Cá Đuối Kampuchea và cá đuối Việt nam – Trần Minh Quân

Trần Minh Quân

Best River Monsters GIFs | Gfycat

Cá đuối khổng lồ Campuchea

   Tin báo chí :

– Thông tấn xã AP :

Ngư dân tại Stung Treng, Campuchia, ngày 13 tháng 6 năm 2022 đã bắt được một con cá đuối ‘khổng lồ, dài 13 feet (đo từ mõm đến chót đuôi) và cân nặng gần 660 lbs. Con cá này được xem là con cá nước ngọt đạt kỷ lục mới ‘lớn nhất’ thế giới (về kích thước).

   Con cá kỷ lục trước đây là một con cá da trơn Mekong catfish (Pangastanodon gigas) đánh bắt tại Thái Lan năm 2005, nặng đến 293 kg ( 646 lbs).

(Sau khi cân, đo và gắn thiết bị điện tử để theo dõi, Tổ chức “Wonders of the Mekong” đã thả lại con cá đuối về lưu vực sông cũ. Ngư dân được.. bồi hoàn theo giá thị trường của cá là 600 USD).

Mongabay:

Có thêm các chi tiết : Cá dài 4m (13 feet), nặng 300 kg (661 lbs)

Kỷ lục này là của  các loài cá nước ngọt sinh sống suốt đi trong sông. Các loài di chuyển giữa các vùng nước mặn và nước ngọt (như salmon, sturgeon..) được xếp loài cá biển (marine fish); kỷ lục của marine fish là một con beluga sturgeon (Huso huso) nặng đến 1500 kg (3.500 lbs)

1- Cá đuối khổng lồ Campuchea

Những chi tiết khoa học:

Tên thường gọi: Giant freshwater stingray; Freshwater whipray.

Tên khoa học: Himantura chaophraya thuộc họ cá Dasyatidae.

Kích thước thường có thể gặp: 600 kg, dài 500cm, ngang của dĩa thân 240cm.

Hình dạng thường được mô tả: dĩa rộng, dẹp có đuôi mỏng và dài..; Mõm nhọn và nhô ra trước. Thân mặt trên màu nâu-xám, mặt dưới trắng nhạt. Mắt nhỏ và 2 mắt cách xa nhau. Đuôi màu đen.

Khu vực phân bố: Lưu vực sông Mekong gồm Cambodia, Lào, Thái và Việt Nam.

     (Ngoài thủy vực Mekong, cá cũng gặp tại Borneo).

Cá thuộc loài  ăn ‘thịt”, thực phẩm là giáp xác không xương sống, nhuyến thể và cá nhỏ..

Theo WWF Greater Mekong:

.. ” Dài bằng cả nửa chiếc xe bus. cá đuối khổng lồ nước ngọt Mekong có lẽ là con cá nước ngọt lớn nhất hiện nay ‘còn bơi lội’ trên thế giới. Với sức nặng trên nửa tấn, cá có thể kéo thuyền bè chạy theo nó và cũng có thể lật úp cả chiếc thuyền..”

   Các nhà khoa học tin rằng loài cá khổng lồ này vẫn giữ nguyên hình dạng không thay đổi qua hàng triệu năm.

   Loài cá này được cho là cư trú tại vùng cửa sông, dưới đáy sâu; sống vùi dưới nơi đáy bùn và cát, nằm yên chờ.. con mồi như ngao, sò, cá nhỏ, dùng một bộ phận cảm ứng (sensor) để tìm ra điện trường của sinh vật dưới nước. Cá rất hiếm khi xuất hiện tại những vùng cư dân, gần các khu vực đô thị. Dân sinh sống dọc sông Mekong cho biết đã nhiều lần thấy loài cá khổng lồ này, có những con bề ngang 4m và hơn nữa..

Cá khổng lồ Campuchea

Các nhà ngư học ước tính cá có thể phát triển bình thường trên 5m và 600kg: Himantura chaophraya là cá lớn nhất trong loài cá đuối (gần 200 loài).

