Dầu Cù là và Dầu.. bà đẻ ? – Trần Minh Quân

Trần Minh Quân

“Bòn bon sicula, bánh tây sữa hột gà, dầu cù là Mac-Phsu”

    (Đồng dao)

Sau bài “Dầu và Gió?”, TMQ xin gửi đến Quý vị phần tiếp theo.. cũng về Dẩu Gió ?

Xin mời đọc bài “Dầu và Gió” tại :

https://bienxua.wordpress.com/2022/06/17/dau-va-gio-tran-minh-quan/

1- Dầu cù là

  Dầu cù là hay dầu cao, theo định nghĩa của Wikipedia Việt, là một loại cao bôi ngoài da, dạng đặc sệt..có tác dụng làm nóng, chữa cảm cúm..; Thành phần chủ yếu là tinh dầu tùy thuộc công thức riêng của nhà sản xuất..

    Tên ‘dầu cù là’ hiện dùng rộng rãi để chỉ tất cả các loại dầu cao..

Dầu cù là được sử dụng xoa trực tiếp lên da hoặc xông bằng cách pha vào nước nóng.

   Dầu cù là khi chuyển ngữ sang tiếng Anh, thường là balm và tiếng Pháp là baume.

(Danh tử thuốc cao trong Đông dược được định nghĩa như loại thuốc chiết xuất hoạt chất qua dung môi rồi cô đặc; có nhiều dạng như cao lỏng, cao khô.. cao mềm, cao dẻo để dùng uống. Nhưng cao dán và cao thoa dùng ngoài không thuộc nhóm cao này. Cù là thuộc loại cao thoa)

* Dầu cù là Mac – Phsu

   Dầu cù là Mac-Phsu rất quen thuộc với các bà Mẹ Việt Nam và quen đến mức đi vào ‘văn hóa’ đồng dao’..

    Nguồn gốc của Dầu Mac-Phsu đã được Ông ‘phiếm sư’ Song Thao viết khá chi tiết trong bài đã dẫn ở phần “Dầu và Gió”..

– Về tên ‘Cù là ‘

 Ông Song Thao cho biết :..” Cù là, do đọc trại từ Cồ Lồ , là tên của Xứ Miến Điện “(?), bài viết cũng ghi thêm tại Miền Tây Nam (Kiên Giang) Việt Nam có Xóm Cù Là (truyện ngắn của Sơn Nam)..và dầu cù là có nghĩa là dầu của Xứ Miến Điện?

– Về nguồn gốc của dầu cù là Mac Phsu :

  Ông Song Thao kể thêm lai lịch của Bà Mac Phsu, bà có ông chồng là Thong Ong Zan. Ông này biết cách nấu dầu của Hoàng gia Miến điện nhưng lại còn đi học thêm về cách làm dầu tại Singapore! Cùng học nghề còn có một ông Singapore. Thày của hai Ông là BS người Anh Basythin (?). Học nghề xong, ông Singapore ở tại chỗ nấu ‘dầu’ Con cọp (màu vàng cam) còn Ông Zan về Miến nấu dầu,  màu xanh . .

   (Theo đó thì.. Cù là Mac-Phsu và Cao Con Hổ là.. chung một gốc ?; coi vậy mà đâu phải vậy! Xin đọc tiếp.. sẽ rõ?)

 Theo nhà khảo cứu Nguyễn Đức Hiệp (trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển: “The story of Burmese Prince Myingun’ Exile in Saigon”.

  Triều đình Burma, 1878 xảy ra một cuộc biến loại đẫm máu, tranh dành Ngôi vua khi Vua Mindon Min băng hà. Hoàng hậu Hsinbyumashin, toàn quyền khi Vua hấp hối đã ra lệnh giết hết các hoàng tử và công chúa (con của các bà thứ hậu, vương phi khác), có khả năng nối ngôi, để đảm bảo vị thế cho hai người con của Bà là Thái Tử Thibaw và em gái, Công chúa Supayalat..

  Hoàng thái tử Myingun Min, con một thứ hậu, trốn tránh được và sau đó nhờ Người Pháp giúp sống lưu vong tại Sài Gòn.. Ông Myingun có 3 bà vợ, trong đó một bà người Việt. Bà Daw Pyu một trong những người con của Ông Myingun lập gia đình cùng một ông Việt Nam và sau đó chia cách, và có thêm nhiều ông chồng khác..

