Vị thuốc từ Cá Chìa Vôi

Dược Sĩ Trần Việt Hưng

Tại Việt Nam tên cá Chìa Vôi đã được dùng để gọi 2 loại cá khác hẳn nhau về cả hình dạng cũng như nơi sinh sống:
Cá chìa vôi biển, tên chung cho một số loài cá biển thuộc Bộ cá Syngnathiformes, một số được dùng làm dược liệu tại Trung Hoa, Việt Nam và một số quốc gia khác như Nhật, Triều Tiên…, một số khác được dùng làm cá cảnh.
Cá chìa vôi sông hay đúng hơn là cá chìa vôi nước lợ thuộc Bộ cá Perciformes, đây là loài cá được những người rành về ăn uống xếp vào loại ngon nhất, rất hiếm khi được thưởng thức.

https://i0.wp.com/cms.kienthuc.net.vn/zoom/500/uploaded/ngoclinh/2015_07_14/newfolder1/nhung-loai-thuy-quai-dat-do-duoc-gioi-sanh-an-san-lung-hinh-3.jpg

Ảnh minh họa của tuhaoviet.


Cá chìa vôi biển
Cá chìa vôi biển hay Pipefish thuộc họ cá Syngnatidae. Họ cá này gồm 2 họ phụ bao gồm cả cá ngựa (xin đọc bài Cá Ngựa=Hippocampus). Theo sự phân loại của Tổ Chức Fishbase thì bộ cá Syngnatiformes gồm 5 họ khác nhau trong đó 2 họ Syngnathidae và Solenotosmidae là những họ có cá có miệng kéo dài hình ống.
Cá chìa vôi biển phân bô rộng rãi trong các vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và cả tại những vùng biển ấm ở Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, nơi vùng duyên hải Việt Nam, Campuchea, Thái Lan. Chúng sinh sống nơi các vùng biển san hô cạn, nơi thềm biển có nhiều cây cỏ ở độ sâu từ 95m lên đến 50 m, cũng có loài sống nơi vùng nước đục tại cửa sông.
Có khoảng 200 loài cá chìa vôi, đa số dài chừng 35-40 cm. Cá chìa vôi có hình dạng như cá ngựa với thân kéo thẳng, miệng nhỏ. Tên pipefish là do hình dạng của mõm, trông giống như một ống dài, tận cùng bằng một miệng nhỏ và hẹp, mở về phía trên và không có răng. Thân và đuôi cá đều dài, mỏng giống như thân rắn được bao quanh bằng một loạt các vòng từ chất xương, tạo thành như một bộ giáp. Màu sắc thay đổi tùy loài từ nâu nhạt đến các màu sáng hơn, có loài màu vằn và có sọc đen trên vây.
Cá chìa vôi có một vây lưng dùng làm bộ phận chính để di chuyển, không có vây bụng và các vây khác hầu như không có hoặc không phát triển. Các lỗ mang rất nhỏ.
Cá chìa vôi bơi rất kém nơi biển rộng, di động chậm bằng các hoạt động của vây lưng. Một vài loài có đuôi di động như cá ngựa.

Cá chìa vôi, giống như cá ngựa dành vai trò nuôi con cho cá đực. Các hoạt động giao tình giữa cá đực và cá mái thay đổi tùy loài, đồng thời sự ‘chung tình’ giữa cá cũng thay đổi. Thân cá đực có một vùng ‘phát triển’ đặc biệt để mang trứng do cá mái đặt vào. Nơi một số loài, bọc chỉ lả một khoảng da sốp để trứng cá dính vào; nơi một số loài khác có thể là một bọc đúng nghĩa hơn. vị trí của ‘bọc’ cũng thay đổi tùy loài có khi dọc nơi thân hay ở tận cùng phần đuôi như cá ngựa. Có loài còn có một hệ thống nuôi con đặc biệt hơn: ‘đa phu’, một cá mái có thể giao tình với 2 hay 3, 4 cá đực. Cá con ngay sau khi nở đã biết bơi, trứng không có noãn hoàng nên cá con đã biết ăn ngay.
Một số nghiên cứu tại Max Planck Institute for Ornithology tại Đức ghi nhận một sự kiện sinh học đáng chú ý hơn là trứng của cá mái khi đặt vào ‘bọc’ nơi cá đực ‘nhỏ con’ hơn các cá bình thường lại chứa nhiều protein hơn là trứng được đặt vào cá có thân thể trung bình. Các trứng này không to hơn và cũng không chứa noãn hoàng lớn hơn. (Science News February 27, 2010)