   Cá đẻ trứng, trứng nở trong thân cá (oviviparous), lớn thành con nhỏ trong thân mẹ, to đến 30cm.. mỗi lứa đẻ 1 – 4 con nhỏ; nuôi con trong bụng bằng ‘sữa’ (histotroph = uterine milk)

   Tuy không trực tiếp tấn công ngư dân nhưng cũng có khi gây tai nạn cho người.. quấy rầy cá.. Đuôi có một vòi chích (barb), dài đến 38cm có thể đâm thủng da và đâm thấu xương như một mũi tên, kèm theo nọc độc.

   Tuy kích thước to lớn, nhưng loài cá này chui nấp quá kỹ và các nhà ngư học Supap Monkolprasit & Tyson Roberts mới  chỉ mới ‘phát hiện’ ra chúng vào năm 1990.

   Cá hiện đươc International Union for Conservation of Nature (IUCN) xếp vào loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng (Endangered)

   Trong số các loài cá khổng lồ của Sông Mekong, ngoài loài cá đuối (trên), còn có:

– Mekong giant catfish (Pangasianodon gigas), nặng đến 300kg, dài 2.7m..

Mekong giant catfish

– Giant dog-eating catfish (Pangasius sanitwongsei) 300 kg & 300 cm.

Giant dog-eating catfish

– Giant barb (Catlocarpio siamensis) 300 kg & 300cm.

Giant barb

Bảng ghi 10 loài cá.. lớn nhất thế giới

2-  Cá đuối Việt Nam

   Đa số cá đuối tại Việt Nam là loài cá nước mặn sinh sống dọc ven biển..

Danh mục “Cá biển xuất khẩu” của Bộ Thủy sản VN ghi 3 loài cá đuối có giá trị xuất khẩu gồm: Cá đuối bồng, đuôi vằn; Cá đuối bồng mõm nhọn và Cá đuối quạt.. Tuy nhiên ngư dân Việt cũng đánh bắt được những loại cá đuối khác như cá đuối ó, cá đuối nghệ., cá đuối cát..

  Tháng 4-2018, ngư dân Phan Thiết đã bắt được một con cá đuối bông (hay đốm) chiều dài gần 3m, ngang gần 2m, nặng trên 120kg, trên thân có những đốm nâu. trị giá trên 300 USD.. Loài này ít khi ‘lạc’ vào vùng biển Việt Nam. Cá có đuôi vằn nên còn gọi là Cá đuối bông, roi cọp (tin Viễn Đông Nhật báo 25-04-2018).

    Hình dạng đặc biệt của Cá đuối do sự phát triển vượt mức của các vây ngực để tạo ra thân cá gần như hình thoi hay trám; đồng thời do cách sống vùi nên thân cá, không xương trở thành dẹp.

A- Cá đuối ó: Eagle ray, họ Myliobatidae.

    Nhóm cá đuối luôn bơi di động không nằm bất động vùi mình dưới bùn, cát.

    –  Cá đuối đốm (spotted eagle ray)  ( Aetobatus narinari).

Kích thước có thể 2 – 3m có khi đến 5m, nặng đến 230kg, là một trong những loài cá đuối lớn (chỉ thua cá đuối manta), tuy nhiên cá tươi bán trên thị trường chỉ khoảng 30cm. Thân hình dĩa, đường kính lớn hơn chiều dài cá. Lưng màu nâu – tím và có đốm. Đuôi rất dài, giống như roi ngựa, có 2 – 6 gai ở phần cuối, có nọc độc, dùng tự vệ. Cá có thể phóng cao khỏi mặt nước đến 2m và rơi xuống trở lại làm văng nước rất mạnh.. Sống đơn độc và chỉ tụ thành bầy trong mùa giao phối và lúc thiên di. Loài này di chuyển rất xa; cá mái giao phối với nhiều cá đực; đẻ 4 con sau thời gian mang thai khoảng 1 năm (thụ tinh bên trong bụng cá, và đẻ con khi con trong bụng đủ lớn). Thực phẩm là sò, ốc, nhuyễn thể; dùng mõm dẹp như lưỡi chiếc mai xúc đất (còn gọi là mỏ vịt = duck’s bill), để đào bắt mồi và dùng răng cắn vỡ vỏ sò, ốc. Phân bố tại khắp vùng biển kinh tuyến nhiệt đới và vùng biển ấm 24 – 27 độ C, bao gồm Thái bình dương, Đại tây dương và Ấn độ dương.

