Chiến cụ thiết giáp VNCH Xe tăng  M-48 A-3 Patton – Trần Lý

Trần Lý

         Xe tăng M-48 A-3 là loại xe tăng hạng trung và mạnh nhất được Binh chủng Thiết giáp Quân lực VNCH sử dụng. Các xe tăng này dược Hoa Kỳ chuyển giao, gốc từ các Xe của các đơn vị chiến đấu HK để lại khi rút quân theo Hiệp định Paris

Khi cuộc chiến tranh Triều tiên bùng nổ năm 1950,Quân đội Hoa Kỳ không có những xe tăng loại trung bình và để kịp thời ứng phó với tình hình , các cơ xưởng sản xuất vũ khí Mỹ đã tạm dùng pháo tháp của các xe tăng hạng trung T-43 đem lắp đặt trên sườn xe M-46 A-1 để làm ra Xe tăng M-47, loại  xe này được chế tạo khoảng 8000 xe.. M-47 sau đó tuy không còn dùng trong Quân đội Mỹ nhưng vẫn tiếp tục được các quốc gia đồng minh của Mỹ như Ý, Hy lạp, Tây ban Nha..sử dụng

   Ngay từ 1951, Mỹ đã nghiên cứu chế tạo loại xe tăng cỡ trung mới : trang bị đại bác 90 ly, đặt ký hiệu T-48 và Bộ Quốc Phòng Mỹ đã cho đặt hàng ngay khi mẫu thiết kế chưa hoàn tất..

   Đến tháng 7 năm 1952, những mẫu xe đầu tiên mới được xuất xưởng Delaware Tank Plant của Công ty Chrysler và được đặt tên là Patton.

   Do ở tiến trình thiết kế và chế tạo quá cấp bách, loạt xe M-48 đầu tiên có rất nhiều khuyết điểm cần sửa đổi như xe hay hư hỏng, khó sửa chữa tại chỗ, phải trả về xưởng bảo trì; tầm hoạt động quá giới hạn, chỉ ở mức 70 miles (113 km).

            Các loại xe cải tiến tiếp tục ra đời : M-48 A-1; A-2 và M-48 A-3..

M-48 A-3 có rất nhiều thay đổi so với M-48 ban đầu. máy xe đổi thành Teledyne Continental AVDS-1790-2A chạy bằng diesel; tầm hoạt động tăng đến 228 miles hay 463 km. Các loại M-48 tiếp tục được sản xuất cho đến 1959 và con số chế tạo lên đến 11,700 chiếc. Sau đó ngưng lại và  chuyển sang việc chế tạo xe tăng M-60 dựa theo thiết kế căn bản của M-48.

Tất cả các xe tăng M-48 từ M-48 nguyên thủy đến M-48 A-3 đều trang bị đại bác 90 ly, cùng 1 đại liên 7 ly 62 gắn đồng trục trong pháo tháp; có thêm 1 đại liên 12 ly 7 gắn bên ngoài, ngay trước cửa nóc mở ra của trưởng xa.

   Riêng loại M-48 A-5 , được thiết kế vào khoảng 1074-75 đã thay đại bác 90 bằng đại bác 105 ly M-68 (từ 1975, khoảng 2000 xe được cải biến thành M-48 A-5 và dùng tại Nam Hàn.) Tại Âu châu, Đức cũng cài biến các M-48 A-2 sang thành M-48 A2GA2 trang bị đại bác 105 ly của Anh (loại L7A3), gắn thêm thiết bị hồng ngoại, hệ thống phun khói mù và các hệ thống điều chỉnh tác xạ mới hôn

    Một số thiết bị của M-48 được dùng trong các chiến xa khác như M-48 ARV, xe chở pháo tự hành M-53 và M-55.

   Khung sườn của M-48 được dùng thiết kế các xe như xe phun lửa M-67..xe đặt cầu M-48 AVLB

   Xe do 4 nhân viên điều hành : Tài xế ngồi phía trước, ở giữa;  Trưởng xa và xạ thủ ngồi bên phải của pháo tháp ; Trợ thủ (nạp đạn) ngồi bên trái .

   Đại bác 90 ly có thể quay tròn 360 độ; nâng cao + 19 độ và hạ thấp -9 độ

Vài chi tiết kỹ thuật :

        Các xe cải biến tử M-48 , dùng tại chiến trường Việt Nam :AVLB  

Xe tăng M-48 A-3 và Thiết giáp QL VNCH

Theo số liệu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ : VNCH nhận tổng cộng 343 xe M-48

Số lượng phân phối như sau : 1971 (54 xe); Tháng 5-1972 (120 xe) ;Tháng 10-1972 (72 xe); Tháng 11-1972 (59 xe) và từ 1-1973 đến 7-1974 (16 xe )

  Thiết đoàn chiến xa đầu tiên của Thiết giáp VNCH trang bị xe tăng M-48 A-3 là Thiết đoàn 20 thành lập năm 1971 tại Quảng Trị. Thiết đoàn nhận 54 xe từ các đơn vị Hoa Kỳ rút quân về nước (không có các xe AVLB). Th đoàn do Đ/tá Nguyễn Hữu Lý chỉ huy.

