Phi cơ phản lực thả bom B-57 và Không quân Việt Nam Cộng Hòa – Trần Lý


Trần Lý

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/a6/B-57B_Canberras_start_engines_at_Da_Nang_c1965.jpg

Phi cơ phản lực đầu tiên xuất hiện trên Chiến trường Nam Việt Nam có lẽ là Phi cơ thả bom hạng nhẹ B-57 (nếu không kể đến một vài loại phi cơ phản lực dùng để huấn luyện)

Từ tháng 5 năm 1963, Phi đội Thám sát 609 của KQ HK đã sử dụng 2 chiếc RB-57 E, đặt căn cứ tại Phi trường Tân Sơn Nhứt (Sài gòn). Hai phi cơ này , cải biến từ các B57-B, được sửa đổi phần mũi để lắp đặt các hệ thống chụp không ảnh loại KA-1 và KA-56. Phi vụ đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện vào ngày 7 tháng 5 năm 1963. Ngay từ tháng 2 năm 1964, các tướng lãnh HK nhất là Tướng Jacob Smart, Chỉ huy trưởng Không lực HK trong Vùng Thái bình dương đã đề nghị đưa vào VN một hoặc hai phi đội chiến đấu cơ B-57, nhưng không được Bộ trưỡng Quốc phòng Mc Namara chấp thuận, viện dẫn những điều khoản cấm đưa phi cơ phản lực vào Việt Nam trong Hiệp định Geneva.

Sau sự-kiện Vịnh Bắc-Việt ngày 2 tháng 8 năm 1964, Hoa Kỳ chính thức đưa các B-57 đến VN, với 2 phi đội từ Căn cứ KQ Clark (Philippines) đến Căn cứ Biên Hòạ Các B-57 này được đặt dười quyền điều hành của SĐ 2 KQHK (tiền thân của Đệ Thất Không lực HK), và các B-57 đã chứng tỏ được hiệu năng trong các phi vụ tấn công oanh tạc các điểm tập trung của Cộng quân tại Nam Việt Nam.

Ngày 1 tháng 11 năm 1964, Cộng quân đã pháo kích vào Phi trường Biên Hòa, gây tổn thất cho 5 chiếc B-57 đậu tại đây cùng với 4 chiếc Skyraider A-1H của KQ VNCH. Mặt khác các phi công HK đã ghi nhận được sự xuất hiện của các phản lực cơ MiG, lầu đầu tiên vào ngày 3 tháng 4 năm 1965 trên không phận Bắc Việt.

Và trước tình hình chiến sự gia tăng, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh KQ VNCH và sau là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ tướng) đã chính thức yêu cầu HK cung cấp cho VNCH những phi cơ phản lực với lý do là lúc đó Bắc Việt, Miên và Thái Lan đều đã có các phản lực cơ (Bắc Việt và Miên có một số MiG 15) và Hiệp định Geneva về giới hạn võ khí trong vùng, trên thực tế không còn hiệu lực nữa.

Trong chuyến viếng thăm Nam Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara vào tháng 7, 1965 các giới chức Hoa Kỳ đã bàn đến việc chuyển giao cho VNCH một số phi cơ phản lực. Tướng Westmoreland trong văn bản của MACV gửi cho SECDEF (ngày 20 tháng 7, 1965) đã đề nghị chuyển cho KQ VNCH một lực lượng tượng trưng 4 chiếc B-57 để tạo thêm uy tín và tăng tinh thần cho KQVN, các phi cơ này sẽ được lấy từ Phi đội Thả bom Mỹ đang đặt tại Đà Nẵng, chỉ cần sơn lại huy hiệu của KQVNCH.

This image has an empty alt attribute; its file name is image.jpeg

Ngày 1 tháng 8 năm 1965, Nhật báo Anh ngữ Saigon Post đã loan tin trên trang nhất :’ KQ VNCH nhận được các Phản lực cơ B-57’ và những thông báo chính thức được loan tải :’ KQ VNCH sắp được nhận các phi cơ phản lực đầu tiên và 4 phản lực cơ loại 2 máy Canberra sắp được Hoa Kỳ chuyển giao cho VNCH’..