Cá chìa vôi biển tại Hoa Kỳ:
Dọc bờ biển Hoa Kỳ, cả hai bên Đại Tây Dương (Đông) và Thái Bình Dương (Tây) có một số loài đáng chú ý như:
Đaị Tây Dương: trong vùng biển North Carolina và New York có loài Northern Pipefish = Syngnathus fuscus. Đây là loài cá thân rất thuôn dài trung bình 5 cm nhưng có thể đến 30 cm, con đực bề dài có thể gấp bề ngang đến 35 lần. Đầu chiếm 1/8 thân. Mõm hình ống, mồm tù không răng. Phần thân có 18-20 đốt xương và phần đuôi có 36-42 đốt. Cá màu lục nhạt, hơi nâu, mặt trên lưng màu olive có những đốm hay vệt xậm hơn, tuy nhiên màu sắc có thể thay đổi để phù hợp với môi trường chung quanh. Cá sống nơi vùng nước cạn giữa rong biển và có thể tại các vùng nước đục nơi cửa sông. Cá kém linh hoạt, có thể bắt bằng tay, di chuyển chậm bằng cách dùng vây lưng, khi bị đuổi bắt có thể tăng thêm vận tốc bơi bằng cách uốn éo thân như kiểu lươn. Cá ăn các sinh vật nhỏ như giáp xác li ti, trứng cá khác, mõm có thể co giãn để nuốt được các sinh vật lớn hơn. Mùa sinh sản kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8 và cá đực nuôi con trong bọc, trứng nở sau 10 ngày. Cá con ở trong bụng cha đến khi dài 8-9 mm và sau khi rời bọc sẽ không trở lại như cá ngựa.

https://static.inaturalist.org/photos/12188715/medium.jpeg?1512338392

Ảnh minh họa của static.inaturalist.

Tại vùng biển Florida và Vịnh Mexico, loài cá chìa vôi thưởng gặp nhất là Chain Pipefish =Syngnathus louisinae, thuộc loại cá chìa vôi mõm dài, thân cò những điểm dạng như chuỗi kim cương dọc thep phần dưới. Cá dài chừng 40 cm, thân màu nâu-olive. Ngoài ra còn có một loài tương cận nhỏ hơn là Dusky pipefish = S. floridae, chỉ dài tối đa 25 cm.
Thái Bình Dương:
– Kelp Pipefish = Syngnathus californiensis, phân bố từ vùng Vịnh San Francisco xuống đến Vịnh Baja. Toàn thân dài 50 cm; phần thân có 17-22 vòng xương, phần đuôi 40-50 vòng. Thân phần trên màu nâu-đỏ, bụng vàng nhạt. Vây lưng có 36-47 tia.
– Bay Pipefish = Syngnathus leptorhynchus, phân bố từ Alaska xuống Baja. Cá dài 30 cm; Phần thân có 17-20 vòng, đuôi 36-46 vòng. Màu thay đổi theo môi trường sống, có thể từ nâu đến xanh lục.

Cá chìa vôi biển tại Việt Nam:
Theo Võ văn Chi tại vùng biển miền Trung Việt Nam, có 3 loài cá chia vôi khác nhau:
Cá chìa vôi thân dài = Solenognathus hardwickii có đặc điểm là thân dài khoảng 37-50 cm, giống như cái chìa vôi, số đôt của vòng xương lên đến 50-60. Đốt xương nơi lưng có 5 cạnh, nơi đuôi có 6 cạnh. Nơi phần đuôi của cá đực có 2 nếp da gờ lên tạo thành bọc để mang và nuôi con.
Cá chìa vôi mõm nhọn = Syngnathus acus .Thân dài 10-20 cm, không có vẩy, chỉ có 20 đến 40 vòng xương. Cá màu vàng-lục, bụng vàng nhạt, trên thân có nhiều vệt màu sậm phân bố không đều. Vây đuôi màu đen, cac vây lưng, vậy ngực và vây hậu môn đều màu vàng nhạt.
Cá chìa vôi mõm to = Trachyrhamphus serratus: Thân dài 20-30 cm, hơi dẹp ở một bên. Đầu nhỏ, mõm tù, mắt to, lồi; đỉnh đầu nhô cao. Vây đuôi nhỏ, màu đen, chỉ có 9 tia; vây lưng có 27-29 tia, có những hàng chấm màu đen; vây ngực vàng nhạt có 5-7 tia. Thân cá màu vàng-xanh, bụng màu vàng nhạt. Toàn thân có 9-14 dải màu xậm nằm vắt ngang.