   Thiết đoàn 20 Chiến xa gồm 3 Chi đoàn, mỗi chi đoàn có 18 chiếc M-48; Chi đoàn Chỉ huy có 3 xe. Thiết đoàn trực thuộc Lữ đoàn 1 Kỵ binh.

   Ngày 30 tháng Ba 1972, quân BV  gồm 3 SĐ BB và 2 Trung đoàn Thiết giáp vượt vùng Phi quân sư, tấn công Quảng Trị. Các tiền đồn của VNCH bị tràn ngập nhanh chóng. Các Thiết đoàn 7 và 11 TQV yểm trợ cho Lữ đoàn 147 TQLC chống trả quanh Đông Hà và bờ phía Nam sông Cam Lộ và sau đó Thiết đoàn 20 xung trận ngăn cản quân BV.

     Ngày 2 tháng Tư, một Chi đoàn của Thiết đoàn 20 đã đối đầu vối một đoàn xe tăng BV tại vùng phía Tây Đông Hà, phá hủy 2 tăng T-54 vả 9 xe tăng lội nước Trung cộng Type 63 và không bị thiệt hại nào.

    Sáng 2 tháng 4, phi cô quan sát của Hải quân HK tìm thấy một toán chiến xa CSBV di chuyển trong vùng giữa Cam Lộ và Cửa Việt gồm 12 T-54 và 8 PT-76. Hải pháo oanh kích và phá hủy đoàn xe này (3 chiến hạm Mỹ từ ngoài khơi đã bắn khoảng 1400 quà đạn 127 ly vào khu vực.

   Ngày 9 tháng 4, Thiết đoàn 20 , thêm 2 Chi đoàn M-41 của Thiết đoàn 17 đã đương đầu, lần nữa với chiến xa BV, bắn hạ 16 tăng T-54, bắt ‘sống’ một xe T-59 (đang còn nổ máy).Thiết giáp VNCH không tổn thất.

                            Chiếc T-59 bị tịch thu ngày 4 tháng 7 1972

  CSBV tiếp tục tăng viện thêm quân BB và chiến xa vào mặt trận Quảng Trị và để đối phó, Quân đoàn 1 đưa toàn bộ lực lượng của Lữ đoàn 1 Kỵ binh ra tuyến đầu gồm các Thiết Đoàn 4, 11 và 17 phối hợp  cùng Thiết đoàn 20. Thiết đoàn 18 từ Vùng 3 cũng được gửi ra tăng viện, được đưa về Đông Hà.

        M-48 A-3 của Thiết đoàn 20 tại bờ Nam sông Miếu Giang (phía Tây Đông Hà)

   Ngày 23 tháng 4, 1972, CSBV đưa ra sử dụng, lần đầu tiên,  hỏa tiễn chống chiến xa 9M14 Malyutka  (thường gọi tại VN là AT-3 Sagger) : 3 xe M-48 bị phá hủy cùng một số xe quân sự của VNCH bị gây hư hỏng.. Pháo binh BV cũng gây thêm tổn thất cho Thiết giáp VNCH..

    27 tháng 4 , BV lại tấn công vào Đông Hà và lực lượng VNCH bị buộc phải rút lui. Cuộc rút lui tuy không hoảng loạn nhưng do thiếu bộ phận thay thề và tiếp liệu nên một số xe tăng và M-113 bị bỏ lại. Sau 5 ngày rút lui, Lự đoàn 1 Kỵ binh về đến Quảng trị và trụ lại cố thủ, nhưng sau đó Quảbg Trị cũng bị mất và các đôn vị VNCH đành lui thêm về phía Nam. Thiết đoàn 20 bị mất toàn bộ số xe M-48 do trúng đạn CQ, đa số do hỏng máy, hết nhiên liệu, và bị cắt đường rút do cầu bị hủy hoại..

    Lữ đoàn 1 Kỵ binh được tái tổ chức và tái trang bị.

Đầu tháng 9, Quân VNCH tổ chức phản công tái chiếm Quảng Trị phối hợp lực lượng của các Thiết đoàn 11, 17, 18 và Thiết đoàn 20 (mới tổ chức lại) , có thêm Tiểu đoàn chiến xa của TQLC  trang bị các thũy xa bọc thép LVTP-5 và M-113..

                      Quảng Trị được tái chiếm ngày 16 tháng 9, 1972.

                     M-48 A-3 đóng quân dọc Quốc lộ 9  (10-13 tháng 4-1972)

Sau Hiệp định Paris (28-1-1973)

  Thiết giáp VNCH có thêm Thiết đoàn 21 chiến xa M-48 lập tại Pleiku. Thiết đoàn này tan rã trong cuộc rút quân trên Liên Tịnh lộ 7-B cùng toàn bộ Lữ đoàn 2 Kỵ binh, mất hơn 300 chiến xa đủ loại..

   Lữ đoàn 1, sau khi được lệnh cố thủ Huế, lại có lệnh rút theo Cửa Thuận An và tan rã

 khi mất Huế và Đà Nẵng (30 tháng 3) cùng 138 chiến xa.. bỏ lại

    Thiết đoàn 22 Chiến xa, thuộc Lực lượng xung Kích Quân đoàn 3, chiến đấu đến khi có lệnh buông súng của ông Dương văn Minh

      (Xin xem chi tiết về các trận đánh của Thiết đoàn 20 trong phần Chiến sử )

                                                                  Trần Lý

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s