Cây Bồ đề : biểu tượng cho Giác ngộ – Bùi Huyền Trân

Bùi Huyền Trân

Bodhi Tree 2022 in Bodh Gaya, Bihar, India

Cây Bồ đề

  Từ phương trời xa, một Vị Thân hữu vừa chuyển cho Huyền Trân  bài : “Thiều” của Tác giả Tố Thiều Lan, một bài viết thật đặc biệt : Nhìn Phật giáo qua Vật lý Quantum.. rất thâm sâu.. Đặc biệt hơn là câu kết luận :

“Rien ne se perd , Rien ne se crée..Tout se Transforme “ (LaVoisier)

   Trong bài có nói về Cây Tilleul (Tilia) tại Âu châu mà tác giả ghi tiếng Việt là Cây Bồ đề; sự thật thì Tilleul và Bồ đề là hai cây khác nhau..

   Nhân dịp Phật Đản 2566, Huyền Trân xin gửi tặng Vi Thân Hữu trời Âu cùng quý vị Phật tử bài viết ngắn về Cây Bồ Đề (dựa theo tài liệu cũ, cũng từ một.. thân hữu)

  Trong bài : “Huế, những sắc lá nguyên sơ” (khoahoc.net) Nhà văn Trần Hạ Thấp viết về lá Bồ đề :

   “.. nhà Thiền chuyên giải trừ thanh, hương, vị..đem chúng sinh thoát ra khỏi quấy nhiễu của căn trần, phiền não. Bồ đề, không hương hoa và là loài cây từng được bậc Đại Giác chọn làm nơi gần gũi : những ngọn lá kỳ lạ, không khác hình quả tim, mang ấn tượng siêu thoát từ hơn 25 thế kỷ đến nay.. Tâm bồ đề. Sự tôn quý không hiển thị qua hương hoa rực rỡ. Những ngọn lá tượng trưng thanh tịnh và đức từ bi bát ngát..”

Bồ để : biểu tượng tôn giáo

   Danh từ Bodhi (tiếng Phạn), được dịch âm tiếng Việt là Bồ đề, được dịch nghĩa là tỉnh thức, Giác ngộ..

(Bodhi , do gốc budh (thức tỉnh), hàm nghĩa Trí tuệ, Giác ngộ hay Trí tụệ mà Đấng Giác Ngộ, (Đức Phật) đạt được ) (Encyclopaedia of Buddhism -GP Malalasekera)

   Định nghĩa tiếng Anh ghi : “ Budhi is the understanding possessed by a Buddha regarding the true nature of things”  (traditionally translated into English  with the word  Enlightenment)

  • Thời Phật giáo nguyên thủy : Bodhi chỉ trạng thái “chứng được 4 cấp Thánh đạo’

(diệt trừ Vô minh; thông suốt Tứ diệu đế = những sự thật của Bậc Thánh))

       (Tứ diệu đế: Khổ đế; Tập đế; Diệt đế và Đạo đế)

  • Trong Tiểu thừa: Bodhi là chứng được Tứ diệu đế, Thoát khổ.
  • Trong Đại thừa : Bodhi là Trí huệ , nhận thức được Niết bàn (nirvana) và Luân hồi (samsara)”

Bohdi là chứng được trí Bát nhã, nhận ra được Phật tính của chính mình hay của muôn loài,  nhận ra tính Không của thế gian..”

  Đại thừa phân biệt Ba loại bohdi :

  • Giác ngộ cho chính mình (giác ngộ của một vị A-la-hán)
  • Giải thoát cho chúng sinh (giác ngộ của một vị Bồ tát)
  • Giác ngộ hoàn toàn (của một vị Phật)

Bồ để trong Phật giáo :

  Đức Phật Gautama Buddha đã ngộ đạo (enlightenment = Bodhi) khi Ngài tham thiền dưới gốc cây ‘ficus religiosa‘. Vị trí nơi Phật ngộ đạo ngày nay là Bodh Gaya tại Bihar, Ấn Độ Cây (bồ đề = Bodhi tree) nguyên thủy bị phá hủy và được trồng lại nhiều lần..

   Phật giáo Theravada, gốc bồ đề thường là nơi linh thiêng để kính Đức Phật (Không phải mọi cây ficus religiosa đều được gọi là cây Bodhi, chỉ những cây phát xuất từ cây nguyên thủy nơi Phật ngộ đạo mới  được phong tên này)

Cây ficus religiosa , được gọi thành Cây Bồ đề vì được coi như biểu tượng cho chính sự hiện diện của Đức Phật và chứng ngộ Phật quả.