Thật ra chương trình tiếp nhận B-57 của KQVN đã được sửa soạn từ tháng 5 năm 1964, chỉ khoảng 1 tháng sau khi các B-57 của KQHK trú đóng tại Nhật được di chuyển về Căn cứ Clark (Philippines). Một thỏa hiệp bất thường giữa hai Chính phủ Việt và Phi đã cho phép đưa 3 sĩ quan KQVN đến huấn luyên tại Căn cứ Clark. Ba sĩ quan này là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Biện và các Đại úy Nguyển văn Tường và Nguyễn văn Long. Công việc huấn luyện do các Huấn luyện viên thuộc các Phi đoàn Oanh tạc số 8 và số 13 của HK thực hiện. Với những kinh nghiệm và khả năng sẵn có của các sĩ quan phi công VN, đang bay các Skyraider, việc chuyển sang điều khiển các B-57 không gặp trở ngại nào đáng kể.

( Theo Tác giả Gman trong Lý Tưởng số 02/2008: ‘ Nhu cầu huấn luyện hoa tiêu B-57 không giống như hoa tiêu khu trục, mà giống như hoa tiêu vận tải..cần đến một phi hành đoàn gồm nhiều người hơn là chỉ có một hoa tiêu, vì có nhiều việc làm mà một hoa tiêu không làm xuể..’ Cũng theo Ông thì từ cuối năm 1964, KQVN đã kết hợp với KQ HK để oanh tạc miền Bắc và khi các B-57 được đưa đến Đà Nẵng để hoạt động ngăn chặn sự xâm nhập qua đường HCM và .’ Khi các đơn vị B-57 này không đủ phi hành đoàn thì KQVN được hỏi đến đế tăng cường một số gồm 4 phi hành đoàn : 4 hoa tiêu và 4 điều hành viên. Do đó mới có việc đề cử các hoa tiêu và điều hành viên sang Clark Field AFB ở Phi để thụ huấn. Một số hoa tiêu khu trục được chọn cùng một số điều hành viên được đề cử từ Liên Phi đoàn vận tải. Nói về bay thả bom là khả năng của ngành khu trục thì không đúng hẳn, vì người thả bom từ B-57 lại là các điều hành viên, còn người lái loại phi cơ có nhiều động cơ phải là chuyên môn của ngành vận tải đã từng tốt nghiệp tại các trường dậy bay phi cơ 2 động cơ chỉ vì ngẫu lực ngang khi bị hỏng một máỵ Nhưng KQVN đã chỉ định toàn hoa tiêu khu trục cho việc huấn luyện này..)

Công cuộc huấn luyện cho 3 phi công kế tiếp có những điểm đặc biệt hơn, vì không như 3 phi công đầu tiên : việc huấn luyện được thực hiện ngay tại Tân Sơn Nhứt thay vì trên đất Phi. Lý do là 3 phi công được tập huấn lần này là Tư lệnh KQVN, Tướng Kỳ; Tham mưu trưởng KQ: Đại tá Nguyễn ngọc Loan và Thiếu tá Vũ thượngVăn, Chỉ huy trưởng TT Hành quân KQ. Vì những lý do công vụ, các vị này không thể vắng mặt và không thể sang Phi để được huấn luyện. KQHK đã dùng những B-57C có hai hệ thống điều khiển độc lập để dùng trong một chương trình huấn luyện kéo dài trong hơn 30 ngày.

