Lan Đoản Kiếm (CYMBIDIUM), Hoa Và Thuốc

Dược Sĩ Trần Việt Hưng

https://www.stodels.com/wp-content/uploads/2017/05/03-Stodels-BlogPost-500x500-June-2019.jpg

GS Tôn Thất Trình, nguyên Bộ Trưởng Canh Nông VNCH, thời TT Diệm trong bài: ‘Đã đến lúc phổ biến rạng danh ‘quốc hoa’ lan VN chăng ?….Nên lai tạo và phát triển hoa địa lan Đoản Kiếm đặc hữu Cymbidium nước nhà’ đã có những nhận xét rất lý thú về loài Cymbidium.
Ông viết:

…’ Địa lan đoản kiếm tông chi Cymbidium, họ Lan Orchidaceae đã được GS Hộ định danh 19 loài ở VN. Có khi không dưới tên Đoản Kiếm mà nhiều tên khác như Bích ngọc C. dayanum, Thanh hoàng C.devonianum Bạc lan C.erythrostylum, Phấn hồn lan C. insigne…và nhiều loài cũng không phải là lan đất (địa lan= terrestrial orchids) mà có thể vừa là địa lan vừa là phong lan như Đoản Kiếm lô hội C. aloifolium…’

GS Trình cho biết thêm: …’ Lan, nhất là các loài lan đoản kiếm xứ ngoài, du nhập vào Trung Hoa, thường được cổ nhân Tàu dành riêng cho giơi quí phái công hầu, vương giả thưởng thức, xem chúng như một tượng trưng cho đức hạnh, đạo đức. Ai tiếp nhận một giò lan biếu tặng này là một danh dự, tỏ bày sự kính trọng, tinh thần bằng hữu…’

Ông nhận xét về Cymbidium tại California như sau: …’Tuy cần nhiều mưa và đêm lạnh ở Đông Nam Á, nơi lan đoản kiếm xuất xứ, lan Cymbidium rất được dân Cali ưa trồng, vì dễ trồng khắp nơi, ngoài những vùng đông giá và trồng kiểu nào cũng được, từ trong thùng chậu, nhà kiếng, vườn lợp…treo giỏ hay trên các cành cây cao. Trồng trong nhà, nhất là sau khi đã nở hoa hay ngoài vườn cũng đều tốt cả… Đoản Kiếm rất hoàn mỹ để trang hoàng gia thất hay tô điểm thêm cho sân, giàn trong-patio…’

Hiện nay Cymbidium được lai tạo rất nhiều, từ 50 loài nguyên thủy hiện có đến hàng ngàn chủng lai tạo. Một số nghiên cứu về dược tính của Cymbidium cũng đã được thực hiện.

Tên khoa học và các tên gọi khác: Cymbidium spp họ thực vật Orchidacea
Tên Anh-Mỹ: Boat orchids, gọi tắt thông thường hơn là Cym

Cymbidium phát xuất từ tiếng Hy Lạp: kumbos = lỗ hổng, hang khuyết, để mô tả hình ảnh của môi hoa.
Điều đáng chú ý là tuy chi Cymbidium chỉ có trên 50 loài nguyên thủy phân phối khắp Châu Á (Tại VN, GS Võ văn Chi, trong ‘Sách Tra cứu tên cây cỏ VN’ liệt kê 24 loài, trong đó có C. banaense= Lan Đoản Kiếm Bà Nà hay Lan Thiên Nga chỉ gặp tại VN ). Khoảng 12 loài nguyên thủy được dùng làm cây giống để lai tạo và những chủng lai tạo lại lên đến cả ngàn chủng. Tại Hoa Kỳ, lan Cymbidium trên thị trường đều là lan lai.
Nhiều loài Cymbidium (nhất là tại Hoa Kỳ) được lai tạo đến 7-8 thế hệ, nên việc định danh rất phức tạp. Loài nổi tiếng Cymbidium Great Flower ‘Marylaurencin’ được lai tạo qua 8 thế hệ; từ thế hệ đầu tiên giữa hạt Cymbidium Valley flower X phấn hoa Cymbidium Great Waltz, sau đó được lai tạo tiếp, qua từng thế hệ kế tiếp với nhiều loài nguyên thủy khác kể cả C. insigne, C. lowlanum và C. sinense.