 Cây ‘ficus religiosa’

  • Ngày Bodhi (Bodhi Day )

  Phật giáo Theravada góp chung Ba ngày : Đản sinh, Ngộ đạo và Nhập Niết bàn của Đức Phật thành Ngày Thánh Vesak, ngày thay đổi, thường vào tháng Năm.

   Phật giáo Tây tạng  cũng mừng chung một ngày, nhưng theo lịch Tây tạng : Ngày Saga Dawa Duchen (tương đương với Vesak) , thường vào tháng Sáu

    Phật giáo Đại Thừa (chủ yếu là Tàu, Nhật, Hàn và Việt Nam) mừng Ba ngày trọng đại riêng :

  • Ngày Đản sinh thường vào Mùng Tám tháng Tư âm lịch.
  • Ngày Ngộ Đạo (Bohdi) 8 tháng 12 âm lịch.
  • Ngày Nhập Niết bàn  : 15 tháng Giêng âm lịch.

  Bohdi Day tại Nhật (8 tháng 12), cố định dùng tây lịch; được kỷ niệm lặng lẽ với Thiền tụng, trang trí cây Bồ Đề, trà bánh đơn giản.

   Văn hóa Phật giáo Việt Nam xem danh từ Bồ đề như biểu tượng cho Phật giáo : các cơ sở giáo dục Phật giáo tại Nam Việt Nam: các trường tiểu học và trung học (trước 1975) đều mang tên Trường Bổ Đề.

   Tại Việt Nam, có những địa danh mang tên Bồ Đề, nhưng có thể không liên hệ đến Cây Bồ Đề (biểu tượng Phật giáo?)

  • Thôn Bồ Đề, quận Long Biên (ngoại thành Hà Nội) có chùa Bồ Đề..
  • Xã Bồ Đề, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
  • Làng Bồ Đề (Tư Nghĩa), Mộ Đức (Quảng Ngãi) có Chùa Ông (Già Lam tự) thờ Quan Công (?)
  • Sông Bồ Đề tại Ngọc Hiển Cà Mau (nổi tiếng trong Chiến tranh VN)

Bồ đề trong Ấn giáo :

Ấn giáo gọi cây Bồ Đề là Pipal- Peepal.

Cây được dâng kính Thần Vishnu : biểu tượng cho Tam thần “Trimurti” : Phần rể là Thần Brahmâ; Phần thân, thần Vishnu và Phần lá , Thần Shiva.

  Theo Thần thoại Ấn giáo : Thần Vishnu  được sinh ra dưới một cây Pipal (peepal), và Nhà hiền triết Narada đã được hiện đến trong tim mình, khi đang thiền dưới cây Pipal..

  Thẩn Krishna trong Sách ‘Bhagavad Gita’ phán :  “Ta là cây Pipal trong các loài cây; là Narada trong chư thần khôn ngoan= Deva Rishi).. “

 Sách Kinh Hindu, cây Pipal (Phạn ngữ Plaksa?) là nguồn phát khởi của Sông Sarasvativ, sông này chảy từ bình nước của Thần Brahma, chảy xuống đỉnh Himalaya.

  Các thầy tu Ấn giáo (Sadhus) hiện vẫn tọa thiền dưới gốc Cây thiêng. Các giáo dân đi vòng quanh cây (pradakshina) chiêm nghiệm và cầu nguyện: thường đi 7 vòng mỗi sáng sớm, hát kinh “vriska rajaya namah” hay ‘kính chào Vị Vua các loài cây.

 Pipal- Peepal tree (cây Bồ đề)

Bồ đề: Cây và thuốc

Vài đặc điểm thực vật :

  • Tên khoa học:

Ficus religiosa thuộc họ thực vật Moraceae

  (ficus, tiếng latin của fig, quả của các cây chi ficus; religiosa = tôn giáo, linh thiêng)

      Tên do Carl von Linné đặt cho cây năm 1753.

   Chi ficus có những cây ‘nổi danh’ như Sung ngọt (ficus carica; common fig thường gặp trong Thánh kinh  (Bible của Thiên chúa giáo; Vả (ficus auriculata); Sung lá dâu (ficus sycomorus ; Sycomore); Sung ưu đàm (ficus racemosa), Udumbara, một cây khá quan trọng với Phật Giáo ; Cây Đa (Da) (ficus benghalensis), cùng Chú Cuội Việt?; và Cây Si (ficus benjamina) của các bài thơ, nhạc về yêu..

Ficus religiosa  được xem là có nguồn gốc tại lục địa Ấn độ : Bangladesh, Bhutan, Nepal, Pakistan và Ấn độ bao gồm vùng Assam, Đông Himalaya, xuống đến Thái và Đông Dương..cùng các quốc gia Á châu nhiệt đới, đến cả Iran, Florida và Venezuela.