Ngày 9 tháng 8 năm 1965, một buổi lễ long trọng đã được tổ chức tại Tân sơn Nhứt. HK chính thức chuyển giao cho VNCH 4 chiếc B-57. Một chiếc đậu sẵn tại Phi trường TSN, với các dấu hiệu của KQVN trên thân và cờ VNCH sơn trên đuôi, trưng bày cùng với các loại bom đạn mà phi cơ có thể mang theo. 3 chiếc khác bay thành đội hình trên không qua khán đài do các phi công gồm Tướng Kỳ (lúc này đang là Thủ tướng) và các Đ/U Tường và Long điều khiển. Tuy nhiên do thời gian cần bay trên B-57 đã bị gián đoạn, các phi công VN trở thành ‘không còn khả năng’ để bay riêng lẻ, nên các phi công Hoa Kỳ huấn luyện viên đã phải cùng bay với các vị này, ngồi trong ghế điều khiển phía sau. Tướng Kỳ bay chung với Huấn luyện viên là Đ/úy Don Nation. Tuy Tướng Kỳ là một phi công tài ba, nhưng vì Ông không thể bay tập dượt trước, nên Đ/úy Nation đã phải lãnh trách nhiệm điều khiển phi cơ khi hạ cánh. Các B-57 đã đáp xuống phi đạo , và các huấn luyện viên đã nhảy khỏi phi cơ nơi đầu phi đạo phía xa và các phi công VN lái phi cơ về phía khán đài để làm lễ bàn giao.

Giai đoạn phản lực của KQ VNCH chính thức bắt đầu. Chương trình tập huấn B-57 đợt thứ hai tại Phi được bắt đầu từ ngày 20 tháng 9 với 6 phi công, 4 điều hành viên, 4 sĩ quan bảo trì cùng 16 chuyên viên cơ khí. Trong chương trình huấn luyện này , vì lý do chính trị nên còn có thêm 2 điều hành viên người Phi theo học, sự kiện này giúp để giải thích lý do Chính phủ Phi cho phép các quân nhân VNCH đến Phi để tập huấn. Mỗi phi công được huấn luyện bay 70 giờ trên B-57 và phải bay ít nhất là 40 phi xuất. Riêng khóa học của các điều hành viên được bắt đầu vào 11 tháng 10,1965 nhằm huấn luyện làm quen vơi các hệ thống điểu khiển dành cho những nhân viên phi hành ngồi ở ghế phía sau.
  Từ 20 tháng 9 năm 1965, các phi công B-57 đã được huấn luyện bổ túc thêm về các kỹ thuật ném bom và oanh kích. Các nhân viên phi hành cũng được tập huấn thêm về kỹ thuật sử dụng các dụng cụ, thiết bị trên phi cơ từ tháng 10, 1965.

Phi đội B-57 của KQVN được đặt danh hiệu là Biệt đội 615, do Thiếu tá Biện chỉ huy. Biệt đội trực thuộc Không đoàn 41 Chiến thuật, đặt căn cứ tại Đà nẵng. (Thật ra đơn vị này không có trong bảng cấp số của KQVN về nhân lực cũng như về vật lực)

Trong giai đoạn đầu, Biệt đội 615 thường bay chung với các phi công HK thuộc các Phi đội thả bom số 8 hoặc số 13 trong các phi vụ hành quân do KQHK kiểm soát. Nhiệm vụ chính của các B-57 là oanh tạc các đoàn xe tiếp tế của CSBV di chuyển trên đường mòn HCM. Mỗi phi vụ oanh tạc thường gồm 6 chiếc B-57, 4 do Hoa Kỳ và 2 do VN thực hiện.

– Một số phi công trong Biệt đội : Thiếu tá Nguyễn ngọc Biện, Th/tá Nguyễn văn Long, Đại úy Nguyễn Hữu Hoài, Đ/úy Lê Xuân Lan, Đ/úy Đàm Thượng Vũ, Đ/úy Phạm văn Tỷ.. Nguyễn Quốc Hưng.. – Một số nhân viên phi hành và điều hành như các Đ/úy Phạm Kim Lân, Tô Tiến Phát, Nguyễn tấn Ngàn, Trần văn Lộc.

Các phi cơ B-57 do KQ VNCH sử dụng thật ra chỉ là những phi cơ ‘cho mượn tạm’, vẫn do HK quản lý và bảo trì..chỉ sơn thêm màu cờ KQVN khi các phi công VN cần đến !