  Bà Daw Pyu cùng vợ chồng một cô con gái, mở hãng dầu Mac Phsu, dựa theo công thức của Hoàng gia Miến? (Ông Song Thao ghi là dầu Mac Phsu là do Ông Thong Ong Zan sáng chế).

   (Xin đọc chi tiết và hình ảnh về Bà Daw Pyu trong bài “Daw Pyu the Mac Phsu Balm Queen”)

https://leminhkhai.wordpress.com/2012/11/30/daw-pyu-the-mac-psu-balm-queen/

Bà Daw Pyu đứng giữa

Bà Daw Pyu đứng bên phải

Những người phụ nữ làm dầu cù là trong xưởng

  Vẫn theo bài viết của Ông Song Thao:  Ông Thong O Zan giữ một bí mật về tá dược trộn tinh dầu và chỉ truyền lại cho hai cô con gái.. (không nhắc đến Bà.. Công chúa (?) có hình trên nhãn dầu cù là Mac Phsu) Trong hai cô, có một cô tên là Ong Zanno lấy chồng Việt. và Bà Zanno sau đó truyền nghề tiếp cho hai cô con gái (hiện) ở VN;  để rồi hai Bà này.. tái lập Dầu cù là Mac Phsu ngày nay, sau khi Hãng dầu bị CHXHCN Việt Nam dẹp tiệm vào 1975.

      Hiện nay : Dầu cù là Mac Phsu có nhãn hiệu Dầu cù là Con công

Dầu cù là Con công

[Chính sử của Nước Burma ghi: Vị vua cuối cùng của Vương quốc Konbaung (1752 – 1885) là Vua ThibawMin bị người Anh truất ngôi vào (1885) khi Ông đòi độc lập và đưa đi đày tại Ratnagiri một thành phố nhỏ Ấn Độ. Vua Thibaw mất năm 1916. Vua có 4 con gái, Cô công chúa út đòi lấy lại Vương quốc, bị người Anh gọi là ‘phiến loạn’ và đưa đi lưu trú bắt buộc tại một Thành phố nhỏ tận cùng phía Nam Burma năm 1930.. “Đông cung Hoàng tử, có tên ‘Prince George’ bị bắn chết năm 1948 vào Năm Burma được độc lập.. Các hậu duệ của Công chúa thứ ba Myat Phaya Galay hiện còn sống tại Myanmar..]

Ghi thêm :

  Tại Việt Nam: hiện có những chế phẩm cù là giống dạng ‘cù là Mac-Phsu, đựng trong hũ thủy tinh 15 – 50g như Dầu cù là Mentholatum Thái Lan, nhãn Lá bồ đề..; Cù là Thai Tiger.. Tên Dầu cù là Mỹ được dùng cho các sản phẩm: Icy-hot (xem dưới), VapoRub. Mentholatum – Mỹ.

* Dầu ‘cù là’ Con hổ (Con cọp): Baume du Tigre

Tên Tàu (pinyin): hu biao wàn jìn you = Hổ tiêu (tiêu = nhãn) hoàn kim dầu.

    Khác với các lời kể về Cù là Mac Phsu: theo tài liệu chính thức của Công ty Sản xuất ‘Baume du Tigre” thì.. hai loại ‘cù là’ này không liên gì với nhau và cũng không nhắc đến Ông BS Ăng lê Basythin (?).

Dầu thoa dạng ‘pom-mát’ đặc (ungent = ongent) này được bào chế do Thầy thuốc Bắc Aw Chu Kin tại Rangoon Miến Điện năm 1870 và sau đó được cải thiện và thương mại hóa tại Singapore, do hai người con là Aw Boon Haw (Hồ văn Hổ) và Aw Boon Par (Hồ văn Bảo). Dầu xuất hiện trên thị trường từ 1910. Nhãn đầu tiên dựa theo tiếng Hokkien (Hẹ) là  Ban Kin Yu (Thiên lý Kim Dầu) sau đó đổi thành Dầu thoa ‘Con Hổ’  lý do là vì Ông Haw,  tuổi ‘Dần” ( sinh Năm con cọp).

 Từ 1926, dầu thoa ‘Con Hổ’ được chế tạo do Nhà thuốc Vĩnh An đường tại Singapore và do Công ty Haw Par Healthcare phân phối..