   Theo sử Tàu ghi lại thì cây (gọi là cây bodhi được các tu sĩ Phật giáo Ấn mang đến Quảng Châu từ thời Tống,  sau đó được trồng tại một Ngôi Chùa  tại Núi Tiantai (Quảng Đông). Đến 1190, Tu sĩ Phật giáo Nhật Eisai , chiết cây về trồng tại Nhật và năm 1901, cây được đưa tiếp sang Taiwan.

Các tên thường gọi

Tên Anh- Mỹ :  Sacred fig ; Bo-tree; Peepul , Peepal

       Pháp : Figuier des pagodes hay Pipal

Ấn độ : Pipal, Peepal , Pippala

       Phạn : asvattha; pippala vriska

  Tại Việt Nam : Bồ đề còn được gọi rõ hơn là Đa bồ đề (vì cây Cánh kiến trắng, Styrax tonkinensis, khác hẳn, cũng được (miền Bắc) gọi là Bồ đề !)

  • Mô tả thực vật

   Bồ đề thuộc loại đại mộc có thể cao đến 30m, thân có đường kính đến 3m, hoàn toàn nhẵn ; vỏ thân màu xám nhạt, có thể bóc rời từng mảnh lớn, có chứa một chất nhựa mủ màu trắng đục. Cây có  thể có những rễ khí sinh , thả dải như cây đa. Lá mọc cách, khi non màu đỏ-hồng nhạt, chuyển sang lục đậm khi tăng trưởng, rất lớn có dạng hình thoi : tam giác hay hình quả tim ở gốc, hầu như tù và đột nhiên có đuôi ở chóp dài 2-3cm. Phiến lá mỏng và giòn, có 6-8 đôi gân : dài 12-18 cm, rộng 7-10 cm; Cuống lá mảnh, dài 5-8 cm. Hoa nhỏ màu đỏ, đơn phái,  xuất hiện vào tháng 2. Quả dạng quả sung, xếp 1-2 quả trên các nhánh có lá ; quả hình cầu, không cuống, đường kính 7-8 mm; màu xanh khi non và khi chín màu đỏ sẫm hay tím sẫm với các chấm đỏ.

   Bồ đề cần tác nhân thụ phấn  : ong Blastophaga quadriceps để tạo quả. Cây cho quả vào các tháng 5-6.

   Cây Bồ đề sống rất lâu, trung bình 900 đến 1500 năm : Tại Thành phố cổ Anuradhaputra – Sri Lanka hiện còn một cây có tên riêng là Jaya Sri Maha Bodhi đã thọ trên 2000 năm (Cây được ghi là do Công chúa Theri Sangamitta, con Vua Asoka, mang về trồng tại đây vào năm 245 BC )

(Xin đọc thêm những điều kỳ diệu của Cây Bohdi nguyên thủy nơi Đức Phật ngộ đạo, những kỳ diệu xảy ra khiến Vua Asoka sau khi ra lệnh phá hủy cây, đâ ra lệnh trồng lại. Cây bị các nhà vua Ấn giáo phá nhiều lần và cũng được trồng lại sau mỗi lần bị hủy ..Năm 1870, cây lại bị chết, Alexander Cunningham đã trồng lại một cây mới , chiết từ cây Bodhi gốc do Sangamitta trồng tại Sri Lanka..

  Xin đọc “L’arbre de la Bohdi” tại :

 http://vajrayana.asso.fr/Francais?TheoriesF/Buddha/Bohdi_tree/Bodhi_tree-F.htm

 Lá Bồ đề non

Lá Bồ đề

Thân Bồ đề

Bông Bồ đề

Trái Bồ đề

Hạt Bồ đề

  • Cây hay Thuốc ?

Ficus religiosa, tại Ấn độ là cây Pipal,được nghiên cứu nhiều về phương diện được học và được ghi trong Chế dược thư Ấn.

  • Thành phần hóa học

Các bộ phận của cây chứa những hoạt chất khác nhau :

  • Lá : có các sterols; tannic acid ; acid amin ; hydrocarbon và alcohol dây thẳng (aliphatic); khoáng chất như calcium, sodium, potassium và phosphorus.
  • Vỏ thân :  có các phenols, tannins, steroids, alkaloids và flavonoids ; beta- sitosteryl-D-glucoside; Vit K ; furanocoumarins (bergapten, bergaptol).
  • Quả có 4.9 % chất đạm , gồm các acid amin căn bản như isoleucine, phenylalanine.. Flavonols như kaempferol, quercetin và myricetin.
  •  Hạt:  phytosterols ; beta-sitosterol cùng glucoside; albuminoids, carbohydrates; chất béo, chất màu; acid amin.

