những anh hùng không tên tuổi
Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình
Bền một lòng dũng cảm chí hy sinh
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật

Nhưng máu họ đã len vào mạch đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và anh hồn chung với tấm tình trung
Ðã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.
(Ðằng Phương)

Vì tôi là lính áo rằn
Ra đi nào biết mấy trăng mới về
(LHM – thơ khắc trên mộ)

1- Ðọc quyển sách nhỏ 50 trang này, quý vị và các bạn sẽ cảm động.

Cô bé Ngọc Thủy 8 tuổi ngày xưa ở cư xá Thành Tín, thích nhặt bông sứ trắng, “chưa hiểu biết gì nhiều về chiến tranh.” Bỗng một hôm, cô bé đi lạc vào biến cố đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ngày 1 Tháng Mười Một, 1963.

“Một mình bé nhỏ lạc lõng bên cạnh những người lính mặc áo trận rằn ri chung quanh. Chẳng biết cơ duyên nào mà chú Minh lại xuất hiện lúc ấy, đến vỗ về trấn an cho tôi nín khóc. Chú hỏi nhà tôi ở đâu để dắt tôi về hộ.”

2- “Chú Minh” chính là Cố Trung Tá Lê Hằng Minh, Tiểu Ðoàn Trưởng, Tiểu Ðoàn 2 “Trâu Ðiên,” đơn vị lừng danh của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến.

Ông Minh nổi tiếng gan lì và dũng cảm. Cùng các đồng đội, ông tung hoành trên nhiều chiến trận hiển hách, xông pha lửa đạn, anh dũng ra vào chốn sinh tử.

Ông Quan Cọp Biển Lê Minh Hằng là em trai của Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, vị tướng oai hùng trên mặt trận Xuân Lộc trong những giây phút tử thủ cuối cùng, trước khi miền Nam sụp đổ năm 1975.

Anh Cả Kình Ngư Lê Minh Hằng được mô tả như sau: tóc ngắn, mắt to sáng dịu hiền, bộ râu mép rất xanh, nét mặt tràn đầy nhựa sống, hồn nhiên, yêu đời, đánh giặc hay như chơi đàn, giầu cảm tình và nhân hậu, miệng cười rất có duyên, nụ cười hiền hậu, đi đứng hiên ngang hùng dũng.

“Có lẽ Lê Hằng Minh là người lính duy nhất, dù ở hậu cứ hay bất cứ tuyến đầu trận địa nào, đi đâu cũng mang theo bên mình cây đàn guitar yêu quý. Hễ có dịp dừng quân hay nghỉ ngơi là ông lại ôm đàn thay cho tay súng, đánh lên những tiếng đàn du dương trầm bổng cùng những ca khúc tuyệt vời cho bạn bè binh lính thưởng thức.”

Trung Tá Lê Hằng Minh cũng là thi sĩ, nhạc sĩ, tác giả các ca khúc “Hoa Cài Trên Súng (1959), Bơ Vơ (1960), Người Anh Chinh Chiến (1964), Em Mùa Thu (1965), Sao Buồn (1966).

Thuận Thành đất của Ba
Rạch Kiến quê hương Má
Quê nội quận Cần Ðước
Bên ngoại làng Long Hòa

Sinh tại miền Gia Ðịnh
Việt Nam vạn nẻo đường
Vì sống cuộc đời lính
Tôi có lắm quê hương
Lê Hằng Minh
(Quê Tôi)

3- “Thế gian bất thiểu tài hoa khách,” Ôi người xưa đã khuất mà thiên thu vạn tuế danh. 36 năm sau, cô bé Ngọc Thủy lưu lạc ở hải ngoại, cơ duyên đưa đẩy, bổng nhận ra “khuôn mặt sạm nắng,” “bộ ria mép rậm rạp,” nụ cười thân ái quen thuộc của vị đại úy TQLC ngày xưa:

“Chú Minh biết không, nhìn những bức hình của chú trước mặt, cháu thấy lại nguyên vẹn hình ảnh của người đại úy trẻ đã nhìn cháu với nụ cười trìu mến vỗ về.