Tiger balm rouge

Tiger balm blanc

Lotion (liniment) baume du Tigre

 Dầu cao thoa ‘Con Hổ’ có hai dạng , công thức có khác nhau.

– Dầu-cao đỏ : hoạt chất chính là tinh dầu quế, dùng trị đau và co rút bắp thịt, đau xương khớp.Tinh dầu quế góp phần tạo màu đỏ cho dầu-cao..

– Dầu-cao trắng ; dùng thoa khi nhức đầu, nghẹt mũi và bị côn trùng chích, đốt..

 Công ty Haw Par có thêm Dầu (lỏng) thoa bóp cùng dùng thương hiệu Lotion (liniment) baume du Tigre, hoạt chất chính là salicylate methyl, dùng trị trật đả, sưng .

Công thức:

                             Bảng Công thức các loại Cù là Con Hổ

Baume du Tigre Shop

L’histoire du célèbre Baume du Tigre

   Baume du Tigre: Vaseline, paraffine, camphre 11%, menthol 10%, HE de cajeput 7%; HE de menthe démentholisée 6%, HE de girofle 5%,HE de cannelle de chine 5%, eugenol, cinnamal, limonene, coumarin, linalool; excipients qsp 100%.

* ” Cao” Sao vàng”

Cao Sao vàng, theo Wikipedia Việt là một loại dầu xoa phổ biến tại VN. Cao được Nước VNDCCH (Bắc Việt) nghiên cứu từ 1968 và chỉ bắt đầu sản xuất vào 1969, mục đích là để thay thế cao con Hổ, thông dụng tại miền Bắc từ thời Pháp.. Sau 1975, cao được dùng như hàng hóa trao đổi với Liên xô nhằm cung cấp cho thị trường của những người Việt gốc miền Bắc đang sinh sống tại các quốc gia Khối Cộng Sản tại Đông Âu. Đến 1986, thị trường Nga tạm ngưng (năm cuối này sản lượng được 4 triệu hộp thiếc nhỏ dung lượng 4 gram.. Đến 2014, cao được sản xuất lại và tái xuất sang Nga và được quảng cáo tại Nhật, Hàn và Tàu..

Cao Sao Vàng

  Cao Sao vàng cũng được ghi trị bệnh như các loại ‘dầu cù là’: nhức đầu, sổ mũi, cảm cúm, chóng mặt, say xe.. Bôi vào thái dương, gáy,  hai cánh mũi..

                (Xin xem về các điểm thoa dầu trong bài “Dầu và Gió”)

  Công thức được ghi (khá chi tiết): Trong 4 gram cao có Long não 849mg; Menthol 425mg; Tinh dầu bạc hà 525mg; Tinh dầu tràm 210mg; Tinh dầu hương nhu 130mg; Tinh dầu quế 52mg. Tá dược ghi là sáp ong vàng, dầu paraffin, lanolin, vaselin, paraffin rắn..)

Ghi thêm Trước 1975, tại Việt Nam còn có dầu cù là hiệu Ông Tiên, đựng trong hộp thiếc tròn nhỏ, dầu cao màu trắng đục, trong hộp tròn màu xanh, do Nhà Thuốc Ông Tiên ở Chợ Lớn sản xuất, cũng nổi danh qua những câu đồng dao:

                                 “Dầu cù là hiệu ông Tiên

                                Xức vô chót mũi nổi điên tức thời”

Thái Lan cũng ‘bắt chước’ làm cù là “Con khỉ” dạng hộp thiếc nhỏ (4g).

Dầu cù là “Con Khỉ”   

* Các dạng ‘cù là’ tại Âu-Mỹ

  Cù là, dùng trị đau nhức, được xem là tương đương với danh từ balm hay baume, nhưng nên giới hạn trong analgesic balm với các hoạt chất là salicylate methyl và menthol, vì lip balm, thoa môi chống nứt nẻ do lạnh, khô .. không phải là cù là.

  Thị trường Analgesic balm tại Mỹ rất đa dạng; vì được xếp vào loại ‘chế phẩm ‘ bán tự do nên có rất nhiều nhãn hiệu tùy sự lựa chọn của khách tiêu dùng.