Mô tả thực vật:
Nói chung, lan Cymbidium là loài lan mọc cao với một số lá dài như dải băng và n hững giả hành có vỏ bọc. Cây có thể cao hơn 1m với cành hoa vươn lên trên tán lá ở những giống nguyên thủy, nhưng cành thường ngắn hơn nơi những giống lai tạo. Những cánh hoa, vốn thường mọc thẳng đứng, có thể do quá nặng ở phần đầu nên cong xuống dưới sức nặng của nụ. Mỗi cành có khoảng một tá bông hoa và một số loài có mùi thơm. Một điểm đặc biệt được American Orchid Society ghi nhận là hoa Cymbidium có thể có đủ màu ngoại trừ màu xanh da trời (blue).
Hoa Cymbidium lai có vô số màu sắc và kích cỡ, tươi từ 8 đến 10 tuần, nở hoa quanh năm phù hợp với mọi sở thich của người thưởng ngoạn.

https://cdn.shopify.com/s/files/1/0433/0977/products/imagejpg.jpg?v=1571439025

Theo GS Trình:
…’ Hiện nay, các nhà vườn Cali chỉ bán các Cymbidium lai-hybrids, hoa to màu trắng, hồng, vàng, tím hay xanh lục, hay màu nâu đồng thau. Mọi cây đêu có cổ họng vàng và có vết đỏ đậm ở môi (lip). Các giống hoa to trên 10-12 cm, nhiều cành ở mỗi cây, mỗi cành cả tá hoa, hay nhiều hơn nữa. Các giống mới Cymbidium lùn (hay tiểu muội), kich thước chỉ bằng 1/4 các cây có hoa to, cũng rất được ưa chuộng, vì cây nhỏ, hoa nở bền bỉ và màu hoa đặc sắc hơn’

(Loài lai, lùn đặc sắc nhất là: Cym. Golden Elf ‘Sundust’ lai tạo giữa C. ensifolium X Enid Haupt) hoa màu vàng, rất thơm, được ưa chuộng tại HK, từ California đến Florida. Loài Cymbidium Sweet Dreams (sinense X Nila) hoa vàng chanh, dạng ngôi sao cũng được giới chơi hoa ưa thích).


Một số loài nguyên thủy đáng chú ý:

1- Cymbidium aloifolium: Lan lô hội, Đoản Kiếm lô hội (Aloe-leafed Cymbidium); Mã Lai: Mengkuang munyet; Tàu: Wen ban lan
Phong lan hay địa lan mọc thành bụi dày, giả hành nhỏ hình trái xoan, hơi dẹt, bị che khuất bởi bẹ lá, đường kính cỡ 4 cm. Lá nhiều, mọc đứng hình dải, chóp tròn có 2 thùy. Phiến lá dầy và dai, mọng nước, màu lục sậm có bẹ vàng, dài 0.3-1m, rộng 1.5-5 cm. Hoa có mùi thơm nhẹ. Chùm hoa thưa, dài đến 1-2m; hoa rộng 5 cm. Cánh hoa đỏ nâu, môi thắt vào giữa, trắng có đốm hồng, thùy giữa rộng có mép nhăn. Quả nang 4.5 x 3 cm.
C. aloifolium được xem loài của Á Châu: Ấn Độ, Nepal, Tàu, Thái, Bangladesh, Mã Lai, Indonesia, Việt Nam. Tại VN, cây mọc rất phổ biến trên toàn quốc.
(Theo GS Trình, lan đoản kiếm lô hội có hoa tím, môi trắng vết hồng, tìm thấy ở Hòn Thơm, Côn Sơn và ở bình nguyên đến cao độ 800 m, có chùm rất dài đến 1-2 m, thòng xuống nhưng hoa tương đối nhỏ 4-5 cm ).