Vài nghiên cứu dược học về cá chìa vôi:
Chỉ có rất ít nghiên cứu dược học về cá chìa vôi và các nghiên cứu này đều được thực hiện tại Trung Hoa và được công bố trên tạp chí Trung Quốc, Trung Dược Tạp Chí (Zhongguo Zhong Yao Za Zhi):
Nghiên cứu tại ĐH Sơn Đông so sánh các chất keo (glue) như A-giao, cao từ da bò, lộc nhung, cao quy bản (từ mu rùa) với chất keo của Hải Long. Kết quả ghi nhận tất cả đều chứa nhiều acid amin, trong đó cao da bò có hàm lượng acid amin cao nhất, A-giao chứa nhiều acid amin căn bản và keo từ Hải Long không có cystine. Thử nghiệm dược lực học cho thấy lộc nhung và cao quy bản làm tăng lượng hồng cầu; cao miết giáp và Hải Long giúp tăng bạch cầu; lộc nhung có tác dụng chống mỏi mệt. Lộc nhung và hải mã giúp tăng trọng tuyến thymus khi đưa thẳng vào bao tử chuột. (Số 17-1992).
Nghiên cứu tại Trường Dược ĐH Triết Giang, Hàng Châu ghi nhận dịch chiết bằng alcol từ cá chìa vôi Syngnathus acus có các hoạt tính ức chế sự tăng trưỡng của các tế bào ung thư giòng KB, Hela. (Số 28-2001)

Cá chìa vôi trong Dược học cổ truyền:
Dược học cổ truyền Trung Hoa, Việt Nam, Nhật, Triều Tiên dùng cá chìa vôi biển (toàn con) làm thuốc.
Tại Trung Hoa, cá được gọi là Hải Long; Nhật: kairyù; Triều Tiên: haeryong.
Cá chìa vôi tại vùng biển Quảng Đông, Phúc Kiến, Sơn Đông thuộc các loài Solenognathus hardwickii, Syngnathoides biaculea tus và Syngnathus acus.
Hải Long được thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất là vào các tháng Hè-Thu và được chế biến như cá ngựa (hải mã) dưới những dạng như:
Hải long bột: Cá được phơi khô dưới nắng hay sấy khô ở nhiệt độ thấp rồi tán thành bột.
Hải long sao: sao cá với hoạt thạch (talcum) đến khi vàng.
Hải long tẩm rượu: sao với rượu trắng hay tẩm rượu trắng rồi nướng đến dòn.

Theo Đông dược, hải long có vị ngọt, tính ấm, tác động vào các Kinh-Mạch thuộc Thận, có các tác dụng ‘bổ thận’, ‘tráng dương’ được dùng trong nhiều thang thuốc trị liệt dương, đau lưng, bổ thận và giúp phụ nữ dễ sinh nở. Hải long được nấu chung với táo Tàu và nấm Đông Cô để trị các chưng sưng cổ (bướu) và sưng hạch (tràng nhạc). Hải long sắc chung với A-giao để giúp bổ Âm.
Phụ nữ có thai không nên dùng.

