Thiết giáp QLVNCH (Kỵ Binh Phù Đổng) Tổ chức 1970-1975 – Trần Lý

                                                       Trần Lý

Năm 1970 :

Lực lượng Thiết giáp tại các Quân Khu được tổ chức thành các Lữ đoàn Kỵ Binh và đánh số theo Quân Khu nơi trực thuộc. Chỉ huy Lữ đoàn được gọi là “Tư lệnh”

  • Lữ đoàn 4 Kỵ binh được thành lập đầu tiên tại Cẩn Thơ; sau đó Lữ đoàn 1 Kỵ binh tại Đà Nẵng, rồi Lữ đoàn 3 tại Biên Hòa và sau cùng Lữ đoàn 2 tại Pleiku (1971)

Năm 1971 :

   Thiết đoàn 19 được thành lập tại Pleiku

   Đến cuối năm 1971 : Lực lượng Thiết giáp có 11 Thiết đoàn

   Một số xe thiết giáp M-42 A-1 Dusters được Hoa Kỳ cung cấp cho Thiết giáp VNCH đề thành lập các Tiểu đoàn thiết giáp phòng không. Thêm vào đó còn có các xe vận tải GMC được trang bị Hệ thống đại liên 4 nòng M-55. Tuy mang danh nghĩa phòng không nhưng các M-42 được VNCH dùng như các xe bảo vệ căn cứ và yểm trợ hành quân

   M-42 Dusters là thiết giáp dùng khung-sườn căn bản , sửa đổi pháo tháp của M-41  thay đại bác 76 ly bằng giàn đại bác đôi 40 ly Bofors) (Xin xem các chi tiết trong phần Chiến cụ Thiết giáp)

                                Hình      M-42 A-1 Dusters (đầu bài)

   Tháng 7-1971 Hoa Kỳ cung cấp cho VNCH loại xe tăng mới M-48 A-3 vả Thiết đoàn 20 được chọn để được huấn luyện và cấp số ban đầu dự trù là 54 xe M-48 A-3. Chương trình huấn luyện được tổ chức tại Căn cứ Ái Tử Quảng Trị.

                (xin đọc về M-48 trong phần Chiến cụ Thiết Giáp)

General Abrams's Thought re: ARVN Units – dòng sông cũ

Hình M-48

Từ 1972  các Thiết đoàn Kỵ binh được tổ chức hơi khác nhau :

– Các Thiết đoàn tại các Vùng 1, 2 và 3 có cấp số cùng tổ chức giống nhau , riêng  tại Vùng 4, các thiết đoàn không có xe tăng..

– Ngoài các Thiết đoàn Chiến Xa 20, 21 và 22 trang bị Xe tăng M-48, mỗi Th/Đ cò 3 Chi đoàn và mỗi Chi đoàn có 17 xe M-48, thêm 3 Xe Chỉ huy (tổng cộng mỗi Thiết đoàn có 54 chiếc M-48)

– Các Thiết đoàn Kỵ binh tại các Vùng 1,2 và 3 (trừ Vùng 4) được trang bị xe tâng M-41 và tổ chức như sau :

    Mỗi Thiết đoàn có 1 Chi đoàn xe tăng  M-41 (17 chiếc) + 2 Chi đoàn Thiết quân vận + Bộ chỉ huy Thiết đoàn.

    Mỗi Chi đoàn Thiết quân vận có 21 xe gồm

  • Chi đội Chỉ huy  : 2 xe M-113
  • 3 Chi đội thiết kỵ, mỗi chi đội có 5 xe M-113
  • 1 Chi đội súng cối 81 : 4 xe M-125

   Tại Bộ Chỉ huy Thiết đoàn còn có thêm :

  • 1 Chi đội Xe phun lửa M-132
  • Một Chi đội Xe thám thính : 6 xe V-100
  • Hai xe Chỉ huy M-557

Hình M-557

Cấp số và Tổ chức Kỵ binh 1973:

  • Thiết đoàn 21 CX được thành lập ngày 28 tháng Giêng 1973 tại Pleiku, trang bị Xe tăng M-48

  Cùng những chiến xa tồn trữ làm lực lượng trừ bị ; Năm 1973 Thiết giáp binh có một lực lượng khoảng 450 xe tăng M-41 và M-48, 200 thiết vận xa M-112 và 450 xe chạy bằng xích các loại khác trong đó có Xe yểm trợ M-88 và M-578, thiết giáp phòng không M-42, và một số xe bọc thép chạy bánh như V-100.