2- Cymbidium ensifolium: Lan Thanh Ngọc, Tử Cán; Tàu: Jian lan; Đại Hàn: so ran
Lan đất nhỏ, cao 50-90 cm, mọc thành bụi dày, gôc dạng sợi có rễ dày hình trụ. Có từ 5-12 lá , có những lá tiêu giảm thành bẹ nhọn và những lá có phiến hình dải dài 60-75 cm, rộng 8-15 mm, có mũi ngắn; thon hẹp dài thành một cuống rộng phình ra thành bẹ. Dò hoa dài 25-40 cm, có gốc gần như dẹp, mang 4-8 hoa ở phía ngọn. Hoa thơm, to màu vàng xanh nhạt hay nâu vàng, tâm màu nâu có chấm nâu-đỏ; phiến hoa dẹp, môi hình violon, có bớt đỏ. Quả nang, dài 4-6 cm.
Được xem là loài lan của Đông, Đông Nam Á từ Ấn Độ, Tàu, Nhật, Thái, Lào, Mã Lai. Tại VN, gặp trên các ổ mối tại vùng núi Bắc Việt (Sapa), Kontum, Lâm Đồng, Đà Lạt…

3- Cymbidium lancifolium: Thổ Nhĩ Lan, Lục Lan, Lan kiếm lá giáo
Điạ lan mọc cao 40-60 cm, rễ đường kinh đến 4 mm. Giả hành mọc đứng, cao 6-10 cm, mang xơ của bẹ và 3-4 lá, có cuống dài đến 10 cm. Phiến lá hình bàu dục thuôn dài 7-20 cm, rộng 3-4 cm, có 5 gân. Cụm hoa mọc từ gốc giả hành, ngắn hơn lá. Cành hoa dài 10-30 cm, mang 3-8 hoa có cuống. Phiến hoa dài 3.5 cm, màu lục nhạt, môi có vằn tím hay tía. Quả nang dài 5 cm.
Cây phân bố từ Nepal, sang Nhật, xuống phía Nam tới Đông Nam Á, Indonesia. Tại VN, mọc tại vùng núi Bắc Việt, Lâm Đồng, Đà Lạt…

4- Cymbidium devonianum: Lan Thanh Hoàng, Lan Gấm ngũ hổ.
Được xem là loài lan Cymbidium ‘gốc’ để lai tạo tại Hoa Kỳ, rất phổ biến tại vùng Nam California, có nguồn gốc thiên nhiên từ vùng Đông-Bắc Ấn Độ, Thái Lan. Hoa màu vàng xanh, có vết đỏ.

5- Vài loài Cymbium nổi tiếng tại Việt Nam: Theo lời mô tả của Bùi Xuân Đáng trong bài Phong Lan Đà Lạt:

– Cymbidium dayanum: Lan kiếm bích ngọc hay xích ngọc (Lan Tố Tâm, Đào Liễu)
Lan đất loại nhỏ. Lá hẹp nhỏ và nhọn đầu, dò hoa thòng xuống. Cánh hoa màu trắng, có sọc đỏ thẫm ở giữa. Mùi thơm nhẹ.

– Cymbidium erythrostylum: Lan kiếm Bạch Hồng hay Bạc Lan, Lan đất loại nhỏ, chỉ mọc ờ Việt Nam. Lá ngắn và hẹp. Dò hoa hơi cong mang từ 4-8 hoa màu trắng, môi hoa có sọc đỏ sậm và giữa màu vàng.

– Cymbidium insign: Lan kiếm hồng hay Hồng Lan. Lan đất loại vừa. Dò hoa lên thẳng. Hoa màu trắng hồng, có sọc đậm. Thơm nhẹ.

– Cymbidium lowlanum: Lan kiếm huỳnh hoàng hay Hoàng Lan. Lan đất loại trung bình, dò hoa cong xuống. Hoa màu vàng nhạt, có sọc nâu nhạt; môi viền đỏ xậm.

Nghiên cứu về hoạt chất:
Một số cây trong chi Cymbidium đã được nghiên cứu về dược học, trong đó những cây đã được ghi nhận như:

Cymbidium aloifolium:
Cây chứa hoạt chất loại phenanthrene quinone: Cymbinodin A và những hợp chất phức tạp khác như aloifol I, aloifol II, 6-O-methylkoelonin, batatasin III, coelonin và gigantol (Phytochemistry Số 26-1987 và Số 29-1990).