Cá đuối đốm trắng (Pacific white-spotted eagle ray)  (A. laticeps), tuy tên gọi ‘pacific’, nhưng đây là nhóm cá đuối bên vùng biển Đông Thái bình Dương từ Baja California xuống đến Peru. Rất giống loài A. ocellatus (xem dưới).

Cá đuối đốm trắng – Pacific white-spotted eagle ray

   Cá đuối đốm Indo = pacific (A. ocellatus), rất nhiều trong khu vực biển Ấn độ – Thái bình dương, trước đây được xếp chung với A. narinari; hình dạng hai loài rất giống nhau, điểm khác biệt là đuôi của A.ocellatus dài hơn và gai chích cũng dài hơn.. Màu của lưng xanh lục đậm / xám có những vùng đen hoàn toàn, nhiều đốm trắng đa dạng….Kích thước tối đa 300cm, trung bình 150 – 160cm; dài 180cm..nặng tối đa 200kg.

Cá đuối đốm Indo = pacific

   B- Cá đuối bồng: Honeycomb stingray, họ Dasyatidae.

Bộ Thủy sản Việt Nam mô tả 2 loài:

– Cá đuối bồng đuôi vằn  (Blue – spotted stingray) Dasyatis kuhlii.

blue_spotted_stingray | Southern Fried Science

Cá đuối bồng đuôi vằn – Blue – spotted stingray

Mô tả theo Bộ Thủy sản: ..”Thân dẹp bằng, hình trám như một dĩa lớn; chiều rộng dĩa thân  (đến 47cm) bằng 1.4 đến 1.5 chiều dài dĩa thân (70cm). Mắt to vừa, hình bầu dục, hơi lồi. Lỗ phun nước rộng, nằm phía sau mắt. Miệng nhỏ, viền môi hình sóng. Râu rất nhỏ và nhọn. Khe mang rộng, có 5 đôi. Không có vây lưng và vây hậu môn; vây bụng nhỏ hình tam giác. Vây ngực rộng. Đuôi nhỏ và dài: chiều dài đuôi bằng 0.5 lần chiều dài toàn thân. Gai đuôi có 2 chiếc, nằm gần nhau, trên gai có răng cưa nhỏ. Nếp da đuôi phía dưới rất phát triển. Thân màu nâu đen, có nhiều chấm tròn màu xanh kích thước không đều, nằm phía trên vây ngực.. HongKong gọi là wong – po; Thái là Pla kaben lai seua.. Mỗi lứa sanh 3 – 7 cá con, cỡ 15 – 30cm khi rời bụng mẹ. Nọc đuôi rất độc, vòi chích dài đến 30cm…

   Tên khoa học của Cá được các nhà ngư học, năm 2008, chuyển sang chi riêng neotrygon và thành Neotrygon kuhlii, còn gọi là Kuhl’s maskray, blue – spotted maskray dựa trên các phân tích DNA. Cá đực sống đến 13 năm, cá mái được 10 năm và là loài cá đuối được nuôi và chưng bày tại các Hải học viện (aquarium). Da được dùng tại các nước À rập và Thổ làm da trống..

– Cá đuối bồng mõm nhọn  (Peake-edge stingray) Dasyatis zugei.

Cá đuối bồng mõm nhọn – Dasyatis zugei.

   “.. Thân dẹp bằng, hình trám như một dĩa lớn; chiều rộng dĩa thân xấp xỉ bằng chiều dài dĩa thân. Mõm nhọn, dài bằng 0.3 lần chiều dài dĩa. Mắt rất nhỏ hình bầu dục, hơi lồi. Miệng nhỏ, viền môi hình sóng; Răng rất nhỏ.. Đuôi rất nhỏ, dài bằng 0.6 lần chiều dài toàn thân.. Lưng màu nâu, bụng màu trắng. Rất nhiều tại vùng biển Mã Lai (tên tại chợ cá là pari – nyiru).

– Cá đuối Himantura uarnak.

Cá đuối Himantura uarnak    

   Chiều ngang tối đa của dĩa chừng 2m;  Lưng có thể nhiều màu khác nhau từ màu cát (Đuối cát?) đến nâu sậm có thể có (hoặc không) những đốm đen. Đặc điểm nhận dạng là đuôi, màu trắng có ít nhất là 30 vạch xanh-đen. Phân bố rộng trong khu vực Thái bình Dương từ Tàu xuống Bắc Úc và tại vùng biển nhiệt đới Ấn độ dương.