Và cháu vẫn là cô bé tám tuổi đi lạc ngày nào. Không có thời gian cách biệt. Nhưng có một điều, cháu sẽ chẳng bao giờ gặp lại để chú đánh đàn cho nghe, và những cánh hoa sứ ép khô cùng hương hoa ngày cũ trên những trang sách đẹp ngày xưa của cháu đã trôi lạc theo dòng đời bể dâu đã từ lâu lắm rồi… Không tìm thấy nữa.”

“Trung Tá Lê Hằng Minh đã anh dũng đền xong nợ nước vào lúc 8 giờ 50 phút sáng tại chiến trường miền Trung năm 31 tuổi, ngày 29 Tháng Sáu năm 1966, trong bao niềm tiếc thương của bạn bè, thượng cấp và đồng đội chiến hữu khắp các đơn vi.” “Những người con của mẹ đã ra đi và nằm xuống, nhưng khí hùng bất tử của các anh vẫn là những giọt nắng vàng tươi lấp lánh và chiếu sáng trong hồn dân tộc, trong lòng những người còn lại hôm nay và mãi đến muôn đời sau.”
Người lính đó không về sau cuộc chiến
Phố vẫn đông trong những ngày cuối tuần
Ngôi giáo đường rung hồi chuông cầu nguyện
Nửa cho chàng, nửa cho khắp Việt Nam
(Ngọc Thủy)

4- 36 năm sau, cô bé 8 tuổi ngày xưa trở thành văn sĩ, thi sĩ, xướng ngôn viên khả ái, giám đốc của chương trình phát thanh Tiếng Việt Mến Yêu trên làn sóng Radio AM 1430, tại Thung Lũng Hoa Vàng San José. Chị Ngọc Thủy cũng là chủ biên tạp chí văn học nghệ thuật Suối Văn.

“Bố tôi là người trong quân đội, nên suốt đời thơ ấu của tôi lớn lên gắn liền với mầu áo xanh và sự hào hùng của các bác các chú chiến binh. Tôi yêu đời lính thật gần gũi và tự nhiên. Vì họ là những hình ảnh quen thuộc hiện diện chung quanh đời sống tôi từ lúc bé thơ.”

Chỉ trong vòng một tuần lễ, có cái gì thiêng liêng mãnh liệt thôi thúc chị Ngọc Thủy hoàn tất nhanh chóng tập sách Một Thời Ðể Nhớ. Vói cánh hoa tươi đẹp này, cháu xin gởi tặng chú trong ngày giỗ thứ 36 của chú. 50 trang gom góp các hình ảnh chiến tích oai hùng, với nhiều tài liệu chi tiết “kính dâng anh linh các anh hùng tử sĩ đã vị quốc vong thân, và anh linh người anh hùng mũ xanh Lê Hằng Minh.”

“Cuối Tháng Sáu, gió Hạ Lào đang thổi về như tiếng mẹ ru buồn bay lướt trên những dãy đồi trọc trống vắng quạnh hiu. Hồn anh du nhập theo bóng núi Trường Sơn trùng trùng ngạo nghễ. Ðể lại xác thân bên ven bờ Quốc Lộ 1 những niềm đau nuối tiếc sống cuộc đời chưa phỉ, chưa đành đoạn xa rời những người thân yêu quý. Xin cho trôi ra dòng biển lớn bao la trước mặt, rửa sạch hết những hờn đau của 1 kiếp người.”

Cố Trung Tá Lê Hằng Minh là biểu tượng của những người thanh niên cuồng nhiệt yêu nước, gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo. Họ đã đứng lên đáp lời sông núi, tiếc gì thân sống. Họ là những người lính Việt Nam Cộng Hòa rạng danh muôn thuở.

Bây giờ đã hết thời chinh chiến
Nghe khúc quân hành bỗng nhớ xưa
Ai đó bỏ thân ngoài chiến địa
Nghìn thu còn ấm những bài thơ
(Ngọc Thủy)

Nguồn: Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/ccb-chuyen-ke-ve-mot-chien-si-anh-hung-cua-qlvnch-trung-ta-le-hang-minh/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s