Cây có thể có hoạt tính chống sưng do các stilbenes. Gigantol có tác dụng gây trở ngại cho việc tái tạo nitric oxide và prostaglandin E2 nơi đại thực bào RAW 264.7, kích ứng bởi các liposaccharides của vi khuẩn, đồng thời cũng ức chế sự tạo COX-2 qua tác dụng gây bất hoạt NF-kappa B (Planta Medica Số 72-2006). Dịch chiết bằng ethanol từ lá, dùng với những liều 200 và 400 mg/kg chuột thử nghiệm gây đau và sưng bằng carrageenin cho thấy chuột giảm được các phản ứng co giật bắp thịt bụng, khối sưng phù thu nhỏ so với chuột đối chứng (Pakistan Journal of Biological Sciences Số 1- 2011)
Thử nghiệm ‘in vitro’ ghi nhận gigantol có hoạt tính trên sự suy thoái thần kinh.

Cymbidium ensifolium:
Cây được nghiên cứu về hoạt tính lợi tiểu. Cymbidine A một monomer loại peptidoglycan (cấu trúc gồm 4 amino acids D-alanin, meso-diaminopimelic acid, D-glutamic acid và L-valine kêt hợp với 2 đường-amino N-acetylglucosamine và 1,6-anhydro-N-acetylmuramic acid) trong cây được ghi nhận là có tác dụng gây hạ huyết áp và lợi tiểu. Cây cũng có gigantol cùng những phenantrenes co hoạt tinh sinh học. (Cymbidine A cũng có trong Cymbidium goeringii)

Cymbidium appendiculatum:
Cây hiện được một số nhà chuyên về lan xếp thành Cremastra appendiculata (Lan Đỗ Quyên)
Trong cây có những hợp chất như militarine, loroglossin, protocatechuic acid, succinic acid, gastrodin, daucosterol và những hợp chất loại phenanthrene, những chất phức tạp như cirrhopetalanthin, flavanthrinin, alkaloid loại pyrrholizidin: cremastrine (Journal of Natural Products Số 68-2005)
Theo Journal of Dermatological Sciences Số 59-2010, các Homoisoflavone trong cây ức chế sự sưng viêm da gây ra do tia UVB nhờ hoạt tính ngăn cản sự tạo lập cyclooxygenase-2 và sự định vị NF-kappaB nơi nhân tế bào.
Cây có chứa một chất chuyển hóa loại chromane làm ngưng sự tái tạo mạng vi mạch nơi võng mạc mắt qua tác động làm chu trình sinh tế bào ngưng lại cùng với sự giảm tạo lập cdc2 (Biochemistry Biology Research Communications Số 362-2007).
Một hợp chất loại lanostan triterpen trong cây có khả năng diệt bào khi thử trên tế bào ung thư vú (người) MCF-7 ở nồng độ IC50 = 3.18 microM (Journal of Asian Natural Products Research Số 10-2008)

Nghiên cứu về mùi thơm của hoa Cymbidium:
Các phân chất thực hiện tại Colegio de Postgraduados, Texoco, Mexico ghi nhận khi chưng cất bằng hơi nước hoa của Cymbidium sp. lấy được tinh dầu chứa đến trên 50 hợp chất.
Trong hoa (25 hợp chất) phần chính là terpineol, linalool (22.9 %), zingiberene, 4-methyl phenol (15. 7 %)
Trong bàu noãn(13 chất), phần chính là borneol, cineol và beta-bisabolene, 2-hexanone.
Trong phần cặn còn lại sau khi chưng cất có khoảng 18 hợp chất, phần chinh là 4-methylphenol, 2-cyclo-hexen-1-ol.
( Journal of Analytical Sciences, Mrthods and Instrumentation Số 3-2013)

https://bienxua.files.wordpress.com/2020/12/b4b3d-laramie-eagle.jpg

Nghiên cứu về Cymbidium Great flower ‘Marie Laurencin’:

Một số nghiên cứu và ứng dụng về loài lai tạo này ghi nhận:
Trong tinh dầu tạo mùi thơm có những glucosides như Marylaurencinoside B, C, D và E và 6 hợp chất phức tạp khác (Journal of Natural Medicine Số 67-2013).
Trong rễ có nhiều hợp chất loại phenanthrene như marylau rencinols A và B, loại phenanthrenedione như ephemerantho quinone và phenanthrene glucoside…Các hợp chất này có những hoạt tinh kháng sinh khi thử trên các vi khuẩn Bacillus subtilis và Klebsiella pneumoniae…và có hoạt tính diệt bào khi thử trên dòng tế bào ung thư HL-60 (human promyelo cytic leukemia)…(Journal of Natural Products Số 27-2012)
Một chế phẩm dùng để trị rụng tóc, làm tóc mọc thêm và làm tóc đen trở lại dùng hoạt chất chính là dịch chiết bằng thanol toàn cây Cymbidium Great Flower Marie Laurencin đã được Công ty Kawano Mericlone Co. LTD ‘đăng ký’ bằng sáng chế tại nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ (Pat CA 2825372 A1). Theo bằng sáng chế này thì tỷ lệ hoạt chất đạt mức tối ưu ở 5-15 % tổng lượng. (Patentscope-WIPO 232)

Thuốc dân gian:
Tại Việt Nam:
– Lan Lô Hội dùng chữa cam-tich nơi trẻ em, tắm cho trẻ em, điều hòa kinh nguyệt nơi phụ nữ. Lá giã nhỏ, ngâm rượu dùng thoa bóp khi bị trật đả, sưng xương khớp, sưng gân.
– Lan Thanh Ngọc dùng nấu nước rửa mắt, làm thuốc lợi tiểu. Rễ dùng trị ho, bổ phổi, đau tức ngực.
– Lan kiếm lá giáo dùng trị ho, sưng khí quản…

Dược học dân gian Tàu dùng Cymbidium ensifolium lảm thuốc. Cây được gọi là Jian lan= Kiến lan, chia thành 3 vị thuốc:
-Jian-lan hua = Kiến lan hoa , được cho là có vị cay, tính bình, tác động vào kinh mạch thuộc Tâm, Tỳ và Phế với tác dụng điều Khí, giải Trung tiêu và minh mục. Dùng trị ho, đau tức ngực, tiêu chảy… Dùng hoa sắc lấy nước uống.
-Jian lan ye = Kiến lan diệp. Vị cay, tính bình; tác động vào Tâm, Tỳ, Phế giúp thanh Nhiệt, ôn Huyết, điều hòa Khí, trừ Thấp, dùng trị ho, ho ra máu, nước tiểu đục, mụn nhọt. Dùng lá tươi từ 15-30 g.
-Jian lan gen = Kiến lan căn, rễ cũng dùng như lá nhưng được xem là ‘mạnh’ hơn khi trị những bệnh đường tiểu. Rễ tươi sắc 15-15 g, uống.

Theo J. Duke trong Mecicinal Plants of China: Nước sắc rễ C. ensifolium dùng chung với cơm rượu (rượu nếp) để trị bệnh bao tử và bệnh phong tình.
C. appendiculata: căn hành dùng giả nát đắp trên mụn nhọt, ung loét và để trị rắn cắn.

Tại Ấn Độ: Cymbidium tenuifolium được dùng chống sưng và trị u nhọt.

Tài liệu sử dụng:
– Medicinal Plants of China, Korea and Japan (Christophe Wiart)
– Cymbidium Orchids (Encyclopedia of Life)
– Medicinal Orchids: An Overview (Ethnobotanical Leaflets 1 3/2009.
– Complete Guide to Orchids (American Orchid Society)
– Từ Điển Cây Thuốc Việt Nam (Võ văn Chi)
– Medicinal Plants of China (J. Duke)
– Oriental Materia Medica (Hong-Yen Hsu)

TranVietHung, 13 tháng Ba 2014#1

Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/lan-%C4%90o%E1%BA%A3n-ki%E1%BA%BFm-cymbidium-hoa-v%C3%A0-thu%E1%BB%91c.64794/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s