    Loài tương cận:  H. imbricata (scaly whipray) lưng có vảy, lưng màu nâu – đỏ lợt, có đốm vàng; Tên gọi tại Campuchia là ‘babel kreum’.

 Himantura imbricata (scaly whipray)

C- Vài loài khác thường gặp tại Việt Nam:

– Cá đuối quạt  (Holland skate) (Raja holandii)

Cá đuối quạt  – Holland skate

    Theo Thủy sản VN: “.. Thân dẹp bằng, hình quạt; chiều rộng dĩa thân bằng 1.4 – 1.5 lần chiều dài dĩa thân. Đầu nhỏ. Mõm dài vừa, mút mõm nhọn. Chiều dài đầu gấp 1.9 – 2.0 lần chiều dài mõm. Khe mang hẹp. Đuôi rất nhỏ: chiều dài lớn hơn phần trước thân; Trên thân có nhiều hàng gai.. Vây ngực rất rộng. Vây bụng chia thành hai lá, hình bàn chân : lá sau to hơn lá trước. Lưng màu nâu vàng có nhiều chấm đen nhỏ. Bụng màu nâu nhạt và cũng có nhiều chấm đen nhỏ.. Kích thước bán tại các chợ cá: 25 – 40cm..”

– Cá đuối bồng ‘đuôi bò’ (Cow – tail stingray) (Pastinachus sephen).

Cá đuối bồng ‘đuôi bò’ (Cow-tail stingray)

   Cá lớn bề ngang dĩa có thể trên 1.8 m, nặng trên 250 kg. Da được ưa chuộng tại Việt Nam để làm ví, dây lưng..

Các loài cá đuối  

Stingrays GIFs - Get the best gif on GIFER

Cá đuối

Vài đặc điểm khoa học:

1- Tai nạn và Ngộ độc

Tai nạn nổi tiếng nhất là vụ Nhà làm phim của Đài Truyền hình Úc Steve Irwin, ngày 4 tháng 9, 2006, đã bị gai cá đuối đâm trúng tim, tử vong, khi bơi quá gần để quay phim. Thế giới và cả Việt Nam vẫn xảy ra các vụ bị gai cá đuối đâm khi giẫm chân lên cá.

Gai đuôi cá và tai nạn..       

Gai gây ra tai nạn Úc

  Những loài gây tai nạn được đề cập trên sách báo Y – Dược Thế giới gồm:

– Cá đuối dơi (Bat ray), Myliobatis californica.

Monterey bay habitats exhibit bat rays GIF sur GIFER - par Hellfury

Cá đuối dơi – Bat ray

– Stingray (Dyasatis spp): loài gây tử vong cho Nhà quay phim Úc là Australia bull – ray.

Australia bull – ray

Gai của bat – ray dài trung bình 10cm (4 inches) và Bullray dài 25 – 30cm.. Gai bat – ray nằm gần sát với phần cuối của thân cá nên khả năng gây hại có phần giới hạn hơn: cần phải giẫm lên thân cá ngay phần cuối thân mới bị đâm..

  Vòi gai (barbs) được bọc bởi những hàng gai dẹp, gọi là vasodentin, là những sụn cứng có sức đâm qua da người vào trong thịt: mặt dưới của gai có 2 khe (groves) chạy theo chiều dọc của gai và có các tế bào chứa nọc độc.. Vasodentin và mô tiết độc tố được bọc trong một lớp biểu bì  (epidermis), sẽ tự rách ra khi vòi gai của cá đâm vào nạn nhân.

     Theo American Family Physician (15 Feb, 2004), Stingray có thể gây những vết thương độc. Độc tố của gai cá đuối có thể bị hủy do nhiệt, thuộc loại protein phức tạp như serotonin, 5′ nucleotidase, phosphodiesterase. Gai, kể cả hạch chứa độc tố, rất khó lấy ra khỏi vết thương, có thể phải cần chụp X quang để xác định vị trí của gai hay phần gai đã gãy và mắc kẹt trong bắp thịt nạn nhân và cũng có khi cần giải phẫu..

   Gai có thể gây sưng, nhức, rất đau, gây ói mửa, tiêu chảy, toát mồ hôi, hạ huyết áp..