  Riêng Lữ đoàn 3 KB còn được trang bị một số M-113 có gắn Hệ thống chống tăng TOW

Theo Simon Dunstan trong “VietNam Tracks” Thiết Giáp Binh VNCH được phân phối

 như sau (kèm theo năm tổ chức của đơn vị ) ;

  • Vùng 1 Chiến thuật : Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 1 đặt tại Đà Nẵng (1969)

         Th/Đ 4 tại Chu Lai (1956)

         Th/Đ 7 và 11 tại Đông Hà (1965 & 1968)

         Th/Đ 17 tại Hoi An (1969)

         Th/Đ 20 tại Quảng Trị (1969)

  • Vùng 2 CT : Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 2 đặt tại Pleiku (1971)

          Th/Đ 3 tại An Khê (1954)

           Th/Đ 8 tại Ban Mê Thuột (1965)

           Th/Đ 14 tại KonTum (1969)

           Th/Đ 19 tại PleiKu (1871)

           Th/Đ 21 tại Pleiku (1972)

  • Vùng 3 CT : Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 3 đặt tại Biên Hòa(1970)

           Th/Đ 1 tại Đức Hòa (1956)

           Th/Đ 5 tại Xuân Lộc (1963)

           Th/Đ 10 tại Củ Chi (1966)

           Th/Đ 15 và Th/Đ 18 tại Biên Hòa (cà hai năm 1969)

           Th/Đ 22 tại Long Thành (1972)

      Trường Thiết Giáp tại Long Thành

  • Vùng 4CT : Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 4 KB tại Cần Thơ (1969)

            Th/Đ 2 tại Vĩnh Long (1956)

             Th/Đ 6 tại Mỹ Tho (1963)

                        Th/Đ 9 tại Sóc Trăng (1966)

             Th/Đ 12 tại Cần Thơ (1968

             Th/Đ 16 tại Long Xuyên (1969)

Kỵ Binh Lưu Đình Vũ – ĐƯỜNG VÀO MẬT KHU TAM GIÁC SẮT – dòng sông cũ

Hình M-41

Thiết giáp binh QLVNCH đầu năm 1975

A-Tổ chức

  Ngoài Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh và Trường Thiết Giáp..

 (Tư lệnh sau cùng : Tướng Nguyễn văn Toàn ; Trường : Đ tá Huỳnh văn Tám)

     Đầu năm 1975, Lực lượng Thiết giáp VNCH được tổ chức thành 4 Lữ Đoàn : 1, 2, 3 4 Kỵ binh ; mỗi Lữ đoàn trực thuộc mỗi Quân đoàn/Vùng Chiến Thuật.

   Có tổng cộng 21 Thiết đoàn, đánh số từ 1 đến 22 (không có Thiết đoàn 13).Thiết đoàn là đơn vị căn bản của Kỵ binh VNCH

   Các Thiết đoàn trang bị M-41 và M-113 được gọi là Thiết đoàn Kỵ binh (KB) và các Thiết đoàn trang bị M-48 được gọi là Thiết đoàn Chiến xa (CX).

  (có 3 Th đoàn CX  : 20 thuộc Lữ đoàn 1 KB ;  21 thuộc LĐ 2 KB; và 22 thuộc LĐ 3KB)

Phân phối các Thiết đoàn :

  Theo bảng cấp số tổ chức TG của Bộ TTM,  các Thiết đoàn được phân phối cho Lữ đoàn tùy nhu cầu chiến trường :

  • Lữ đoàn 1 KB, thuộc Quân đoàn 1 có 5 Thiết đoàn , mỗi SĐBB có 1 Th đoàn

Th/Đ 7 KB (SĐ1); Th/Đ 4 KB (SĐ2);  Th/Đ 11 KB (SĐ3)

Th/Đ 17 KB và Th/Đ 20 CX trực thuộc Lữ đoàn và làm trừ bị cho Quân đoàn.

  • Lữ đoàn 2 KB, thuộc Quân đoàn 2 có 5 Thiết đoàn :

Th/ Đ 14 KB (SĐ22) và Th/Đ 8 (SĐ23)

Các Th/Đ 3 KB ; 19 KB và 21 CX thuộc Lữ đoàn 2 và làm trừ bị cho Q đoàn

  • Lữ đoàn 3 KB , thuộc QĐ 3 có 6 Thiết đoàn :

Th/Đ 1 KB (SĐ5) ; Th/Đ 5 KB (SĐ18) ; Th/Đ 10 KB (SĐ25)

Các Th/Đ 15 KB; 18 KB; và 22 CX thuộc Lữ đoàn 3, trừ bị cho QĐ

  • Lữ đoàn 4 KB, thuộc QĐ4 có 5 Thiết đoàn :

Th/Đ 6 KB (SĐ7);Th/Đ 2 (SĐ9) ; Th/Đ 9 (SĐ21)

Các Th/Đ 12 KB và 16 KB thuộc Lữ đoàn 4 và dùng làm trừ bị cho QĐ

Riêng tại Quân đoàn 3, lực lượng thiết giáp có một tổ chức đặc biệt gọi là Lực lượng Xung Kích Quân Đoàn 3 dùng làm trừ bị cho Quân đoàn..(xem phần riêng)

B- Trang bị :

Trang bị của các Thiết đoàn , tuy phần lớn theo bảng cấp số chung nhưng cũng có những trường hợp khác biết, có thể thêm những chiến cụ tùy tình hình chiến trường :

  • Các Thiết đoàn KB được trang bị chung với tiêu chuẩn : Mỗi Thiết đoàn KB cò 1 Chi đoàn xe tăng M-41 và 2 Chi đoàn Thiết vận xa M-113. Các Chi đoàn M-113 được gọi là Chi đoàn Thiết kỵ

Các Thiết đoàn thuộc Vùng 4 : không có M-41 (vì vùng sình lầy) , nên có 3 Chi đoàn M-113

Các Thiết đoàn CX trang bị xe tăng M-48 (Mỗi Th/Đ có 54 xe )

  • Mội Thiết đoàn KB có một Chi đội súng cối 106 ly (hay Chi đội 4.2 inch) (Xe M-548, xem phần Chiếc cụ)
  • Ngoài ra, mỗi Chi đoàn Thiết kỵ (Chi đoàn M-113) còn được trang bị thêm 3 đại bác không giật 106 ly và có một chi đội súng cối 81 ly.