Cá chìa vôi sông:
Trên trang mạng Socbaytravel.com có một bài viết khá lý thú về sự kiện du lịch: ‘Cá chìa vôi, đặc sản Cần Giờ’. Bài víết ghi lại như sau:
‘ Cá chìa vôi là một loại cá hiếm, chúng chỉ sống ở vùng ngã ba cửa biển. Ở Nam Bộ, cá chìa vôi xuất hiện quanh nămtại ngã ba sông Đồng Chanh, Cần Giờ. Chúng sống ở độ nước sâu, thích tịnh lặng, ăn mồi tạp.. Đánh bắt cá chìa vôi bằng lươi không hiệu quả bởi lưới phải thả sâu dưới 3m nước, mật độ cá lại thưa thớt. Hiện tại việc đánh băt chính là giăng câu..’
Bài viêt cũng mô tả cá: ‘Cá chìa vôi giông như cá hanh nhưng lơn hơn, mình dày, bụng to, đầu nhỏ, toàn thân từ vây đến vẩy là một màu vàng óng ánh. Đặc biệt trên sống lưng cá có một cái vây dài cứng thon nhọn y hệt cái chìa vôi. Chiếc vây này chính là vũ khi tự vệ của cá…’

Theo sự phân loại của Danh Mục Thủy, Hải Sản của bộ Thủy Sản Việt Nam thì cá chìa vôi sông có tên khoa học là Proteracanthus sarissophorus hay Crenidens sarissophorus thuộc họ Cá Ephippidae (trong khi đó vncreatures.net xếp cá vào họ Sparidae).
Theo mô tả của ‘Sinh vật Rừng Việt Nam’ dùng mẫu cá đánh bắt tại Cần Đước: Thân cá có hình bầu dục, dẹp ngang, dài 11. 6 đến 14 cm. Miệng nhỏ, nằm dưới đầu mõm, mắt nằm ở nửa trên của mặt bên đầu. Cá có 2 lỗ mũi: lỗ mũi trước nằm ở đầu mõm và lỗ mũi sau là một vạch dài nằm ngay trước mắt. Hàm có rất nhiều răng. Thân và đầu đều phủ vẩy.
Vây lưng gồm 10-13 gai cứng, mập và chắc có 10-15 tia phân nhánh. Gai đầu tiên hướng về phía trước, gai thứ 6 mập, kéo dài có thể bằng 0.9 đến 1.1 lần chiều dài của thân cá
Mẫu cá bắt được tại sông Soài Rạp có thân màu vàng-nâu, mặt lưng đậm, mặt dưới nhạt; trên lưng có hai hàng đốm đậm; vây ngực trắng, các vây khác đen nhạt..
Theo Fishbase: Proteracanthus sarissophorus phân bố tại cac vùng biển Tây Thái Bình Dương, Mã Lai, Sumatra.. có thể dài đên 32.5 cm. Thân màu lục nhạt, bụng dươi trắng bạc. Vảy xậm nơi viền , tạo thành một lằn dọc theo thân.
Thịt cá chìa vôi ‘sông’ được đánh giá là rất ngon, được chế biến (tại Nhà Bè) thành các món như gỏi cá, cháo cá (nấu với gạo thơm và nước luộc đầu và ruột cá); bao tử cá được xem là một món ‘quý’…

Về phương diện dinh dưỡng, cá chìa vôi sông được xếp vào bộ cá Perciformes với rất nhiều loại cá khác nhau. Tuy nhiên nói chung có thể xem thịt cá chìa vôi sông là một nguồn cung cấp chất đạm tốt, ít chất béo, có nhiều các vitamins như niacin, B6 và khoáng chất như Calcium, Sắt.. giúp tạo hồng cầu và kích hoạt hệ đề kháng (miễn nhiễm). Cá cũng chứa một lượng acid béo Omega-3 đáng kể.
(100 gram phần ăn được chứa khoảng 110 calories; 20.3 g Chất đạm ; 1.8 g chất béo trong đó có 0.5 g loại Poly-unsaturated ; 46 mg Cholesterol. Các khoáng chất như Calcium (116 mg), Sắt (1mg), Potassium (280mg), Sodium (82mg).. Vitamins như B12 (1mcg), B6 (0.2mg), B1 (0.1mg).

Tài liệu sử dụng:

Animal Facts Files: Fish (John Dawes)
Smithsonian Marine Station: Chain Pipefish.
Harper & Row’s Complete Field Guide to North American WildLife: Eastern and Western Editions.
Chinese Herbal Medicine Materia Medica ( Dan Bensky & Andrew Gamble).
Từ Điển Đông Vật và Khoáng Vật dùng làm thuốc ở Việt Nam (Võ văn Chi)

Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/v%E1%BB%8B-thu%E1%BB%91c-t%E1%BB%AB-c%C3%A1-ch%C3%ACa-v%C3%B4i.9492/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s