Vài nhãn thường gặp :

– Mentholatum Balm :

   Nhãn hiệu gốc của Công Ty Mỹ The Mentholatum Company (1889), Buffalo, NewYork với sản phẩm ‘Mentholatum Ointment’ pha trộn long não và menthol, sau đó đến 1903 đổi thành menthol trộn petrolatum, phát triển rất mạnh trên toàn quốc  .. Đến 1975, sát nhập vào Công Ty đa quốc Rohto Pharmaceutical Co (Nhật)

   Hiện trên thị trường Mỹ vẫn có bán Mentholatum Balm, Mentholatum ointment. Thành phần chính là Camphor 9% và Menthol 1.3%

Mentholatum

– Icy Hot Balm : 

  Sản phẩm của Sanofi Consumer Healthcare, được quảng cáo là balm thoa trị đau nhức bán chạy nhất nước Mỹ. Thành phẩm chỉ  dùng thoa ngoài da và có nhiều loại, thành phần và  tỷ lệ hoạt chất thay đổi, cần đọc nhãn trước khi dùng.

  Thành phần căn bản gồm menthol 7.6% và methyl salicylate 29%, tá dược gồm parafin và white petrolatum.

   Bán tại Việt Nam với tên “Cù là Mỹ”.

Icy Hot

– Ben Gay:

  Có thể xếp vào loại ‘ cù là.. nhão’ (?) Sản phẩm gốc Pháp, phát minh của BS Jules Bengué, đưa vào Mỹ năm 1898.. tên được ‘Mỹ hóa’ thành Ben-Gay. Lúc đầu do Công Ty Pfizer sản xuất, sau đó do Johnson & Johnson. Dùng thoa ngoài da trị đau nhức bắp thịt.. Sản phẩm cũng có nhiều dạng và có tỷ lệ hoạt chất khác nhau. Dạng ‘gốc’ có 18.3% methyl salicylate  và 16% menthol, cùng camphor (long não).

Ben Gay

* Vài vấn đề khoa học và kỹ thuật về ‘Dầu cù là’ :

Về phương diện ‘dạng thức’ của ‘Cù là’ có khi gọi Balm (cù là cứng) và Salve (cù là.. mềm). Có thể  phân biệt giữa hai dạng do .. thành phần tá dược!

– Cù là.. đặc (như Cao Sao vàng; Cù là Con Hổ..) hay Balm, Baume

Balm được chế tạo để không thấm hết qua da, và có khi dùng riêng cho một vị trí nào đó như lip balm, (chỉ thoa môi).

– Cù là.. mềm , tuy mềm hơn balm nhưng lại cứng và đặc hơn.. pommade, gọi là Salve có khả năng thấm qua da và dễ pha trộn cùng các tinh dầu..

– Nguyên Liệu và cách chế tạo :

Thành phần của các loại dầu ‘Cù là’ gồm hai phần chính: hoạt chất và tá dược.

A- Hoạt chất :

 Tất cả các loại balm đều có chứa tinh dầu bạc hà và menthol; tinh dầu khuynh diệp và tùy nhà sản xuất có thêm các tinh dầu khác như đinh hương, quế.. tràm (cajeput)..

Các dầu cù là trị đau nhức thường có salicylate de methyle và long não (camphor)

Xin ghi sơ lược về dược tính của  vài loại  hoạt chất chính:

– Tinh dầu bạc hà (xin đọc trong bài Dầu gió).

– Salicylate de methyle  (Methyl salicylate), còn gọi là Oil of wintergreen.

 Oil of wintergreen

Huile essentielle de houx, Salicylate de méthyle naturel, antipyrétique, analgésique, pesticide, fongicide, épices |

   Tên hóa học là methyl ester của salicylic acid. Chất lỏng, nhớt, không màu có mùi đặc trưng. Chất này trước đây được trích từ cành và lá của các các cây Betula lenta và Gaultheria procumbens (cây wintergreen) nhưng hiện nay được sản xuất từ  tổng hợp hóa học.. Methyl salicylate có tác dụng chỉ thống, giúp giảm đau và làm tăng lưu thông máu, đỏ da (rubefacient) nên được dùng trong các loại dầu thoa, cao balm, kem thoa trị đau nhức.. Được dùng trong thực phẩm với lượng rất thấp (<0.04%).