C- Lực lượng Xung kích Quân đoàn 3 :

   Lực lượng ‘đặc nhiệm’ này được tổ chức theo sáng kiến của Tướng Đổ Cao Trí khi làm Tư lệnh Quân đoàn 3, thành lập từ tháng 4 năm 1970; bị Tướng Nguyễn Văn Minh giải tán , sau khi thay Tướng Trí (tử nạn trực thăng, tháng 2/1971) và được tái lập do Tướng Phạm Quốc Thuần..

     Lực lượng do Tướng Trần Quang Khôi chỉ huy.

Theo Ông Khôi, tổ chức của LLXKQĐ3 được tổ chức như sau :

  • Giai đoạn Tướng Trí :

   Tướng Trí dùng lực lượng Thiết giáp của các Thiết đoàn 1 và 18 phối hợp với các Tiểu đoàn BB của SĐ 5 và BĐQ (các TĐ 73, 31, 34 và 36) cùng các đơn vị Pháo binh và Công binh chiến đấu (CBCĐ), tổ chức thành 3 Chiến đoàn dùng trong Cuộc Hành quân Toàn thắng tấn công vào các mật khu CSBV trên đất Miên..

  • Chiến đoàn 1 : Th/Đ 1 KB + các TĐ 1 và 2 / Tr/Đ 7BB và ĐĐ 5 Công binh CĐ
  • Chiến đoàn 9 : (không có Thiết giáp)  : các TĐ 1,2 và 4 Tr/Đ 9 BB ; ĐĐ 9 Trinh sát, TĐ 37 BĐQ; ĐĐ 5/303 CBCĐ: Pháo đội 3A và 3C của TĐ 50 PB-155 ly ; Pháo đội 53/ TĐ 53 PB 105 ly)
  • Chiến đoàn 333 : Th/Đ 18 KB cùng các TĐ 31,34 và 36 BĐQ ; ĐĐ 30 CBCĐ ; Pháo đội C /TĐ 61 PB 105 ly và Pháo đội A  TĐ 46 PB 105 ly
  • Giai đoạn Tướng Thuần

   Sau khi bị giải tán, LLXKQĐ3  được tổ chức lại (khi Tướng Minh mất chức), có thêm Thiết đoàn Chiến xa 22 trang bị xe tăng M-48, Tiểu đoàn 61 PB 105 ly được cơ đông hóa, thêm nhiều xe thiết giáp tiếp liệu

    LL có 3 Th/Đ : 15 KB; 18 KB và 22 CX ; 1 Liên đoàn BĐQ (LĐ 33); 1 Tiểu đoàn Pháo binh (TĐ 46PB) ; 1 Tiểu đoàn Công binh (TĐ 302) cùng các đôn vị yểm trợ và tiếp liệu.

    LL được tổ chức thành 3 Chiến đoàn 315, 318 và 322

   Mỗi Chiến đoàn có 2 Chi đoàn M-113 Thiết Kỵ, 1 Chi đoàn M-48 ( mỗi chi đội CX chỉ có 3 M-48), 1 TĐ BĐQ, 1 Pháo đội 105 và một Trung đội Công binh

    Riêng Pháo đội 105 dùng xe M-548 cải biến để chở theo đại bác 105 cùng di chuyển theo Chiến đoàn)..

     Bộ Chỉ huy LLXK gồm Bộ Chỉ huy Liên đoàn 33 BĐQ, ĐĐ 33 Trinh sát BĐQ và Pháo đội 33 BĐQ, và bổ xung thêm TĐ 46 PB 155 ly ; Bộ chỉ huy TH/Đ 22 CX cùng các đôn vị tiếp vận.. Tất cả đều cơ động..

  • Chiến cụ Thiết giáp bỏ lại khi tan hàng :

Theo ghi nhận của các tài liệu ngoại quốc

Số chiến cụ bỏ lại gồm :

  • 300 xe tăng M-41
  • 250 xe M-48
  • 1635 xe Thiết vận xa M-113
  • Khoảng 1000 xe , chiến xa các loại khác trong đó có
  • 200 xe phun lửa và 100-200 Xe V-100

                              Trần Lý (hiệu đính 2021)

Phụ Lục :  Bảng thống kê số lượng các loại Xe của Thiết Giáp VNCH

                          (1973) theo S. Dunstan

                 (Xin đọc chi tiết của từng loại Chiến Cụ trong phần riêng)

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s