Sau những hăng say lúc ban đầu, các B-57 đã tỏ ra..có lẽ không thích hợp với các phi công VN ? Các nhân viên phi hành VN cho rằng loại phi cơ điều khiển hoàn toàn bằng sức người này đòi hỏi thể lực vượt khỏi sức của người VN (?). Các chương trình huấn luyện kế tiếp gặp những trục trặc, khiến bị chậm trễ và ngừng đọng. Tai nạn đầu tiên của KQVN với B-57 xẩy ra vào tháng Giêng, 1966 trong một phi vụ huấn luyện tại Philippines với Trung Úy Lâm (?) Phi cơ gặp tai nạn khi tập đáp đã bị hư hỏng hoàn toàn đến mức phải phế thải.
  Ngày 23 tháng 2 , 1966, trong một phi vụ oanh tạc : chiếc B-57 do Thiếu tá Biện điều khiển đã gặp nạn, gây tử thương cho chính người điều khiển.

Tác giả Gman ghi lại tai nạn này (trong Lý Tưởng 02/2008) như sau ‘.. Tai nạn này không do khả năng lái máy bay của Anh, cũng không do một lỗi nào về kỹ thuật mà do một số người điều hành công việc tại Phi trường Pleiku. Sau một phi vụ oanh kích trong vùng Pleiku/Kontum vì phi trường Đà nẵng có nhiều mây che phủ nên có lệnh anh về hạ cánh tại Pleiku. Sau khi hạ cánh, anh đậu tại sân đậu vãng lai, gần cạnh đài kiểm soát không lưu phi trường, và Anh tắt máỵ Trước khi Anh rời phi cơ thì đài kiểm soát bắt anh dời phi cơ đậu nơi khác vì còn có một quả bom ngoài cánh chưa được thả..Vì vậy nên chuyên viên bảo trì phi đạo vãng lai tụ tập với nhau lại để đảy phi cơ đi nơi khác. Trong khi đó thì hoa tiêu vẫn còn ngồi trong phòng lái, không biết vì quá gấp rút nên anh chưa rời phi cơ được hay vì anh phải ngồi trong phòng lái để giữ thắng. Nên biết là khi đã tắt máy thì hệ thống thắng không còn đủ áp suất để hoạt động nữa. Đường di chuyển có độ nghiêng không đều nhau thì phi cơ có khuynh hướng chạy về chỗ thấp, nên người đẩy phi cơ phía bên đó không chống đỡ nổị B-57 là một phi cơ rất nặng, trọng lượng lên đến 26,000 lbs,. nên phi cơcứ chạy ra khỏi đường di chuyển và sắp sửa chạy xuống lề cỏ xanh của phi trường, vì thế hoa tiêu phải nhảy khỏi phòng lái và nhẩy xuống đất ở phía trước cánh. Không may cho anh, anh vừa nhảy xuống thì phi cơ lại quẹo thêm về hướng đó nên bánh cán phải trên bụng anh, làm anh bể bọng đái và chết tại chỗ.’

(Tai nạn này được tác già Cà nông 20 ghi lại trong LÝ TƯỞNG SỐ 03/2005 như sau : ..’ ..Sau khi xưng danh là Đương kim Chỉ huy trưởng Căn cứ 92 Không quân chiến thuật, tôi được phép đáp xuống Phi trường Cù Hanh và được thông báo cho biết ở cuối phi đạo 09 có một B-57 đang được ‘parked’ ở đó với 2 quả bom 500 lbs, loại nổ chậm, đã được bấm nút khởi động mà không ra khỏi ‘bomb rack’ được, vì trục trặc kỹ thuật mặc dù phi công, Th/tá Biện đã dùng đũ mọi cách ‘manual release’ và nhào lộn đủ kiểu trên mục tiêu ở Tây Bắc Tuy Hòa và vì cạn nhiên liệu nên không thể bay về Đà Nẵng, phải xin đáp khẩn cấp ở phi trường Pleiku. Phi tuần 2 chiếc B-57, chỉ có chiếc số 1 là bị trục trặc, chiếc số 2 của Đ/úy Đàm Thượng Vũ an toàn nơi bến đậu. Tôi gọi Đại tá Bonneaux, sĩ quan đồng sự M4 của tôi để yêu cầu toán EOD tháo gỡ bom đã khởi động mà chưa nổ, khoảng 20 phút sau Đ/tá Bonneaux báo tin đã tháo gỡ xong và đã cho hủy nơi một khu vực phế thải an toàn. Tôi mời Biện, Vũ, và Ngân xuống phố dùng cơm tối nhưng Biện, do tinh thần trách nhiệm quá cao, đã đề nghị để Anh trở xuống phi đạo đem máy bay vào bến đậu.’