2- Nghiên cứu khoa học

– Nọc độc của loài cá đuối nước ngọt (Potamotrygon spp.) là những peptides phức tạp có hoạt tính ly giải casein, gelatin.. trong đó có orpotrin gây co mạch rất nhanh nơi hệ vi-mạch (Peptides Oct, 20, 2006)Chất nhầy của cá đuối nước ngọt chứa nhiều hỗn hợp protein có hoạt tính chống các vi khuẩn như Micrococcus luteus, E. coli và Candida tropicalis.. Đuôi cá đuối có gai calci – hóa, bao bọc bởi các mô liên kết tiết các phân tử hóa chất giúp tự vệ đồng thời bảo trì cho da (Fish and Shellfish Immunology 2019).

Freshwater stingray | Explore Tumblr Posts and Blogs | Tumgir

Cá đuối nước ngọt – Freshwater stingray

– Máu của Atlantic stingray (Dasyatis sabina) có một hỗn hợp loại thromboxane B2, gây tăng vận tốc đông máu..

Atlantic Stingray (Hypanus sabinus)

3- Dinh dưỡng

Tài liệu về giá trị dinh dưỡng của thịt cá đuối không được Y văn  (Âu châu) chú ý.

Một tài liệu ghi (chung): 100 gram phần ăn được (bỏ da) có:

   Calories (110); Protein (17.9g);

   Chất béo (2.9g) (acid béo bão hòa (0.8g); chưa bão hòa mono (1.3g) và poly (1g);

    Khoáng chất: Sodium (67mg), Magnesium (41.7 mg), Sắt (0.7mg);

    Các vitamin : B12 (1.3 mcg); B6 ( 0.3mg) ; Niacin (2.5 mg).

Dược học cổ truyền Việt Nam:

   Dược học cổ truyền Tàu gọi cá đuối là hải diều ngư hay hải dao ngư.

   Thịt cá đuối được xem là có vị ngọt, tính bình, không độc..

Từ điển Động vật & Khoáng vật làm thuốc ở Việt Nam (Võ văn Chi) ghi (trang 74):

  ” Tuệ Tĩnh đã viết trong Nam dược Thần hiệu: Hải dao ngư = cá đuối, vị ngọt mặn, tính bình, hơi độc.Thịt nó chữa được đau âm hộ, bạch trọc, đái dắt; răng nó chữa được sốt rét..”

..” Hải thượng Lãn Ông đã ghi trong Lĩnh nam Bản thảo:

            Hải dao ngư tên là cá đuối /  Hơi độc, vị ngọt, mặn, khí bình.

            Thịt chữa đau âm hộ, bạch trọc khỏi /  Lâm, lậu, chướng, ngược.. cũng mau lành..”

  (cách chữa dân gian khi bị cá đuối chích là dùng ngay gan cá đuối thoa vết chích)

 Món ăn từ Cá đuối:

   Cá đuối được dùng làm thực phẩm tại các nước Á châu, và tương đối giới hạn hơn tại Âu – Mỹ. Cá không có xương, hầu hết chỉ là sụn cứng nên thịt khá ngon, ngọt và bùi.. Phần thịt nơi cánh được đánh giá cao hơn các phần khác; riêng gan được bán ‘riêng’ như đặc sản, gọi là cheeks.

  Cá đuối thường có mùi khai ammoniac, khiến một số người tiêu thụ không chuộng: Nơi những loại cá sụn như cá đuối, cá mập, cơ thể dùng urea trong cơ thể để kiểm soát cân bằng thẩm thấu (trao đổi nước trong cơ thể và bên ngoài, giữ áp suất nước trên thân cá). Khi cá bị đánh bắt và chết urea phân hủy gây mùi khai nhưng khi nấu nướng mùi sẽ bốc hơi..

    Sau khi cá chết, lớp nhầy trên da có thể được tái tạo sau khoảng 10 giờ, giới buôn cá kiểm soát độ tươi bằng cách dùng vải chà trên da cá để xem lớp nhầy..

– Việt Nam

 Tại VN, Cá đuối được dùng dưới các dạng tươi, hun khói và phơi khô. Gan cá đuối được xếp vào loại ‘tuyệt’ ngon..