– Long não (Camphor)

   Long não là tinh thể trong suốt, dạng sáp có mùi khá mạnh, lấy từ gỗ cây long-não =  camphor laurel (cinnamomum camphora) và lá cây rosemary; hiện được sản xuất từ tổng hợp. Về phương diện dược học, long não được dùng giúp giảm ngứa do côn trùng chích (đốt), khó chịu ngoài da và đau nơi khớp xương. Long não ngấm được qua da và kích thích tận cùng thần kinh mẫn cảm cùng nóng – lạnh nên tạo một cảm giác nóng – ấm nơi thoa (chà xát), nhưng lại tạo cảm giác mát nếu chỉ bôi lên mà không xoa hoặc chà. Dùng liều cao có thể gây ngộ độc..

Dầu long não

– Tinh dầu khuynh diệp (Xin xem phần : Dầu bà.. đẻ)

B- Tá dược (Excipient)

   Phần quan trọng trong việc bào chế ra dạng ‘dầu cù là’. Các Viện bào chế có thể liệt kê ‘thu gọn’ hay toàn bộ nhưng không buộc phải ghi tỷ lệ. Đây là ‘bí mật’ của một nhà sản xuất (như trường hợp bí quyết gia truyền của dầu cù là Mac-Phsu).

   Khoa bào chế galenique của Pháp có chỉ dẫn một số kỹ thuật đề pha chế các baumes dùng trong dược khoa và trong ngành mỹ phẩm.

Tá dược để làm baume (dầu cù là) gồm :

– Chất màu (colorants), thêm vào để tạo.. thẩm mỹ dễ nhìn. Các chất màu có thể là những chất tự nhiên (như củ cải đỏ, gấc.. nghệ) hay màu tổng hợp được các Cơ quan Y tế chấp thuận.

– Chất tạo độ đặc (épaississants): chất quan trọng nhất, giúp tạo thể trạng (consistance) cho baume. Sáp ong (cire d’abeille = bee wax) là chất chính được dùng; Sáp còn giúp da không mất độ ẩm.

  Dùng tỷ lệ cao, sáp giúp cố định một số thành phẩm, tạo độ nhày (viscosity) và tạo độ đặc cần thiết; dùng tỷ lệ thấp, sáp tạo thể trạng cho các nhũ dịch.. (Sáp là thành phần quan trọng trong .. son môi).

– Chất tạo mùi hương (parfum/arome)..

– Chất tạo độ mềm (emollients), thường là những dầu béo.

– Chất làm ẩm (hydratants) giúp giữ nước tạo độ ẩm cho thành phẩm..

– Chất chống oxy hóa giúp bảo vệ các hoạt chất..

   Khi chế tạo balm, các nhà sản xuất tìm các tỉ lệ thích hợp để tạo thể trạng muốn có cho  thành phẩm trong lúc pha trộn các tinh dầu hoạt chất..

Chế dược thư Âu châu (Pharmacopée Européenne) xếp Balm (Baume) vào nhóm các “Systèmes pâteux ou préparations semi – solides” với những quy định rõ ràng về các tá dược được phép sử dụng.

  Trong công nghiệp, tá dược được sử dụng là những hỗn hợp khá phức tạp tùy thuộc vào các tinh dầu dùng làm hoạt chất.

  Balm thuộc loại ‘pommade’ không ưa nước (hydrophobe) hay ưa dầu (lipophile) không hút nước . nên tá dược luôn là

– các chất phó sản dầu hỏa: vaseline, dầu paraffine.

– các dầu thực vật như dầu olive.

– Sáp: sáp ong thiên nhiên hoặc tổng hợp

 Với loại  balm cần có thêm ít nước (giúp hòa tan hoạt chất như menthol) thì tá dược được biến đổi, có thể thêm lanoline, alcohol béo loại alcohol cetostearique hay tá dược tổng hợp..

  Ví dụ của tá dược Ben – gay balm được liệt kê:

“Carbomer, Disodium EDTA, Glyceryl stearate SE, Lanolin, Polysorbate 80. Potassium hydroxide, Stearic acid, Triethanolamine..”

– Biện chứng trị liệu:

  Hiệu ứng tác dụng trị liệu của các loại Dầu cù là không được chú ý để nghiên cứu tuy nhiên có một thử nghiệm về Ben-gay khá lý thú.