Xin xem chi tiết cùng công thức hóa học của các hoạt chất tại :

https://www.ncbi.hlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3249921/

  • Thuốc dân gian (theo Major Herbs of Ayurveda – Elizabeth Williamson)

   Tại Ấn độ và Pakistan, các bộ phận của cây được dùng để trị một số bệnh thông thường trong dân gian :

  • Vỏ thân và Lá : dùng trị tiêu chảy và kiết lỵ ; Lá cũng dùng trị táo bón.
  • Lá, tán mịn thành bột, trộn với mỡ làm thuốc đắp trị mụn nhọt, sưng  lên hạch như quai bị.
  • Quả, tán thành bột, trị suyễn, thở khò khè.
  • Vỏ thân : Có khả năng làm co da (thu liễm), làm mát, cầm máu, giúp hượt tràng dùng trị tiểu đường (?), tiêu chảy, rối loạn kinh nguyệt; bệnh đường tiểu và đường sinh dục phụ nữ. Nước sắc vỏ thân, thêm mật ong dùng trị lậu mủ. Vỏ thân đốt thành than, hòa nước, uống trị nấc cụt, buồn nôn và ói mửa.
  • Vỏ rễ, phơi khô, tán mịn, trộn mỡ trị bệnh eczema (bệnh chàm), phong lở
  • Nghiên cứu khoa học :

Đa số các nghiên cứu dược học về Cây pipal được thực hiện tại Ấn Độ.

Các hoạt tính dược học được ghi nhận :

  • Khả năng sát trùng :

Chất chiết từ  bằng nước và ethanol diệt được nhiều vi khuẩn ; nấm gây bệnh như candida albicans; chiết bằng các dung môi khác cũng có tác dụng (win xem bảng liệt kê các vi khuẫn trong ‘link’ ghi trên)

  • Trừ giun sán : Dịch chiết từ Vỏ bằng methanol trừ được nhiều loại giun đũa,.và cả sán ký sinh trong ruột người và thú vật.
  • Khả năng chống oxy-hóa và tăng cường Hệ miễn nhiễm (quả và vỏ)
  • Tác dụng làm lành vết thương (lá), có thể làm thành dạng thuốc mỡ
  • Hạ đường trong máu (nước sắc từ vỏ)

Xin đọc thêm chi tiết  :’Ficus religiosa : A beneficial medicinal plant” (Journal of Drugs Delivery & Therapeutics Vol.12. Issue 2-S, Mar-Apr 2022) tại :

https://jddtonline.info/index.php/jddt/article/view/5434

  • Công dụng khác :

   Trồng làm cây ‘trang trí’ tại các công viên , vườn hoa nơi các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Trung Đông, trồng làm cây vệ đường (?) Philippines và Nicaragua trồng tại công viên, ven lộ , trong khi Paraguay trồng tại các khu rừng lá thấp.

    Thái Lan (cây gọi là Pho) trồng phổ biến nhưng khi trồng tại Chùa (Wat), được xem là cây ‘thiêng’, có những cây lâu năm, cao 8m. Cây được khoác ‘cà sa’ màu nghệ quanh thân-gốc, mỗi năm khi có lễ, Phật tử Thái mua ‘mai kam sit’ (cây chống như gậy, nạng..) đặt dưới tàng cây, như một lễ vật, tiền  ‘cúng dường’ được đóng góp cho Chùa..

   Dùng làm ‘chất độn” (fodder) trong chăn nuôi : Lá dùng nuôi voi, lạc đà, dê và trâu-bò, chứa khoảng 10-14 % protein thô, cân bằng về các lượng nitrogen, calcium và phosphorus. Theo Indian Veterinary Journal : Lá chứa khoảng 9% protein, 2.7% chất béo; 68.3% carbohydrate tổng cộng; 15.9% chất xơ . Về khoáng chất 100 gram lá có 2.9 mg calcium, 210 mg phosphorus..

    Gỗ : Gỗ thân màu xám nhạt-trắng, độ cứng trung bình, nặng 480-640 km / mét khối. Gỗ bền chịu độ ẩm và cả khi ngâm nước; ít được dùng trong tiểu thủ công nghiệp, chạm khắc; đôi khi dùng làm ván đóng hộp, thùng, cán dụng cụ nhỏ; Cành phơi khô làm củi đốt.. . Vỏ thân dùng lấy chất chát (tannin), thuộc da,

                                                   Bùi Huyền Trân  (Phật Đản 2566)

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s