  Cá tươi thường được nấu canh chua, thêm sả ớt ; canh chua bắp chuối ; đơn giản nhất là ướp muối, hay sả rồi đem đi nướng; xào lăn; lẩu cá đuối cũng là một món ăn hấp dẫn dành cho người vùng ven biển miền Trung và Cà Mau.

Cá đuối xào lăn  

Cá đuối nấu canh chua 

Cá đuối xào sả ớt

Lẩu cá đuối

   Khô cá đuối là phần thịt cá đuối, được xẻ mỏng thành từng miếng, nhúng nước muối, sau đó phơi nắng; thường 2 – 3 nắng hay đến khi thịt cá săn lại. Xương và vây cá cũng được phân loại và phơi để có loại thành phẩm riêng.. Món thông dụng nhất là khô cá đuối nướng chấm nhiều loại nước chấm khác nhau như mắm me; cũng có thể khô xào chua ngọt, rang me, trộn gỏi.. Khách nhậu đánh giá khô cá đuối do dạng thức giòn, sật, pha chút mùi ngai ngái..?

    Khô cá đuối được dân nhậu VN ưa chuộng chỉ sau khô cá thiều, khô cá sặc.

   Các tỉnh ven biển VN đều có các loại khô cá đuối riêng, quảng cáo nhiều nhất là Cà Mau, Nha Trang, Đà Nẵng…

 Khô Cá đuối Việt Nam

– Âu – Mỹ

   Alan Davidson trong “The Oxford Companion to Food” ghi là Cá đuối  được gọi trong Anh ngữ là ray hay skate , tuy nhiên thường thì cá lớn là skate và nhỏ là ray, riêng tại Anh.. cá đuối bán tại chợ cá đều là skate.và đa số các loại quan trọng có tên.. ray như devil’s ray, eagle ray.

   Phần thịt cánh được giới buôn cá gọi tên là ‘joues’ : là phần escalope nạc  và mịn.

Ailes de raie

   Các loài được dùng làm thực phẩm tại Âu châu: Rala clavata (thornback ray) và R. montagus.

Larousse gastronomique thêm những chi tiết: phần thịt của cá khó tiêu hơn, so với các loại cá trắng và gan được người ‘sành ăn’ ưa thích. Tại các nước Âu chấu, cá được bán lóc bỏ da (Anh, Hòa Lan, Belgique) nhưng Pháp lại giữ nguyên da; và khi làm cá nên sơ chế bằng nấu cá sôi trong nước muối pha thêm giấm (1 cup/ 120 ml) rồi hãy lột da và chế biến các món ăn theo các công thức nấu bếp.

– Món ngon tại Pháp: Pháp có nhiều món ăn với cá đuối, từ đơn giản  như

     – nấu chín (raie bouillie) chấm các loại sốt tùy nghi..

     – chiên (raie frite) khi ăn bày thêm ngò (parsley), chanh, ớt..

     – đút lò ( Skate au gratin) với fromage.

Gratin de raie

đến cầu kỳ hơn như Raie au beurre noisette (hạt dẻ); aile de raie aux capres..

Gan cá đuối được chế biến thành croutes au foie de rais; beignets de foie de raies, và lạ nhất là làm paté.

Beignets de foie de raies

Aile de Raie aux Câpres

Aile de raie beurre noisette

Aile de raie frite au beurre de câpre

    Raie au beurre noir là món ăn nổi tiếng nhất về cá đuối của Pháp, công thức và cách làm được ghi trong nhiều sách nấu ăn món Pháp.

Dể dàng nhất có lẽ là recipe của “Martha Stewart Living  August 1002”

    Xin  vào :

https://www.marthastewart.com/344845/skate-au-beurre-noir

Món ăn Skate au beurre noir theo M. Stewart

Tại Belgique, món cá đuối độc đáo nhất là Pickledray (Ingemaakte Rog) của Vùng Flamand: theo truyền thống chỉ ăn vào bữa tea – time, 6 giờ chiều mỗi Chủ Nhật (?). Đây là món cá đuối luộc chín sau khi sơ chế và món gan cá nướng hay Roggellevertjes of Toast hầu như chỉ dành cho dân đánh cá thưởng thức?

 Pickledray – Ingemaakte Rog

Trần Minh Quân 8/2022

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s