This image has an empty alt attribute; its file name is Martin_B-57B-MA_52-1532_loaned_to_SVNAF_1965.jpg

‘ Chiếc B-57 nằm ở vị thế chúi mủi trên một triền giốc cuối phi đạo 09. Các nhân viên cơ khí trực phi đạo đã mang floodlight ra tận đầu lằn vôi touch down để chiếu sáng khu vực..Biện rời xe jeep, đi bộ xuống giốc và trèo lên cockpit. Chúng tôi đứng ở trên triền giốc nhìn xuống theo dỏi. Sau khi an vị trong phòng lái, Biện đưa tay ra dấu cho cơ phi rút chèn bánh. Phi cơ tụt giốc từ từ đâm thẳng vào con đường xuống suối. Phi cơ không nổ máy, không thể điều khiển, tiếp tục lao xuống giốc nhanh hơn. Tôi trông thấy Biện phóng ra khỏi cockpit và lăn tròn một vòng ra đầu cánh..phi cơ tiếp tục lao xuống đụng vào ụ cát và đứng lại, trong khi đó Biện nằm rên rỉ trên phi đạo..(lý do tai nạn được giải thích lo do thói quen nghề nghiệp : Trước khi lái B-57, Biện là một tay nghề của Skyraider A-1. Ý niệm về thoát nguy khi nhảy khỏi cockpit của A-1 là phải lăn một vòng về phía đầu cánh để tránh bộ phận đáp-landing gear vốn nằm sát sườn thân phi cơ hơi chếch một chút về phía sau ghế lái đè lên và cán chết…Nhưng cấu trúc của bộ chân đáp B-57 lại nằm tít gần đầu cánh, hoàn toàn trái ngược với A-1..Thay vì nhảy khỏi cockpit và nằm yên tại chỗ, ý niệm về A-1 đã khiến Biện lăn thêm vòng lăn định mệnh..) Tôi lo âu ngồi xuống cạnh Biện, chưa kịp hỏi, Biện đã lên tiếng vừa yếu ớt vừa đau đớn :- Lỗi tại tôi, cứ nhớ hoài A-1..Đại ca chi xin một điếu thuốc.

Tôi run tay bật lửa châm điếu Ruby và ghim vào mồm Biện, đồng thời nhìn xuống chân của Biện đã bị gẫy và bọng đái bị chân đáp của B-57 cán ngang, vỡ bể…Chúng tôi cùng nhau cẩn thận bế Biện lên xe cứu thương tức tốc đưa amh đến Quân Y viện của QĐ 2 để cấp cứu. Có 3 BS Quân Y VN đả làm công tác cấp cứu Biện đêm đó. Có tất cả 12 lít máu đã được chuyền. Th/tá Biện mất vào khoàng 2 giờ 30 sáng. ‘

Tai nạn này đã giúp thêm một lý do để Hoa Kỳ thu hồi các B-57 (20 tháng 4 năm 1966). Chương trình B-57 dành cho KQ VNCH đã lặng lẽ chấm dứt. Một số phi công thuộc Biệt đội B-57 đã được chuyển sang xuyên huấn về F-5 như Các Đ/úy Lê Xuân Lan, Nguyễn Hữu Hoài và Tr/úy Đàm thượng Vũ.

Trần Lý

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1245853461&first=1080&last=1139

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s