  Trong MIT Technology Review (August, 22, 2006) bài ‘The Mystery of Ben-gay’, Tác giả Jennifer Chu ghi nhận;

“Menthol trong Ben-Gay có thể kích khởi một protein thụ thể khi thoa lên da, gây tác động lên hệ thống làm mát – lạnh của cơ thể và giúp chặn cảm giác đau nhức thần kinh kinh – niên. Dưới da có một hệ thống phức tạp và chằng chịt các tế bào thần kinh cảm giác có khả năng cảm nhận các thay đổi do nhiệt độ, va chạm, đè nén.. và chuyển tín hiệu về tủy sống (spinal cord), sau đó chuyển đến óc. Trong nhóm neurons cảm ứng này có protein – thụ thể TRPM8, liên hệ đến phản ứng với nhiệt độ mát – lạnh, lúc chưa quá lạnh do băng đá, và chuyển tín hiệu ‘thoải mái do mát mẻ’ lên óc.. TPRM8 khi bị kích khởi, phóng thích glutamate, một chất chuyển tín hiệu thần kinh về spinal cord, và glutamate giúp chặn các tín hiệu đau từ các neuron cảm giác đau..” (nghiên cứu có thể giúp giải thích tác dụng trị đau khi thoa dầu cù là (có menthol) vào vùng huyệt đạo có nhiều neurons thần kinh cảm giác.. như sau gáy và vùng bụng..?)

Tìm hiểu về cách trị bệnh dân gian khi thoa Dầu cù là?

Cách dùng Dầu cù là, cũng như dầu Gió trong dân gian, rất đơn giản: “Đau đâu .. thoa đó ” Thoa dầu vùng thái dương, hai cánh mũi và sau gáy đã được bàn trong bài Dầu gió và các huyệt đạo liên hệ nhưng còn:

    – Đau đằng bụng .. thoa đằng lưng? hay thoa bụng trị bách chứng?

  Khoa châm cứu và Ấn huyệt ghi một số Huyệt đạo vùng Bụng và Lưng có các ảnh hưởng đến nhiều nơi khác trong cơ thể.

 Vùng bụng  Các bà Mẹ Việt có thói quen thoa dầu cù là vào quanh vùng rốn con khi trẻ khóc và đau bụng. Bụng có những huyệt đạo quan trọng như:

– Huyệt Quan Nguyên (quan = cửa ; nguyên = to lớn).

   Acupressure gọi Huyệt này là “Sea of Energy” (CV6) (Khí hải?) có lợi ích: trị đau vùng bụng dưới do bắp thịt co thắt, trị táo bón, đầy hơi..

     Quan nguyên là “cửa của Nguyên Khí”; Huyệt thuộc Nhâm mạch.

  Huyệt nằm ngay dưới rốn, nên được gọi là ‘âm mạch chi hải’ Vùng quanh mạch  còn gọi là ‘hạ điền’. Thoa và Nhấn vùng huyệt giúp trị đau bụng.

   Sách châm cứu Tàu cho  huyệt Quan Nguyên là nơi nguyên khí được chứa và nguyên khí là năng lượng của sự sống. Huyệt nằm tại vị trí ‘nguyên Âm và nguyên Dương giao nhau”. Trong các truyện kiếm hiệp , huyệt có tên là Đan điền.

Khoa bấm và nhấn huyệt (Acupressure) cho rằng: Thoa bóp khu vực Quan Nguyên giúp đưa Nguyên Khí đi khắp thân thể, giúp tăng Hệ miễn nhiễm, trị bách chứng..

– Huyệt Thiên khu

 Huyệt Thiên khu nằm hai bên rốn, là nơi tiếp nhận nguồn năng lượng sinh khí dối dào nhất.

Thiên Khu thuộc Kinh Vị và cùng nhánh với Xung mạch. Xoa huyệt giúp giảm các cơn đau ở vùng bụng. Bấm huyệt giúp trị đau bụng do tiêu hóa kém không tiêu..

– Huyệt Thủy phân (CV9)

Huyệt thứ 9 của Nhâm mạch, trên rốn. Xoa  huyệt giúp trị đau bụng, tiêu chảy.

  Phối hợp : Xoa dầu cù là vùng bụng, quanh rốn là tác động trên cả ba huyệt Quan nguyên,Thiên Khu và Thủy phân, đều giúp trị đau bụng, tiêu chảy..

Các huyệt đạo quanh rốn

Trần Minh Quân – 6/2022

(Xin đọc tiếp phần 2 : Dầu Bà đẻ (Dầu Khuynh diệp)

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s